Filtra per genere
- 220 - Washington can thiệp thế nào vào bầu cử Brazil 2026 ?
Hơn hai tuần nữa Brazil sẽ bỏ phiếu vòng hai bầu tổng thống, sau vòng đầu 04/10/2026 với kết quả bất ngờ là ứng cử viên cực hữu Flávio Bolsonaro vượt lên dẫn đầu, với 47% so với 45% của tổng thống mãn nhiệm cánh tả Lula da Silva. Khả năng Mỹ can thiệp bầu cử Brazil quy mô lớn trước thềm cuộc bỏ phiếu, cũng như những cáo buộc về can thiệp trước đó, đang trở thành tâm điểm của cuộc bầu cử, với kết quả ảnh hưởng đến cục diện địa chính trị toàn cầu.
Một báo cáo gần đây (*) của Cơ quan Tình báo Brazil (ABIN - Agência Brasileira de Inteligência) đã chỉ ra khả năng can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc bầu cử tại Brazil. Theo Reuters, sau cuộc gặp phái đoàn Pháp và Đức tại Brasilia, từ 9 đến 11/09, các quan chức cơ quan tình báo Brazil cho biết đã trao đổi với các đối tác về can thiệp từ phía Mỹ, có thể bao gồm nhiều hình thức, « từ việc sử dụng các biện pháp pháp lý để gây áp lực chính trị (lawfare) cho đến những hành động công khai ».
Tình báo Brazil cảnh báo
Các cuộc gặp này cho thấy mối lo ngại ngày càng tăng ở cả hai bờ Đại Tây Dương về những nỗ lực của chính quyền Trump trong việc ủng hộ các ứng cử viên có cùng tư tưởng MAGA. Các quan chức Pháp tham gia chuyến đi đến từ Viginum – cơ quan chuyên phát hiện thông tin sai lệch từ nước ngoài – và Arcom – cơ quan quản lý truyền thông và báo chí.
Các chuyên gia về truyền thông và chính trị tại Đại học Công giáo Giáo hoàng Rio de Janeiro (PUC-Rio), trong một bài phân tích trên The Conversation, 02/10/2026 (*), cho biết theo tài liệu mật này, « chính phủ Mỹ, trong nỗ lực kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc tại Mỹ Latinh, có thể đang tăng cường các biện pháp, từ áp lực ngoại giao cho đến tài trợ chiến dịch tranh cử và chi phối mạng xã hội ». Báo cáo này đã nhận được nhiều chú ý tại Mỹ vào cuối tháng 9/2026, khi các thượng nghị sĩ Dân chủ Mỹ chất vấn ngoại trưởng Marco Rubio về thái độ của tổng thống Donald Trump đối với cuộc bầu cử Brazil.
Báo Gazeta de Povo, một tờ báo có tuổi đời hơn thế kỉ, có uy tín hàng đầu tại Brazil, cho biết thêm về việc cơ quan an ninh liên bang Brazil được yêu cầu điều tra về các ủng hộ ngầm của Mỹ đối với phe đối lập, nhằm thúc đẩy các liên kết của phong trào cực hữu quốc tế với ứng cử viên Flávio Bolsonaro, con trai của cựu tổng thống Jair Bolsonaro, nhằm làm suy yếu chính sách của tổng thống mãn nhiệm cánh tả Brazil ủng hộ chủ nghĩa đa phương trong quan hệ quốc tế.
Nhiều người bỏ phiếu cho Bolsonaro Con « không nhận ra ý đồ thực sự của Mỹ » ?
Tường trình của thông tín viên Sarah Cozzolino từ Rio de Jeinero, hai ngày trước cuộc bỏ phiếu vòng 1, cho thấy không khí căng thẳng xung quanh vấn đề can thiệp bầu cử:
« "Brazil không phải là sân sau của bất kỳ ai",tổng thống Lula tuyên bố tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 22/9. Bài phát biểu mạnh mẽ đã củng cố niềm tin của Maria Prandini, 31 tuổi, dự định sẽ bỏ phiếu ủng hộ ông tái đắc cử.‘‘Ông Lula bảo vệ chủ quyền của chúng ta. Đây là lời đáp trả đối với xu hướng bầu ra các chính phủ phục tùngHoaKỳ tại Nam Mỹ."
Trong năm nay, tổng thống Donald Trump đã liệtmột sốtổ chức tội phạm của Brazil vào danh sách các nhóm khủng bố. Caio Henrique, một cư dân khu ổ chuột City of God, cảm thấy lo ngại về tương lai của nền dân chủ tại Brazil : "Đó chỉ là một chiêu bài khác để biện minh cho các cuộc tấn công vào châu Mỹ Latinh. Tuy nhiên, Brazil là một quốc gia có chủ quyền, và chỉ các thể chế của chúng ta mới có đủ khả năng đấu tranh chống lại tội phạm có tổ chức trong nước."
Vào năm 2025, ông Donald Trump đã áp đặt các biện pháp trừng phạt thương mại đối với Brazil liên quan đến vụ cựu tổng thống Jair Bolsonaro bị xét xử về âm mưu đảo chính. CôPatricia Bustamante cho rằng nhiềucử tri ủng hộ con trai ông Bolsonaro đã không nhận thức được ý đồ thực sự của Hoa Kỳ : ‘‘Họ không hiểu những gì Mỹ lấy đi từ các quốc gia khác,rằng họ không đến để giải cứu ai cả, mà chỉ là để khai thác và chiếm đoạt tài nguyên của chúng ta."
Theo ông Lula, với trữ lượng khoáng sản đất hiếm lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Brazil đã trở thành mục tiêu của tổng thống Mỹ ».
Dùng đe dọa tăng thuế để áp lực buộc thả Bolsonaro Cha
Trả lời RFI, chuyên gia về Brazil, nhà sử học Anaïs Flechet, giáo sư về lịch sử đương đại tại đại học Sciences Po Strasbourg, nhấn mạnh can thiệp bầu cử là « một điểm cực kỳ quan trọng », và « một trong những đặc điểm chính của cuộc bầu cử này » :
« Khi nhìn vào các ứng cử viên Bolsonaro và Lula, chúng ta thấy có cảm giác quen thuộc. Nhưng đồng thời cũng có một yếu tố rất mới. Đó là sức nặng của Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử này và việc bầu cử ở Brazil mang một chiều kích thực sự mang tầm toàn châu lục. Sức nặng của Hoa Kỳ gắn liền với những nỗ lực can thiệp,đã được ghi nhận rất rõ ràng bằng tài liệu, chứ không phải làtrítưởng tượng của những ai còn mắc kẹt trong tư duythờiChiến tranh Lạnh.
Kể từ năm ngoái, từ khi Donald Trump trở lại cầm quyền tại Mỹ, đã có một loạt hành động nhắm vào Brazil. Đầu tiên là việc tăng thuế quan với mức thuế lên tới 50% đối với các sản phẩm đến từ Brazil được ban hành vào mùa hè năm 2025, kèm theo một thông điệp mang tính chính trị rất cao từ Donald Trump.
Trongthông báogửi Brazil công bố các mức thuế trừng phạt này, ôngTrump đãgắn chúng với số phận của Jair Bolsonaro, vào thời điểm đó đang chờ bị xét xử vì âm mưu đảo chính.Thông điệp của Trump là: Đừng đụng đến Jair Bolsonaro, nếu không các người sẽ bị trừng phạt bằng mức thuế quan cực kỳ cao. Đó là giai đoạn đầu tiên của căng thẳng gay gắt giữa chính quyền Lula ở Brazil và chính quyền Trump. »
Coi tổ chức tội phạm Brazil là « khủng bố », mở đường cho can thiệp: Tạo lợi thế cho Bolsonaro Con
Chuyên gia Anaïs Flechet nhấn mạnh đến giai đoạn can thiệp thứ hai : « Giai đoạn tiếp theokhó khăn và căng thẳng hơn nhiều.Chúng ta thấy sự leo thang căng thẳng ngoại giao từ tháng 6 và đặc biệt là tháng 7 thông qua nhiều hình thức: đầu tiên là mức thuế quan mới (tăng thêm 25%) đối với hàng hóa Brazil sang Mỹ; tiếp đó là việc thu hồi thị thực của đại sứ Brazil tại Washington,một điều rất hiếmkhi xảy ra,và cuối cùng là việc xếp các nhóm buôn bán ma túy — như PCC hay Comando Vermelho ở Rio — vào danh sách các tổ chức khủng bố.»
Thông báo đưa PCC và Comando Vermelho vào danh sách các tổ chức « khủng bố » quốc tế, đã được ngoại trưởng Marco Rubio đưa ra vào ngày 28/05/2026, hai ngày sau chuyến thăm Nhà Trắng của Flávio Bolsonaro. Brazil phản đối quyết định pháp lý này, lo ngại nó có thể tạo tiền lệ cho can thiệp của Hoa Kỳ trên đất Brazil nhân danh chống khủng bố, theo nguyên tắc « ngoài lãnh thổ » của chính quyền Mỹ. Bên cạnh đó, quyết định này đặt vấn đề an ninh công cộng trở thành chủ đề trọng tâm của chiến dịch tranh cử, mang lại cho ứng cử viên cực hữu Flávio thế mạnh lớn trong vận động tranh cử.
Hơn nữa, Viện Kinh tế Quốc tế Peterson - PIIE, trụ sở tại Mỹ, một tổ chức tư vấn kinh tế độc lập, phi đảng phái và có uy tín cao, vào tháng 6 năm 2026 cho rằng quyết định này còn trở thành mối đe dọa tinh vi hơn, với các biện pháp trừng phạt có nguy cơ làm tê liệt hệ thống ngân hàng của Brazil (« The latest US squeeze on Brazil jeopardizes its financial autonomy »).Động thái gây sức ép mới nhất của Hoa Kỳ đối với Brazil đe dọa quyền tự chủ tài chính của nước này, đặc biệt là hệ thống thanh toán PIX.
Nguy cơ loại trừ hệ thống PIX, rất được lòng dân Brazil
Về hệ thống thanh toán PIX, cô Laura Erber, một công dân hai quốc tịch, Hà Lan và Brazil, một người quan sát chính trị Brazil lâu năm, nhận định :
« Theo tôi, PIX là một ví dụ thực sự điển hình vì hệ thống thanh toán nàyhoàn toàn miễn phí. Hệ thống này do Ngân hàng Trung ương Brazil phát triển và được triển khai dưới thời chính quyền Bolsonaro cha. Pix đã thành công vang dội. Hiệnnay, tôi tin rằng đại đa số người dân Brazil đều sử dụng PIX trong cuộc sống hàng ngày,từ các siêu thị cho đến những người bán hàng rong. PIX đã tạo điều kiện cho hàng triệu người không có thẻ ngân hàng tham gia vào nền kinh tế số.
Tuy nhiên, vấn đề đối với Washington là PIX cạnh tranh trực tiếp với Visa và Mastercard, cũng như các giải pháp thanh toán của Google, Apple và Meta,thông qua mạngWhatsApp. Chính vì vậy, cuộc điều tra thương mại mà chính quyền Trump khởi xướng nhắm vào Brazil vào năm 2025 cũng nhắm vào dịch vụ thanh toán điện tử này, coi đó là một phương tiện thanh toán không đángtin cậy và không công bằng. »
Thẩm phánTòa án Tối cao Moraes, thành trì của nền dân chủ...
Tòa án Tối cao Brazil có thể là mục tiêu tấn công hàng đầu của chính quyền Trump. Ít ngày trước bầu cử vòng 1, theo đài truyền hình GloboNews của Brazil, văn phòng lãnh đạo cơ quan công tố quốc gia Jorge Messias đã đệ đơn tố giác hình sự, để điều tra về các cáo buộc được báo Anh The Guardianđưa ra, về nghi án chính quyền Trump đang thúc đẩy chuyển hơn 175 triệu đô la từ quỹ nhân quyền trọng điểm của bộ Ngoại giao Mỹ sang một loạt các khoản tài trợ, trong đó có việc hỗ trợ chiến dịch chống lại Tòa án Tối cao Brazil. Một khoản tài trợ trị giá 1 triệu đô la, mang tên « Chống lại việc lạm dụng pháp lý và kiểm duyệt tại Brazil », sẽ hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự phản đối "sự lạm quyền" của Tòa án Tối cao Brazil.
Phong trào cực hữu của phe Bolsonaro coi Tòa án Tối cao Brazil, và đặc biệt là thẩm phán Alexandre de Moraes, người giám sát vụ xét xử cựu tổng thống Jair Bolsonaro, do vụ bạo loạn ngày 8/1/2023 tại Brasília, là đối thủ hàng đầu. Thẩm phán Alexandre de Moraes được coi là người bảo vệ sự liêm chính bầu cử, « người đã giữ vững nền dân chủ Brazil — thông qua các thể thức pháp lý — trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của ông Bolsonaro, kiên trì đấu tranh chống lại sự lạm quyền và nạn tin giả » (France Info, 02/09/2025). Nhà báo Jon Lee Anderson mô tả thẩm phán Moraes như một « nhà luật học quyết liệt » và « thường được coi là người quyền lực thứ hai tại Brazil », một nhân vật tự đặt mình vào trung tâm của cuộc chiến tranh giành quyền định hình thực tế chính trị hiện nay tại quốc gia Nam Mỹ.
... đối thủ số một của gia tộc Bolsonaro và phe Trump
« Một bên là Alexandre de Moraes cùng các đồng minh của ông. Bên kia là một liên minh quốc tế gồm những nhân vật có ảnh hưởng cánh hữu, bao gồm cựu tổng thống Bolsonaro, tỷ phú Elon Musk và, ngày càng rõ nét hơn, tổng thống Mỹ Donald Trump », Jon Lee Anderson, nhấn mạnh. Trả lời đài Pháp TV 5, nhà chính trị họcFrédéric Louault,Đại học Tự do Bruxelles, chuyên về châu Mỹ Latinh, nhận định về mối quan hệ giữa gia tộc Bolsonaro và tổng thống Trump :
« Donald Trump đóng vai trò nổi bật ở hậu trường cuộc bầu cử này, khi ông đã dứt khoát chọn phe,ủng hộ gia đình Bolsonaro. Trước đó ông từng hậu thuẫn Jair Bolsonaro khi ông này lên nắm quyền và lãnh đạo đất nước trong giai đoạn 2019–2023.Hiện nay,kết quả có lợi nhất cho chính sách của TrumptạichâuMỹ Latinh, vốn mang bản chất tân đế quốc,chính là chiến thắng của Flavio Bolsonaro. Đáng chú ý, một người con trai của Jair Bolsonaro hiện đang ở Hoa Kỳ với thị thực thường trú để tránh án tù tại Brazil. »
Đọc thêm : Một gia tộc mang tính chất « gần như mafia »(phần 2 trong bài)Eduardo Bolsonaro đang bị Tòa án Tối cao Brazil kết án 4 năm 2 tháng tù vì vận động chính quyền Trump áp đặt trừng phạt lên các thẩm phán Brazil. Hồi tháng 9, Eduardo Bolsonaro tuyên bố với Reuters về ý định vận động chính quyền Trump khôi phục các lệnh trừng phạt nhắm vào thẩm phán Tòa án Tối cao Brazil, Alexandre de Moraes.
***
Tháng 3/2026, chính quyền Trump đã khởi động sáng kiến « Lá chắn châu Mỹ » (Shield of the Americas), một liên minh an ninh và chính trị, quy tụ nhiều lực lượng cực hữu trong khu vực châu Mỹ Latinh, với 15 nước (cùng Mỹ, có Achentina, Bolivia, Chile, Colombia, Costa Rica, Cộng hòa Dominican, Ecuador, El Salvador, Guyana, Honduras, Panama, Paraguay, Peru và Trinidad and Tobago) (số liệu tháng 9/2026).
Brazil,một cường quốc của khu vực, chính là mắt xích quan trọng còn thiếu trong tham vọng tái chinh phục lục địa Nam Mỹ, theo chiến lược thường gọi là « Donroe » (từ ngữ chính thức là « Trump Corollary to the Monroe Doctrine »), tức học thuyết Monroe thế kỉ 19, được điều chỉnh theo quan điểm của Donald Trump, qua chiến lược an ninh quốc gia mới được xác lập hồi cuối năm ngoái. « Rõ ràng là nếu pheBolsonaro giành chiến thắng tạiBrazil, đây sẽ là một thắng lợi mang ý nghĩa to lớn đối vớiôngDonald Trump », theo nhà chính trị học Gaspard Estrada thuộc Trường Kinh tế Luân Đôn (LSE).
---
(*) Nhật báo lâu đời Brazil Folha ở S. Paulo, ngày 19/9, loan tin về một bản báo cáo mật có tiêu đề « Các mối đe dọa đối với quy trình bầu cử năm 2026 » đã chỉ ra « nguy cơ nghiêm trọng » về việc Hoa Kỳ can thiệp vào bầu cử của Brazil, được Cơ quan Tình báo Brazil (ABIN) gửi cuối tháng 8 tới Văn phòng tổng thống, Tòa án Bầu cử Tối cao (TSE) và bộ Tư pháp.
Thu, 08 Oct 2026 - 219 - Thủ tướng Andy Burnham công khai để ngỏ phương án đưa Anh tái gia nhập Liên Hiệp châu Âu
Ngày 29/09/2026, thủ tướng Anh Andy Burnham tới dự Đại hội thường niên của Đảng Lao động cầm quyền với một nghị trình bất ngờ : Công khai định hướng cho đảng Lao Động rằng họ sẽ lấy chủ đề quay trở lại Liên Hiệp Châu Âu (EU) làm khẩu hiệu tranh cử vào năm 2029, đảo ngược hướng đi cho tranh luận về Brexit dai dẳng trong các chính đảng Anh mười năm qua. Từ Luân Đôn, thông tín viên Nguyễn Giang tường trình:
Đâu là các điểm mới trong tuyên bố của ông Burnham so với những phát ngôn về Brexit và EU của các thủ tướng Anh từ 2016 tới nay?
TTV Nguyễn Giang : Tại Đại hội của Đảng Lao động Anh tuần này ở Liverpool, hôm 29/09, thủ tướng Andy Burnham đã tung ra "quả bom tấn” (bombshell) về lộ trình đảo ngược Brexit. Năm 2024, trong Cương lĩnh của đảng này có ba lằn ranh đỏ, không thể bước qua : Đó là không đưa Anh quay lại Thị trường chung (single market) của EU, không trở lại Liên minh thuế quan (customs union), và không chấp nhận tự do di chuyển (freedom of movement). Nhưng nay, ông Andy Burnham nói thẳng rằng Brexit “gây hại cho Anh nhiều hơn là đem lại lợi ích”. Ông mô tả rằng khi ra khỏi EU, Anh muốn kiểm soát biên giới tốt hơn, muốn tự chủ hơn để phát triển kinh tế, nhưng cả hai mục tiêu đó đều không đạt được, nên phải tìm giải pháp mới.
Từ 10 năm qua, các đảng khác và nhiều đời thủ tướng Anh cũng nói về Brexit, vậy những gì ông Burnham nói có thực sự là mới mẻ?
Chính trị Anh lâu nay chia làm hai phái. Phe ủng hộ Brexit, chống lại EU thì luôn nói là “hãy cố làm cho Brexit hoạt động hiệu quả” (make Brexit work). Các khó khăn kinh tế bị họ đổ lỗi cho chính phủ “làm mất cơ hội mà Brexit đem lại”. Những người hoàn toàn chống Brexit như một lãnh đạo của đảng Reform UK (cánh hữu bài ngoại), ông Richard Tice thì cho rằng tranh luận về Brexit là màn hỏa mù mà ông Burnham đưa ra, vì đằng nào thì với quyền lực trong tay, ông Burnham và đảng Lao động đã và đang đảo ngược Brexit bằng “biện pháp cửa sau”, hàm ý là thiếu minh bạch khi ký với EU nhiều thỏa thuận thắt chặt giao thương, trao đổi giáo dục, hợp tác khoa học, năng lượng.
Phe phản đối Brexit, ủng hộ EU cũng chỉ dám ước mơ về việc trở lại EU “trong mấy chục năm tới”, hay “trong thế hệ chúng ta”, tức là rất chung chung. Các đảng Tự do Dân chủ (LibDem) và Đảng Xanh muốn Anh quay lại liên minh thuế quan, hay cùng lắm thì vào thị trường chung EU nhưng không dám nghĩ tới việc đảo ngược hoàn toàn Brexit. Ông Burnham là người đầu tiên táo bạo nói thẳng rằng nước Anh cần chấm dứt tranh cãi mãi mãi về Brexit, mà cần đưa lên nghị trình rõ ràng về việc quay lại EU trong 2-3 năm tới.
Vậy lộ trình đó là như thế nào và lập luận của ông Burnham là gì?
Thủ tướng Burnham, trong các phát biểu và khi trả lời phỏng vấn truyền hình bên lề Đại hội Đảng Lao động ở Liverpool, đã nói rất thẳng rằng cứ tranh cãi đúng sai về Brexit thì nước Anh còn “trôi nổi vô phương hướng từ nay đến hết thế kỷ 21 này”. Theo ông, cần phải chọn các phương án, như gia nhập Liên minh thuế quan (bước thấp nhất), hoặc vào Thị trường chung EU (bước tầm trung), và nếu được thì cần xem xét cả việc đưa Anh quay trở lại EU toàn bộ. Lập luận của ông là Brexit gây hại nhiều hơn là lợi cho nước Anh và nếu cần thì Đảng Lao động đề xuất tổ chức trưng cầu dân ý lại về việc vào EU hay ở ngoài.
Liên Hiệp Châu Âu đã có phản ứng ra sao về phát biểu này của thủ tướng Anh ?
Lãnh đạo Pháp và Tây Ban Nha đã hoan nghênh đề xuất để Anh quay lại EU. Tất nhiên, như lời tổng thống Emmanuel Macron nói thêm sau đó, Anh không thể chọn cách vào lại EU theo quy chế riêng. Còn ai cũng biết là để quay lại EU thì đơn của nước Anh cần được tất cả các nước thành viên EU phê chuẩn, điều này không dễ và không nhanh chóng.
Tác động của phát biểu và nghị trình tái gia nhập EU mà ông Burnham đưa ra là như thế nào ở Anh? Dư luận nghĩ gì?
Việc chấm dứt với tính nửa vời của tranh luận Brexit, kể cả ở phe tả như Đảng Lao động là điều mới mẻ nhất và có thể có tác động tới quan hệ Anh-EU từ sau hội nghị thượng đỉnh song phương cuối năm 2026. Xin nhắc rằng người tiền nhiệm của ông Burnham, cùng đảng Lao động, là Keir Starmer, muốn đàm phán tăng cường liên kết với EU trong nhiều lĩnh vực, nhưng vì Anh khi đó giữ các lằn ranh đỏ, như không vào lại liên minh thuế quan, sẽ đứng ngoài thị trường chung, nên đàm phán không có kết quả. Nay thì với cam kết sẵn sàng quay lại EU toàn bộ, toàn phần, người ta tin rằng ông Burnham sẽ dễ dàng tái khởi động việc thảo luận một số cơ chế với EU. Bởi EU sẽ không muốn một nước lớn như Anh “chân trong chân ngoài”. Xin nhắc là EU có quy chế cho các nước nhỏ hơn Anh, ví dụ Na Uy, Liechtenstein hay Thụy Sĩ tham gia thị trường chung EU mà không cần là thành viên của khối.
Dư luận chung ở Anh đã thay đổi khá nhiều về Brexit. Thăm dò dư luận mới ngày 30/09/2026 của YouGov cho thấy việc liên kết trở lại với EU chặt chẽ hơn nhưng không tái gia nhập thị trường chung châu Âu được tới 73% dân Anh ủng hộ và 15% phản đối. Còn về việc tái gia nhập EU thì số ủng hộ là 59%, số phản đối là 32%.
Trên các trang tin tiếng Anh, chỉ một bài viết về phát biểu của ông Burnham dã có 4-5 nghìn lời bình luận, chứng tỏ sự quan tâm rất cao. Những người ủng hộ thì vui, nhưng cũng có người lo ngại là quá trình tái gia nhập EU sẽ kéo dài và tốn kém. Một số ý kiến quan tâm đến điều lãnh đạo EU gợi ý cho Canada trở thành "thành viên liên kết" (associate member) của EU và muốn biết quy chế đó là gì, có thể áp dụng cho Vương quốc Anh hay là không.
Phe phản đối vẫn có, nhưng đa số nhấn mạnh một đảng chính trị không thể xóa bỏ kết quả trưng cầu dân ý dân chủ 10 năm trước, chọn Brexit của đa số cử tri Anh. Điều đáng chú ý là có các trang Facebook của người Anh sống ở Pháp, ở Tây Ban Nha phàn nàn rằng hồi trưng cầu dân ý lần trước họ không được tham gia – công dân Anh định cư ở nước ngoài tạm bị mất quyền cử tri ở quê nhà – và họ hỏi là nếu có bỏ phiếu đảo ngược Brexit thì họ có được tham gia hay không. Vì họ muốn có quyền lợi.
Cuối cùng, đề xuất tái gia nhập EU của ông Burnham nằm ở đâu trong những cải cách thiên tả của ông?
Có vẻ như chính phủ của ông Burnham nay nhận thấy việc quay lại EU là cách duy nhất giúp Anh chống đỡ được sóng gió thương mại và các đổ vỡ địa chính trị trên toàn cầu. Tuy không có chính sách viết hẳn ra, nhưng qua phát biểu của bộ trưởng Thương Mại James Reynolds hôm đầu tuần, ta có thể thấy chính phủ Anh coi Mỹ và Trung Quốc là các đối thủ. Tức là Hoa Kỳ thời Trump không còn là đồng minh kinh tế với Anh nữa, theo quan điểm này. Và ông Reynolds nói Anh phải có mặt trong nghị trình tạo ra thương hiệu Made in Europe, để giúp cả Liên Hiệp Châu Âu và Anh bảo vệ được quyền lợi trước Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Về đối nội lẫn đối ngoại, đảng Lao động dưới sự lãnh đạo của ông Burnham đã nghiêng hẳn về phía tả, ví dụ như quốc hữu hóa một số dịch vụ công. Chính phủ Anh cũng ra lệnh trừng phạt người định cư Do Thái ở Israel, mở cửa ưu tiên đón người tị nạn Palestine. Đây là những điều ngược hoàn toàn với chính sách của Hoa Kỳ ở Trung Đông.
Thêm vào đó, các lãnh đạo đảng Lao động Anh từ năm 2025 cũng đã nêu ra lo ngại về làn sóng cực hữu dâng lên ở châu Âu, được chính quyền Trump ủng hộ từ xa. Các nhân vật quan trọng của đảng này như thị trưởng Luân Đôn Sadiq Khan, hay cựu thủ tướng Gordon Brown đã ủng hộ việc quay lại EU như cách làm giảm đi nguy cơ Anh bị chủ nghĩa dân tộc sau Brexit dâng cao, gây ra chia rẽ nội bộ giữa các nhóm dân tộc, vùng miền ở Anh. Vì thế, việc liên kết với phe tả, phe trung tả hay trung hữu ở châu Âu để chống lại làn sóng cực hữu còn có ý nghĩa sâu xa hơn với đảng Lao động Anh về chính trị nội bộ, chứ không chỉ là chuyện kinh tế.
Thu, 01 Oct 2026 - 218 - Trí tuệ nhân tạo: Nguy cơ tác nhân AI vượt vòng kiểm soát buộc Mỹ, Trung đối thoại tìm thỏa hiệp
Hàng loạt vụ tác nhân AI thoát khỏi kiểm soát của công ty chủ quản AI trong hai tháng gần đây, đặc biệt là vụ Hugging Face, gây chấn động trước hết tại Mỹ. Nhiều đại tập đoàn AI đã kêu gọi chính quyền Mỹ sớm có biện pháp kiểm soát an toàn AI, nhưng tổng thống Donald Trump gạt phăng với lý do cuộc đua tranh công nghệ. Tuy vây, Washington lần đầu tiên chính thức đưa các đối thoại với Bắc Kinh về kiểm soát nguy cơ AI vào chương trình nghị sự.
Biến cố Hugging Face: Các tác nhân AI phối hợp hành động
Đầu tháng 7/2026, trong vài ngày, hàng trăm tác nhân AI thuộc một số mô hình tân tiến của OpenAI đang trong giai đoạn thử nghiệm, trong môi trường cô lập với bên ngoài, đã tìm cách thoát ra được bên ngoài, xâm nhập vào các cơ sở của nền tảng Hugging Face. Hơn 17.000 hành động can thiệp đã được thực hiện, hoàn toàn không có bàn tay của con người (báo cáo của Hugging Face). Ngay sau sự việc được phát hiện, cuối tháng 7/2026, hơn 1.000 nhân viên của bốn tập đoàn OpenAI, Anthropic, Google DeepMind và Meta, trong đó có hai lãnh đạo OpenAI và Anthropic, đã công bố một thư ngỏ kêu gọi thế giới hành dộng phối hợp giảm tốc phát triển công nghệ AI, nhằm kịp thời đối phó với nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng khi các công nghệ tiên tiến (frontier models) vượt tầm kiểm soát.
Hiểm họa do sự phát triển đột biến của AI gây ra với nhân loại đã liên tục được giới chuyên gia cảnh báo từ lâu nay. Tuy nhiên biến cố Hugging Face là một sự kiện chưa từng có. Cuộc xâm nhập của các tác nhân AI này không gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng đây là lần đầu tiên các tác nhân IA chứng tỏ khả năng tự tổ chức phối hợp hành động quy mô lớn, vượt khỏi hệ thống kiểm soát.
Chuyên gia hàng đầu về AI người Canada, Yoshua Bengio, giải thưởng Turing 2018 (thường được coi là Nobel tin học), nhà sáng lậpViện Trí tuệ nhân tạo Milan, nhấn mạnh đến tính chất vô cùng nguy hiểm của tác nhân AI hành động tự chủ :
« Các tác nhân AIthậm chí còntạoracáclý dođể làm những việcmà chúng biết là không nên làm, giống hệt như cách con người vẫn làm. Đó chính là điều chúng ta cần thực sự chú ý. Đa số mọi người hiện tại vẫn coi AI chỉ là những cỗ máy hay chương trình do các kỹ sư con người viết ra, nhưng thực tế chúng ta đã vượt xa giai đoạn đó rồi. Chúng ta đang đối mặt với các hệ thống AI có khả năng tự chủ, không cần đến con người. Để đạt được những mục tiêu mà chúng ta đặt ra, chúng có thể thực hiện đủ loại hành động có thể thực sự nguy hiểm. Nếu để tình trạng này tiếp diễn, và nếu các hệ thống này ngày càng trở nên thông minh và tự chủ hơn nữa, hậu quả có thể sẽ vô cùng thảm khốc. Tuy nhiên, đó lại chính là hướng đi hiện nay. »
Từ hơn hai tháng nay, hàng loạt vụ tác nhân AI hành động tự tung tự tác được ghi nhận. Viện An ninh Trí tuệ nhân tạo Anh quốc AISI, trong cuộc thử nghiệm cuối tháng 7, đầu tháng 8, đã phát hiện được 10 trường hợp tác nhân AI can thiệp mạng Internet mà không được phép, chiếm gần 10% số thử nghiệm, trong đó đại đa số xuất phát từ các mô hình của Anthropic. Xét về quy mô và tầm mức, vụ Hugging Face là ghê gớm nhất.
Áp lực gia tăng trong nội bộ nước Mỹ …
Về các sự cố AI hành động tự tung tự tác nói trên, trong giới chuyên gia có nhiều quan điểm. Có nhiều người cho đây là thủ đoạn của các tập đoàn công nghệ Mỹ nhằm khôn khéo quảng bá hình ảnh (Racha Chatila, giáo sư danh dự về AI và đạo đức công nghệ ở Đại học Sorbonne), đồng thời gây áp lực với Trung Quốc. Giáo sư Laurence Devillers, chuyên về các vấn đề đạo lý với AI, một mặt chỉ trích việc thổi phồng các nguy cơ của AI dến mức hoang tưởng khi nói đến sự tuyệt diệt của nhân loại, mà không dựa trên cơ sở cụ thể nào, nhưng đồng ý về hiểm họa AI vượt tầm kiểm soát là có thực (trả lời Radio France).
Áp lực gia tăng lên chính quyền Trump. Giữa tháng 9/2026, ba tập đoàn lớn trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo tại Hoa Kỳ, Open AI, Anthropic và Google DeepMind thúc đẩy thành lập một cơ quan độc lập với nhà nước, giám sát để ngăn ngừa những rủi ro liên quan đến công nghệ này, tương tự như Cơ quan Quản lý Tài chính Hoa Kỳ (FINRA). Ngày 18/09, thống đốc bang California Gavin Newsom ban hành sắc lệnh thúc đẩy các tập đoàn phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo tăng cường các hàng rào an ninh đề phòng AI « vượt khỏi tầm kiểm soát của con người »với công cụ mới mang tên kill switch, tứcmột cơ chế ngăn chặn khẩn cấp.
Murielle Popa-Fabre, chuyên gia về quản trị AI (bài Comment réguler l’IA sans reculer ? Radio France, 17/09/2026) đánh giá cao hành động phối hợp của các tập đoàn AI hàng đầu vào thời điểm sắp diễn ra thượng đỉnh Mỹ - Trung và hội nghị quốc tế :
« Thời điểmmàcác thông báođược các công ty AIđưa ra rất đáng chú ý, ngay trước cuộc gặp Tập Cận Bình- DonaldTrump, cũng như một hội nghị quan trọng của Liên Hiệp Quốc vào tuần tới, nơi mà công tác xây dựng cơ chế quản trị AI đã được triển khai từ lâu. Vấn đề này bao gồm hai khía cạnh. Thứ nhất là nhận thức ngày càng rõ rằng mọi hành động cần phải được thực hiện ở cấp độ quốc tế. Và thứ hai là các giải pháp cụ thể đang được đề xuất, đáng chú ý là từ phía công ty Anthropic, như để các bên thứ ba đáng tin cậy (un tiers de confiance) đánh giá các mô hình AI. Bất kể lý do ẩn sau những hành động này là gì, đây vẫn là một bước tiến rất quan trọng. Bởi vì đề xuất này làm nổi bật những vấn đề then chốt liên quan đến hệ thống kiểm thử - giám sát, tham gia của bên thứ ba đáng tin cậy, và cho thấy những thách thức rộng lớn hơn xoay quanh công tác quản trị AI. »
Đọc thêm : Vì sao OpenAI và Anthropic muốn làm chậm cuộc đua Trí tuệ Nhân tạo ?Tại phiên họp về AI của Hội đồng Bảo an, ngày 23/09/2026 (một ngày trước thượng đỉnh Mỹ - Trung), theo sáng kiến của Pháp, lãnh đạo các công ty hàng đầu trí tuệ nhân tạo, OpenAI, Anthropic và Hugging Face đã kêu gọi tăng cường hợp tác quốc tế để kiểm soát những rủi ro. Trong lúc tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 22/09 bác bỏ ý tưởng về cơ chế giám sát toàn cầu, đại sứ Trung Quốc muốn đặt toàn bộ cơ chế giám sát dưới sự bảo trợ của LHQ. Theo AFP, chủ tịch - tổng giám đốc Anthropic Dario Amodei lần đầu tiên cam kết Anthropic « đơn phương làm chậm lại tốc độ phát triển AI » để đảm bảo mọi mô hình mới đều « thực sự an toàn ».
… Washington thúc đẩy đối thoại chính thức với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnh
Vấn đề đối thoại về an toàn AI rút cục đã được chính phủ Mỹ chính thức đưa vào đề xuất với Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent, người phụ trách đàm phán chính, đã đề xuất về cơ chế thông báo về an toàn AI (safety notifications)trong các cuộc thảo luận với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnh (24/09). Cụ thể là xây dựng thảo luận về các mối đe dọa chung, bao gồm cả việc thông báo về các sự cố liên quan đến AI có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mỗi bên.
Ông Sun Chenghao, nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế, thuộc Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh), cho biết chương trình nghị sự có thể tập trung vào các rủi ro AI có khả năng gây hại cho cả hai nước, chẳng hạn như các cuộc tấn công mạng sử dụng AI, việc lạm dụng AI vào mục đích sinh học, sự cố nghiêm trọng ở các mô hình AI lớn hoặc tình trạng mất quyền kiểm soát của con người (AP).
Quân sự : AI ngày càng trở thành chủ chốt, nguy cơ đại thảm họa gia tăng
Bộ trưởng An ninh Quốc gia Trung Quốc Trần Nhất Tân (Chen Yixin), trong một bài viết trên báo Trung Quốc hồi tuần trước, nhấn mạnh AI đang làm thay đổi cơ bản cách thức tiến hành chiến tranh, « từ vai trò hỗ trợ trên chiến trường sang vai trò chủ chốt ». Theo Reuters, hai tác giả Melanie Sisson, nghiên cứu viên cao cấp tại viện nghiên cứu Brookings, và Jiang Tianjiao, phó giáo sư tại Đại học Phục Đán (Fudan), đã tham gia vào cuộc đối thoại về trí tuệ nhân tạo (AI) và an ninh quốc gia giữa Mỹ và Trung Quốc do Brookings và Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế của Đại học Thanh Hoa tổ chức từ năm 2019, đặc biệt nhấn mạnh đến việc cần tìm phương thức để hạn chế các quyết định quân sự do máy móc đưa ra (machine-made military decisions), và thiết lập các giao thức liên lạc trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân (set communication protocols) để phòng ngừa công nghệ AI hoạt động ngoài dự kiến.
Trả lời đài France Info, chuyên gia về Trung Quốc đương đại Emmanuel Véron ghi nhận bước tiến trong đối thoại Mỹ - Trung trong bối cảnh cạnh tranh ngày một quyết liệt :
« Tôi cho rằng cần phải nhấn mạnh lại rằng trí tuệ nhân tạo (AI) là nền tảng cho các vấn đề về quyền lực, và theo một nghĩa nào đó là cơ sở cho sự thống trị toàn cầu trong tương lai. Trong bối cảnh này, cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều không chọn cách dừng lại, giảm tốc hay từ bỏ bất kỳ lĩnh vực nào liên quan đến đổi mới và phát triển AI. Và nếu một bên không chịu lùi bước thì bên kia cũng sẽ không làm vậy. Chúng ta đang bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh dài hơi.
Tuy nhiên, một tín hiệu đã được phát đi: ‘‘Hãy nhìn xem, chúng tôi đang thảo luận về khả năng quản lý những bước phát triển này.’’ Đó chính là mấu chốt của vấn đề xác định phạm vi cho bất kỳ khuôn khổ hợp tác tiềm năng nào giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đối với các bước tiến của AI, đặc biệt là các vấn đề then chốt như kiểm soát AI để ngăn chặn nó tự ý nắm quyền điều hành một nhà nước, kiểm soát hệ thống răn đe hạt nhân, hay thậm chí là chi phối các mảng lớn của xã hội toàn cầu đi ngược với mong muốn của chính quyền một nước hoặc của chính nhân loại. Rõ ràng là một cuộc đối thoại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang diễn ra, cho thấy cả hai bên đều có quan ngại về những bước tiến này. »
Cạnh tranh AI: Hai lập trường đối nghịch Mỹ, Trung
Đông đảo giới quan sát dè dặt về khả năng Mỹ, Trung hướng đến xác lập được một số đồng thuận trong lĩnh vực nhạy cảm này trong bối cảnh lập trường của hai bên về chiến lược AI là hết sức đối nghịch. Đối lại liên minh AI Pax Silica do Hoa Kỳ tổ chức, tập hợp trước hết các nước phương Tây, ra mắt từ cuối năm ngoái, tháng 7/2026, Bắc Kinh thành lập Tổ chức Hợp tác Trí tuệ Nhân tạo Thế giới (WAICO), với chủ trương thu hút các quốc gia thuộc khối Nam bán cầu (Global South). Định chếWAICO gồm29 nước, chủ yếu từ Nam bán cầu, được kỳ vọng mang lại cho các nước thành viên các đào tạo, tiếp cận công nghệ, tiếng nói trong quản trị AI.
Về các rủi ro do AI, chính quyền Mỹ hiện đặt cược vào các công ty tư nhân, xây dựng các quy trình kiểm tra an toàn tự nguyện, phát triển dựa vào các « mã nguồn đóng », trong lúc Trung Quốc đặt mục tiêu trên hết là ổn định chính trị, nhà nước tập trung kiểm soát, dựa trên « các mã nguồn mở ». Mỹ lo ngại việc phổ biến rộng rãi chính sách mã nguồn mở có thể tạo điều kiện cho công nghệ AI dễ dàng lọt vào tay các thế lực bất hảo.
***
Hiểm họa AI khôn lường: Những cường quốc bậc trung không bó tay
Trong bối cảnh AI đang được cả Mỹ và Trung Quốc tập trung đầu tư để phát triển với mục tiêu rất khác nhau, viễn cảnh các tác nhân AI thuộc các công nghệ tân tiến nhất lọt khỏi tầm kiểm soát đang trở thành hiện thực nhãn tiền, nhiều nỗ lực trong cộng đồng quốc tế đang thúc đẩy các cơ chế hợp tác liên quốc gia khác hướng đến công nghệ Trí tuệ nhân tạo an toàn đặt dưới sự kiểm soát của con người, không bị các thế lực độc tài thao túng. Chuyên gia Yoshua Bengio nhận định :
« Ngay cả Alan Turing – một người tiên phong của ngành khoa học máy tính – cũng từng viết về điều này từ năm 1951. Ông nhận định rằng nếu máy tính trở nên thông minh hơn con người, chúng ta sẽ gặp nguy cơ diệt vong. Sự thống trị này có thể thông qua quyền lực kinh tế, quyền lực quân sự, hoặc bằng việc chi phối người dân, dư luận, v.v. Có vô số kịch bản mà công nghệ này có thể trở thành một công cụ thống trị.
Cộng đồng quốc tế cần thấu hiểu sức mạnh ghê gớm mà người ta đang tạo ra. Một sức mạnh như vậy đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ. Cho dù có một lộ trình khả thi để tạo ra các hệ thống AI không có tính nguy hiểm tiềm tàng, nhưng đó lại không phải là hướng đi đang được tiến hành hiện nay. Chúng ta cần nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng của hiểm họa này. Vì vậy cần phải có một nỗ lực mang tính đa phương. Những nỗ lực hiện tại của Canada và các quốc gia khác nhằm xây dựng các liên minh kinh tế và địa chính trị vững chắc hơn, chính vì vậy càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trước sự trỗi dậy ghê gớm của AI. » (Mọi người cần hiểu mức độ nguy hiểm của AI, France Info, ngày 20/09/2026).
Thế giới không thể khoanh tay chờ đợi cuộc mặc cả giữa hai siêu cường.Chuyên gia Yoshua Bengio, vừa được hai chính phủ Đức và Canada cam kết tài trợ 300 triệu đô la, cũng là nhà điều hành doanh nghiệp IA LoiZéro, có chủ trương phát triển một công nghệ IA coi an toàn là nền tảng (safe-by-design), một công nghệ AI có thể, về lâu dài, đóng vai trò như công cụ giám sát và kiềm chế các hành vi lệch lạc của những tác nhân IA « tự trị » hùng mạnh đang được các công ty tư nhân tập trung phát triển.
Thu, 24 Sep 2026 - 217 - Houthi, Hormuz và Ukraina : Một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu mới có xảy ra ?
Cùng với cuộc chiến tranh Ukraina, eo biển Hormuz bị phong tỏa và đường ống dẫn Đông – Tây của Ả Rập Xê Út bị drone bắn phá, việc phe nổi dậy Houthi chiếm giữ nhiều vị trí chiến lược tại eo biển Bab El Mandeb đang làm dấy lên nỗi lo xảy ra một cú sốc năng lượng mới trên thế giới. Phe Houthi có sẽ là tia lửa châm ngòi khủng hoảng kinh tế toàn cầu ?
Nằm ở phía nam bán đảo Ả Rập, giữa Yemen, Djibouti và Erithrea, eo biển Bab el Mandeb, dài 50 km và rộng khoảng 32 km, nối Hồng Hải với Ấn Độ Dương, cửa ngõ đến kênh đào Suez, một tuyến đường tắt hàng hải chính yếu nối châu Á và châu Âu.
Trong điều kiện bình thường, gần 20 ngàn tầu thuyền đi qua tuyến đường này mỗi năm, tương đương với khoảng 10-15% thương mại toàn cầu. Đối với châu Âu, khoảng 40% thương mại với Trung Quốc phụ thuộc vào tuyến đường vận tải qua Hồng Hải và Bab el Mandeb. Hành lang đường biển này, tuy không có quy mô như eo biển Hormuz, eo biển Bab el Mandeb còn là nơi trung chuyển của khoảng 12% lượng cung dầu hỏa thế giới và gần 8% lượng khí tự nhiên hóa lỏng.
Ngay sau khi phe Houthi tuyên bố chiếm được các đảo chiến lược nằm ở eo biển Bab el Mandeb và thông báo của Ả Rập Xê Út đóng đường ống dẫn dầu Đông – Tây sau một cuộc tấn công bằng drone, giá dầu Brent tham chiếu đã vượt ngưỡng 100 đô la/thùng và tiến gần đến mức 110 đô la, khiến giá xăng dầu tiêu thụ tại nhiều nơi từ châu Á, đến châu Phi, châu Âu hay tại Mỹ cũng tăng cao.
Ả Rập Xê Út : Ngân hàng trung ương dầu hỏa
Thierry Bros, giáo sư tại trường Khoa học Chính trị Paris, chuyên gia cao cấp về Năng lượng tại Energy Delta Institute, trả lời phỏng vấn trang Atlantico lưu ý thị trường dầu hỏa thế giới trước khi có xung đột với Iran vẫn có một mức độ linh hoạt nhất định. Năm 2025, thị trường trong trạng thái dư cung tương đối, do việc Ả Rập Xê Út, quốc gia sản xuất dầu hỏa duy nhất có khả năng duy trì một công suất khai thác dự phòng đáng kể, khi nguồn cung toàn cầu gặp trục trặc, vẫn có thể tăng sản lượng để bù đắp phần nào.
Ngoài ra, Ả Rập Xê Út đã thực hiện những khoản đầu tư được cho là « vô ích » trong thời bình, khi cho phát triển đường ống Đông – Tây, nối vùng Vịnh với cảng Yanbu ở Hồng Hải. Từ khi Hormuz bị đóng, đường ống dài khoảng 1.200 km này đã cho phép Ả Rập Xê Út đưa khoảng bốn triệu thùng dầu mỗi ngày ra thị trường thế giới. Nếu Bab el Mandeb bị phong tỏa, đường ống dẫn này có nguy cơ trở nên « vô dụng ». Việc Riyad thông báo đóng đường ống dẫn này sau vụ drone tấn công càng khiến áp lực lên giá dầu tăng cao.
Trên kênh truyền hình quốc tế France 24, vị chuyên gia về năng lượng giải thích :
« Khi eo biển Hormuz bị phong tỏa, hơn 20 triệu thùng dầu và 20% khí hóa lỏng đã biến mất khỏi thị trường mỗi ngày, gây ra một cuộc khủng hoảng khí đốt nghiêm trọng tại châu Âu. Tuy nhiên, Ả Rập Xê Út, được coi là ngân hàng dầu hỏa trung tâm thế giới, đã có những giải pháp thay thế, và một trong số các biện pháp đó là cung cấp bốn triệu thùng dầu mỗi ngày thông qua đường ống dẫn Đông – Tây, giúp giải quyết phần lớn vấn đề eo biển Hormuz.
Vì vậy, trên thực tế, từ 20 triệu thùng mỗi ngày, chúng ta đã giảm vấn đề xuống chỉ còn, nếu tôi có thể nói như vậy, 9 triệu thùng mỗi ngày, vì Trung Quốc cũng đã giảm nhu cầu nhập khẩu. Ngày nay, nếu đường ống dẫn dầu bị đóng cửa, hoặc nếu eo biển bị đóng cửa – về cơ bản là giống nhau – chúng ta sẽ lại thiếu hụt 14 triệu thùng dầu mỗi ngày trong một thế giới tiêu thụ khoảng 100 triệu thùng mỗi ngày, có nghĩa là 14%, một con số khổng lồ. »
Bab el Mandeb, chốt chặn chiến lược thứ hai của Iran
Trong bối cảnh này, theo giới quan sát, nếu Hormuz và Bab el Mandeb bị đóng hoàn toàn, giá dầu có thể tăng vọt đến mức đe dọa nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, theo quan điểm của Thierry Bros, chiến lược của Iran và phe Houthi không nhất thiết nhằm phá hủy hoàn toàn hệ thống kinh tế toàn cầu, mà là đẩy giá dầu lên cao đến mức Washington buộc phải đàm phán.
Thời điểm tung đòn chiến lược này cũng không phải ngẫu nhiên. Donald Trump đang đối mặt với những khó khăn trong cuộc bầu cử giữa kỳ. Iran hiểu rõ rằng dầu mỏ là « vũ khí kinh tế » mạnh nhất mà họ còn nắm giữ. Do vậy, eo biển Bab el Mandeb được coi là « vũ khí nguyên tử » thứ hai của Teheran trong cuộc đối đầu với Washington.
Trả lời France 24, chuyên gia Thierry Bros giải thích tiếp : « Iran và các đồng minh của họ, trong trường hợp này là phe nổi dậy Houthi và cả những kẻ đã đánh bom đường ống dẫn dầu, mà tôi nghĩ là từ Irak, đang cố gắng đẩy giá dầu lên cao vì họ biết phương Tây chúng ta không thể sống thiếu dầu mỏ, và nếu giá dầu tăng quá cao, Trump sẽ buộc phải tìm ra giải pháp cho cuộc chiến.
Thực tế, chúng ta đang trong một cuộc chạy đua với thời gian. Một mặt, ông Trump đang cố gắng lật đổ chế độ Iran bằng cách ngăn chận dòng chảy dầu mỏ và do đó là doanh thu từ dầu mỏ, khiến Iran có ít tiền, và có thể không còn khả năng trả lương cho quân đội. Vì vậy, khi chính quyền không còn tiền trả lương cho quân đội, không gì chắc chắn là họ sẽ bắn vào người dân của họ.
Mặt khác, Iran đang cố gắng bằng mọi cách đẩy giá dầu lên cao. Cách tốt nhất là tấn công Ả Rập Xê Út, vì vương quốc này là 'ngân hàng trung ương' của dầu mỏ, là một trong những nhà sản xuất dầu lớn nhất, một trong những nhà xuất khẩu dầu lớn nhất. »
Giá dầu tăng, lỗi ở Ukraina ?
Việc sử dụng phe Houthi để gây sức ép tại Bab el Mandeb được xem như là một quân bài chiến lược nhằm tạo thêm đòn bẩy trong đàm phán. Dù vậy, trong cuộc đọ sức này, cả Mỹ và Trung Quốc đều không có lợi ích trong việc đẩy kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Điều này giải thích vì sao Trung Quốc đã giảm nhập khẩu đến 5 triệu thùng dầu/ngày, bởi vì Bắc Kinh không muốn gây ra một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Đây chính là yếu tố hạn chế nguy cơ leo thang quá mức giữa các bên tham chiến.
Theo AP, giá dầu diesel tại Mỹ hôm thứ Hai 14/09 đã chạm mức kỷ lục hơn 6 đô la/gallon, tăng gần 66% so với thời điểm đầu cuộc chiến Iran. Trong thế khó này, nguyên thủ Mỹ đã đổ trách nhiệm cho đồng cấp Ukraina và yêu cầu Volodymyr Zelensky ngừng không kích các nhà máy lọc dầu của Nga, vì theo ông, đây chính là nguồn cội khiến giá dầu tăng cao.
Về điểm này, ông Jean-Louis Schilansky, cựu chủ tịch UFIP (Liên đoàn Công nghiệp Dầu khí Pháp) trên kênh truyền hình Franceinfo phần nào nhìn nhận các tác động của cuộc chiến Ukraina đối với nguồn cung nhiên liệu : « Quả thật, các cuộc tấn công của Ukraina vào các nhà máy lọc dầu của Nga từ nhiều tháng qua đã phần nào làm giảm sản lượng dầu diesel của Nga, chủ yếu xuất khẩu sang Ấn Độ và các nước châu Á khác, và do vậy, đã góp phần làm gia tăng căng thẳng trên thị trường dầu diesel quốc tế ».
Châu Âu, bên thiệt lớn nhất
Chỉ có điều, trong cuộc đọ sức này, ngoài Ả Rập Xê Út là nạn nhân liên đới, Châu Âu là bên thua cuộc lớn nhất và có nguy cơ đối mặt với khủng hoảng năng lượng nhiều hơn Mỹ, khi phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép là khí đốt và dầu hỏa. Theo ông Thierry Bros, cú sốc năng lượng này diễn ra vào lúc nền kinh tế Châu Âu trì trệ, có mức tăng trưởng thấp, năng suất suy giảm và đang gặp nhiều bất ổn chính trị:
« Thật không may, khủng hoảng khí đốt hiện nay là khủng hoảng của châu Âu. Hôm thứ Sáu, 11/09, giá khí đốt đã chạm mức kỷ lục chưa từng thấy kể từ cuối tháng 12/2022. Bởi vì giá khí đốt tại Mỹ rẻ hơn đến 10 lần so với châu Âu, do vậy không có khủng hoảng khí đốt ở Mỹ. Giờ đây, khủng hoảng xăng dầu là toàn cầu, nhưng đối với châu Âu, đó là khủng hoảng khí đốt và dầu lửa, trong khi tại Mỹ chỉ là khủng hoảng dầu hỏa.
Một lần nữa, châu Âu đã tỏ ra thụ động, bởi vì người cuối cùng có quyền chấm dứt cuộc chiến giá cả này sẽ là Trump, nếu giá dầu tăng quá cao và cử tri của ông không thể chịu đựng được nữa. Thật không may, trong vấn đề này, châu Âu đã không được tham vấn ».
Giới chuyên gia cảnh báo, trong một môi trường kinh tế chứa ẩn nhiều rủi ro như nợ công cao, lãi suất tăng và nỗi hoài nghi về khả năng hình thành bong bóng trí tuệ nhân tạo gia tăng, một cú sốc địa chính trị mới có thể trở thành một tác nhân gây ra phản ứng dây chuyền trên thị trường tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng nhìn nhận rằng kịch bản thảm họa này chỉ xảy ra nếu phe Houthi thực sự có khả năng phong tỏa hoàn toàn eo biển và duy trì tình trạng đó trong thời gian dài.
Thu, 17 Sep 2026 - 216 - Dữ liệu bị đánh cắp : Một thị trường chợ đen béo bở và có cấu trúc chặt chẽ
Các dữ liệu bị rò rỉ hay đánh cắp không còn đơn thuần là « sản phẩm phụ » của các cuộc tấn công mạng. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chúng đang trở thành một « nguồn tài nguyên vận hành » được mua bán và tái khai thác trong một hệ sinh thái tội phạm mạng có tổ chức chặt chẽ.
Theo các khảo sát gần đây, ngoài một số vụ tấn công mạng có mục tiêu chính trị và địa chính trị, 86% các vụ xâm phạm dữ liệu có mục tiêu kiếm tiền và 55% số vụ tấn công là do các nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện. Những dữ liệu bị đánh cắp này sau đó sẽ được rao bán trên Internet, đặc biệt là trên thị trường chợ đen của Dark Web.
Những người rao bán và mua dữ liệu đánh cắp là ai ? Rayna Stambouliscka, tổng giám đốc công ty tư vấn an ninh mạng RS Stratégie, cộng tác viên Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS), trên đài France Culture cho biết : « Đó là những người muốn bán lại các dữ liệu, hoặc họ tự đánh cắp dữ liệu, hoặc họ mua dữ liệu rẻ hơn từ người khác, hoặc họ có một nguồn cung cấp liên tục các dữ liệu mới giá rẻ… Nhìn chung, có hai loại hình chính : Những người thích các dữ liệu của cá nhân và những người thích các dữ liệu của các tổ chức ».
Giống như trên eBay của Mỹ hay Leboncoin tại Pháp, dữ liệu bị rò rỉ được chào bán trên Dark Web, có ghi rõ xuất xứ và các mẫu dữ liệu giống như trong cửa hàng nước hoa, theo giải thích của Gael Musquet, một hacker, với đài France Inter : « Quý vị nhận được các mẫu cho phép xác minh chất lượng dữ liệu, mức độ cuộc tấn công đã được thực hiện ».
Các nghiên cứu gần đây cho thấy thị trường ngầm này có quy mô to lớn. Năm 2024, lần đầu tiên các hoạt động mua bán dữ liệu bị đánh cắp cán mốc 2 tỷ đô la. Và chỉ riêng trong sáu tháng đầu năm 2025, người ta ghi nhận hơn 1,4 tỷ bản ghi dữ liệu bị xâm phạm. Một công trình khảo sát 30 chợ darknet lớn đã phát hiện hơn 96 ngàn tin rao bán dữ liệu đánh cắp từ khoảng 3000 người bán chỉ trong vòng tám tháng. Doanh thu được ghi nhận trong thời gian nghiên cứu vượt 140 triệu đô la, nhưng con số này được cho là khá nhỏ so với quy mô thực tế của thị trường hiện nay.
Dark Web : Tin tặc đóng vai trò « nhà sản xuất »
Nền kinh tế ngầm này ngày càng giống với các nền tảng thương mại điện tử hợp pháp, thậm chí có cả dịch vụ chăm sóc khách hàng và hệ thống đánh giá người bán. Điều này minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của mô hình mà trang Businesstechweekly gọi là « tội phạm mạng như một dịch vụ » (Cybercrime-as-a-Service).
Các cuộc điều tra do Synacktiv1 tiến hành còn chỉ ra rằng thị trường này là một chu trình khai thác có thể kéo dài nhiều năm, với sự tham gia của nhiều nhóm tác nhân khác nhau, được phân công lao động tương tự như « các chuỗi gia công trong ngành công nghiệp », theo như cách diễn đạt của Maxence Fossat, chuyên gia an ninh mạng tại Synacktiv, trong một báo cáo công bố ngày 28/05/2026.
Cụ thể, mạng lưới này được phân chia giữa những người thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng các phần mềm đánh cắp thông tin (infostealers) hoặc trực tiếp xâm nhập vào hệ thống; Các đơn vị tổng hợp dữ liệu, chuyên tập hợp và hợp nhất các dữ liệu thu được từ nhiều vụ rò rỉ khác nhau; Các nhà cung cấp dịch vụ kiểm thử tự động, chỉ giữ lại những thông tin truy cập thực sự còn hiệu lực và có thể khai thác được. Và sau cùng là các đầu mối môi giới, bán lại chuyên biệt, những người chào bán các quyền truy cập này cho các nhóm tội phạm khác, trong đó nổi bật nhất là các tổ chức vận hành phần mềm tống tiền (ransomware).
Tuy nhiên, không phải mọi dữ liệu thu được từ một vụ rò rỉ đều có giá trị thương mại trong cùng một khoảng thời gian. Bà Yamina Tadjeddine Fourneyron, giáo sư kinh tế tại đại học Lorraine, chuyên gia về tài sản tiền điện tử, trên đài France Culture giải thích : « Khi bạn vào Dark Web, những thị trường chợ đen, để bán lại, bạn sẽ thấy mọi thứ được tổ chức theo bản chất của thông tin được bán. Đó là lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dữ liệu tài chính, hay dữ liệu cá nhân, ít nhiều đầy đủ thông tin hay không ? Và bạn sẽ tìm thấy những người chuyên về từng lĩnh vực, và sau đó là danh tiếng và xếp hạng phản ánh độ tin cậy của người bán lại. »
Theo hacker Gael Musquet, thông tin cá nhân này được mua bán, đấu giá, thậm chí được cho không nếu không ai muốn. Và đối với những tội phạm ít kinh nghiệm hơn, sách hướng dẫn và thiết bị cũng được cung cấp đính kèm: « Họ có dữ liệu thô, nhưng cũng có cả công cụ phân tích, công cụ gửi email và tin nhắn văn bản. Tóm lại, tùy thuộc vào trình độ kỹ năng của người có được những tập tin này, tội phạm mạng sẽ cung cấp các công cụ để khai thác dữ liệu đó dễ dàng hoặc khó khăn hơn. »
Những dữ liệu có giá trị cao nhất
Trang ITSocial còn lưu ý thêm, trong nền kinh tế ngầm của tội phạm mạng, mỗi dữ liệu bị đánh cắp có « vòng đời kinh tế » riêng : Cookie phiên làm việc có giá trị rất cao nhưng ngắn hạn, trong khi các cặp « tên đăng nhập và mật khẩu » có thể tiếp tục được mua bán và khai thác trong thời gian dài hơn.
Các dữ liệu kỹ thuật lại tuân theo một logic khai thác dài hạn. Những dữ liệu như tài liệu nội bộ, cấu hình hạ tầng công nghệ thông tin, sơ đồ kiến trúc hệ thống, hay mã nguồn phần mềm có thể được lưu giữ trong nhiều năm trước khi được sử dụng để phát hiện các lỗ hổng bảo mật, hoặc chuẩn bị cho các cuộc tấn công có chủ đích.
Loại hình khai thác này chủ yếu liên quan đến các tác nhân có năng lực cao, đặc biệt là những nhóm hoạt động vì lợi ích quốc gia hoặc phục vụ mục tiêu tình báo kinh tế. Đối với các tin tặc, giá trị của dữ liệu không nằm ở khả năng bán lại ngay lập tức, mà ở tiềm năng cung cấp thông tin chiến lược trong dài hạn.
Tùy theo giá trị của mỗi loại thông tin mà giá cả các cơ sở dữ liệu được định giá rất khác nhau trên thị trường ngầm. Các cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, thông tin sở hữu trí tuệ nhân tạo là những tập tin có giá trị cao nhất, có thể được giao dịch với giá hàng trăm nghìn đô la. Đặc biệt, dữ liệu y tế được coi là loại tài sản có giá trị cao vì tính « vĩnh viễn » của chúng. Nếu thẻ tín dụng bị lộ, chủ sở hữu có thể khóa và cấp lại thẻ mới. Nhưng hồ sơ bệnh án hay thông tin sức khỏe cá nhân gần như không thể thay đổi khi đã bị đánh cắp.
Trong số này, các dữ liệu cá nhân là những món hàng có giá trị thấp nhất. Trong vụ rò rỉ dữ liệu tại France Travail, cơ quan hỗ trợ việc làm cho người thất nghiệp tại Pháp, vào năm 2024, thông tin của hơn 36 triệu người được rao bán trên Dark Web với giá 5.000 đô la. Vì vậy, theo giáo sư kinh tế Yamina Tadjiddine, tiêu chí định giá dữ liệu thực ra không khác nhiều so với thị trường kinh tế truyền thống : « Điều này phụ thuộc vào mức độ khan hiếm. Nếu bạn là người đầu tiên sở hữu chúng, rõ ràng là giá sẽ rất cao. Ví dụ, hiện nay, dữ liệu thẻ tín dụng gần như vô giá trị vì chúng đã được phổ biến rộng rãi. Sau đó còn có một khía cạnh khác : Tính chất đầy đủ của thông tin thu thập được. »
AI, trợ thủ đắc lực mới cho tin tặc, doanh nghiệp thêm khốn đốn
Các cuộc tấn công mạng đang trở nên phổ biến và ngày càng tinh vi hơn. Thay vì khai thác các lỗ hổng kỹ thuật, tin tặc tấn công bằng xâm nhập các tài khoản hợp lệ bị đánh cắp. Dữ liệu rò rỉ giúp tội phạm thực hiện các chiến dịch lừa đảo, giả mạo danh tính và kỹ nghệ xã hội thuyết phục hơn nhờ những hiểu biết về nội bộ của nạn nhân.
Theo điều tra của Synacktiv, hai yếu tố đang thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế ngầm này là trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI) và các nhà môi giới quyền truy cập ban đầu (Initial Access Brokers - IAB). AI giúp tự động hóa nhiều công đoạn tấn công, còn các IAB chuyên tìm kiếm rồi bán lại quyền truy cập vào hệ thống bị xâm nhập cho những nhóm tội phạm khác.
Cuối cùng, Synacktiv nhận định, các doanh nghiệp thường đánh giá thấp tính chất kéo dài của rủi ro. Một vụ rò rỉ dữ liệu có thể tiếp tục tạo điều kiện cho các cuộc tấn công nhiều năm sau đó. Báo cáo Chi phí Xâm phạm Dữ liệu 2024 của IBM ước tính chi phí trung bình cho một vụ rò rỉ dữ liệu đã tăng 15% kể từ năm 2020 và tăng thêm 12% trong năm 2025, theo báo cáo mới nhất. Mức tăng này bắt nguồn từ chi phí cao hơn cho việc phát hiện, xử lý leo thang sự cố và tổn thất kinh doanh.
Trong bối cảnh này, giới chuyên gia dự báo đến năm 2031, thế giới sẽ ghi nhận cứ mỗi hai giây sẽ xảy ra một cuộc tấn công mạng và thiệt hại do ransomware có thể lên đến 265 tỷ đô la/năm. Vì vậy, báo cáo của Synacktiv khuyến nghị các tổ chức cần xem rò rỉ dữ liệu là điểm khởi đầu của một chu trình khai thác lâu dài thay, vì là một sự cố đã kết thúc sau khi được phát hiện.
----- ***** -----
Ghi chú :
- Synacktiv là doanh nghiệp Pháp chuyên về an ninh mạng tấn công (offensive cybersecurity) và được Cơ quan An ninh Hệ thống Thông tin Quốc gia Pháp – ANSSI cấp chứng nhận PASSI.
Thu, 10 Sep 2026 - 215 - Sáu cột mốc lớn đánh dấu quan hệ Mỹ - Trung : Từ kỳ vọng hợp tác đến đối đầu thế kỷ
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là một trong những trục quan trọng nhất trong dòng chảy lịch sử thế giới đương đại. Giữa các cuộc chiến thương mại, đối đầu địa chính trị và cạnh tranh công nghệ, mỗi ngày trôi qua càng củng cố thêm niềm tin chắc rằng cuộc đối đầu giữa Washington và Bắc Kinh đang định hình thế giới ngày nay và có thể cả trong tương lai.
Nhà sử học Pierre Grosser, trên đài phát thanh France Inter nhận định, nếu nhìn lại lịch sử hơn một thế kỷ quan hệ Mỹ - Trung, hai quốc gia này đã nhiều lần thay đổi vị thế đối với nhau : Từ đối tác thương mại, đồng minh thời chiến, đối thủ ý thức hệ, cho đến đối thủ cạnh tranh chiến lược toàn diện như ngày nay.
Là chuyên gia về quan hệ quốc tế và châu Á và cũng là tác giả tập sách « Chiến tranh lạnh khác chăng ? Đối đầu Mỹ - Trung », Pierre Grosser còn nêu ra sáu cột mốc lớn quan trọng để lý giải vì sao Washington và Bắc Kinh đang trong một cuộc cạnh tranh được nhiều nhà quan sát gọi là « cuộc đối đầu định hình thế kỷ XXI ». Đằng sau những tranh chấp thương mại, công nghệ hay vấn đề Đài Loan, là một câu chuyện dài về quyền lực, nhận thức lịch sử và trật tự thế giới.
1900 : Khi Hoa Kỳ đến « mở cửa » Trung Quốc …
Vào cuối thế kỷ XIX, Trung Quốc đang ở giai đoạn suy yếu nghiêm trọng. Sau thất bại trước Nhật Bản năm 1895 và hiệp ước Shimonoseki, các cường quốc châu Âu và Nhật Bản lao vào cuộc đua tranh giành tô giới và nhượng địa ở Trung Quốc. Trong bối cảnh này Hoa Kỳ tự thể hiện mình là người ngoài cuộc bằng cách ủng hộ chính sách « Mở cửa » (Open Door Policy), với hai công hàm ngoại giao năm 1899 và 1900, đề cao việc bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc và tự do cạnh tranh thương mại.
Theo sử gia Pierre Grosser, trong « cuộc chạy đua đến Trung Quốc », chính sách này của Mỹ là mang tính hai mặt : Hoa Kỳ tự thể hiện mình như « một cường quốc đế quốc kiểu khác, chủ yếu được thúc đẩy bởi các lợi ích thương mại », nhưng vẫn không thoát khỏi lô-gic truyền thống của chủ nghĩa bành trướng.
Việc Hoa Kỳ chiếm Cuba và nhất là Philippines sau cuộc chiến với Tây Ban Nha năm 1898 có liên hệ trực tiếp với tham vọng thâm nhập thị trường Trung Quốc, đồng thời tạo thành bàn đạp chiến lược để Mỹ tiến sâu vào châu Á, khẳng định vị thế cường quốc Thái Bình Dương. « Đây là một phần của bước ngoặt chủ nghĩa đế quốc, đánh dấu sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một cường quốc thế giới vào thời điểm đó. Đồng thời, đó cũng là thời điểm Washington hầu như chính thức thâu tóm Hawai ».
Nhưng chính ở giai đoạn này đã làm xuất hiện nghịch lý đầu tiên trong quan hệ Mỹ - Trung. Trong khi Washington yêu cầu Bắc Kinh mở cửa cho hàng hóa Mỹ, thì Hoa Kỳ lại đóng cửa với người Trung Quốc khi ban hành đạo luật « Loại trừ » (Loi d’Exclusion) năm 1882, cấm phần lớn người Trung Quốc nhập cư vào Mỹ. Luật này được đưa ra sau « những hành động bạo lực chống người Trung Quốc », khiến gần 1000 người thiệt mạng, đặc biệt là những người đã tham gia xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa.
Sự mâu thuẫn này trong chính sách của Mỹ khó hiểu đến mức, nhà báo Yves Guillot, trên tờ Le Siècle (Thế kỷ) ngày 27/06/1900, phải viết : « Người Mỹ [...] mở cửa Trung Quốc cho chính họ và các sản phẩm của họ, nhưng họ lại có ý định đóng cửa nước Mỹ đối với người Trung Quốc. Làm sao người Trung Quốc có thể hiểu được logic này ? »
Một chi tiết khác cũng được nhà sử học Pierre Grosser nhắc đến là vào đầu thế kỷ XX, đã tồn tại những định kiến rất giống với những lời chỉ trích nhắm vào Trung Quốc ngày nay. « Ngay từ thời đó đã tồn tại một quan niệm gắn liền người Trung Quốc với ma túy. Và ngày nay, với vấn đề fentanyl, chúng ta thấy ý tưởng cũ ấy được khơi lại theo cách tương tự : người Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc mang ma túy đến Mỹ, tìm cách lách các hàng rào thuế quan và đôi khi gian lận về bản chất hay thành phần thực sự của hàng hóa. »
1943 : Roosevelt đặt cược vào Trung Quốc
Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ, Trung Quốc nằm trong số các quốc gia kháng chiến chống đế quốc Nhật mạnh mẽ nhất. Pierre Grosser nhấn mạnh rằng, trên thực tế Trung Quốc đã tham chiến sớm hơn nhiều so với cường quốc khác. « Trung Quốc đã chiến đấu đơn độc từ năm 1931 trở đi, ngay cả khi chúng ta coi chiến tranh bắt đầu từ năm 1937. Khi sự leo thang giữa Trung Quốc và Nhật Bản thực sự bắt đầu, thì Hoa Kỳ chỉ tham gia chiến tranh vào tháng 12 năm 1941. Trước đó, điều gì đã xảy ra ? Mỹ cũng giống như Liên Xô, đã hỗ trợ Trung Quốc để kìm chân Nhật Bản, ngăn chặn họ tấn công vào phía bắc hoặc cuối cùng là về phía Hoa Kỳ. »
Trong bối cảnh này, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã có một quyết định mang ý nghĩa lịch sử. Ngày 11/01/1943, Hoa Kỳ ký « Hiệp ước Trung – Mỹ về miễn áp dụng luật ngoài lãnh thổ tại Trung Quốc ». Trong điều khoản thứ 3 có ghi, xin trích : « Hoa Kỳ từ bỏ quyền quản lý và kiểm soát tại Trung Quốc và đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong việc đạt được sự từ bỏ các quyền đó từ các quốc gia khác. »
Điều này có nghĩa là Mỹ từ bỏ các đặc quyền ngoại trị từng áp đặt lên Trung Quốc từ thời các « hiệp ước bất bình đẳng », theo đó, các quyền tài phán của Phương Tây cho phép công dân nước ngoài trốn tránh công lý của Trung Quốc. Những đặc quyền này khá phổ biến ở châu Á trong thế kỷ 19, từ lâu đã được biện minh bằng ý tưởng rằng các nước châu Á « không đủ văn minh để xét xử đúng đắn » người phương Tây.
Theo quan điểm của Pierre Grosser, động thái này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một yếu tố cốt lõi trong chính sách của Roosevelt : « Hoa Kỳ đã lôi kéo Trung Quốc trở thành một cường quốc », đưa Trung Quốc tham gia vào câu lạc bộ các cường quốc lớn. Như một phần thưởng, Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã giành được một ghế trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc tương lai vào năm 1943. Và Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ký Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, được tham gia các cuộc đàm phán lớn về trật tự kinh tế quốc tế như Bretton Woods.
Ngày nay, Bắc Kinh vẫn thường nhắc lại giai đoạn này để chứng minh rằng Trung Quốc không phải là một cường quốc mới nổi. Theo lập luận của họ, Trung Quốc đã được các đồng minh thắng trận công nhận là một cường quốc từ năm 1945.
1950 : Cuộc đối đầu quân sự Mỹ - Trung đầu tiên
Năm 1949, Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bại trận, Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan, thành lập nước Trung Hoa Dân Quốc. Đây thực sự là một cú sốc lớn, ám ảnh giới chính khách Mỹ trong nhiều năm sau đó. Chủ nghĩa MaccarThy bài cộng sản ra đời từ đó ở Mỹ.
Năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ buộc Mao Trạch Đông phải điều khoảng một triệu quân sang Triều Tiên, khiến người con trai ông yêu quý nhất bị thiệt mạng. Theo Pierre Grosser, quyết định này của Mao Trạch Đông ít nhất vì ba động cơ : Thứ nhất là vì lợi ích an ninh. Bắc Kinh không thể chấp nhận việc quân đội Mỹ tiến sát biên giới Trung Quốc. Thứ hai là lý tưởng cách mạng. Và thứ ba, thường là yếu tố hay bị bỏ qua nhất, đó là nhu cầu củng cố quyền lực trong nước.
« Bằng cách phóng đại mối đe dọa từ Mỹ và nguy cơ về một cuộc “phản cách mạng toàn cầu” do Hoa Kỳ dẫn dắt, đặc biệt là nguy cơ can thiệp từ bên trong Trung Quốc, đây là một cách để củng cố quyền lực và trấn áp mọi hình thức có thể thách thức chế độ cộng sản. Và vì thế, từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1951 đã diễn ra một chiến dịch trấn áp đẫm máu, khiến khoảng từ 500.000 đến 600.000 người thiệt mạng ».
Tuy nhiên, chuyên gia về châu Á Pierre Grosser đánh giá, hệ quả lớn nhất của cuộc chiến lại liên quan đến Đài Loan. Trước chiến tranh, Washington đã phần nào mất niềm tin vào Tưởng Giới Thạch. Nhưng chiến tranh Triều Tiên đã khiến Mỹ thay đổi hoàn toàn chính sách. Hạm đội 7 được điều tới eo biển Đài Loan và từ đó Mỹ chính thức trở thành lá chắn an ninh của hòn đảo. Đối với nhà sử học, đây là một bước ngoặt chiến lược quyết định, bởi vì Đài Loan từ đó trở thành điểm nóng lâu dài trong quan hệ Mỹ - Trung.
1972 và cú bắt tay « lịch sử » Nixon – Mao Trạch Đông
Ngày 28/02/1972, hình ảnh tổng thống Mỹ Richard Nixon, nổi tiếng chống cộng sản bắt tay chủ tịch đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã gây chấn động thế giới. Sự xích lại gần này, theo ông Pierre Grosser, đầu tiên bắt nguồn từ nhu cầu của Trung Quốc, diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi quan trọng :
« Điều cốt lõi mang tính bước ngoặt là sự rạn nứt quan hệ Trung – Xô. Sự rạn nứt này thậm chí đã leo thang đến mức suýt nổ ra chiến tranh thực sự. Dĩ nhiên, chiến tranh đã không bùng nổ vì leo thang không đến mức mất kiểm soát. Tuy nhiên, vào năm 1969, nhiều cuộc đụng độ nghiêm trọng dọc theo biên giới phía bắc giữa Trung Quốc và Liên Xô đã nổ ra. Từ đó, Mao Trạch Đông dần dần cho rằng kẻ thù số một của Trung Quốc là Liên Xô chứ không còn là Hoa Kỳ nữa. Chính điều này đã phần nào tạo thuận lợi cho quá trình xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ».
Nếu như cuộc gặp lịch sử này thường được thần thoại hóa như là một đòn chiến lược thiên tài của bộ đôi Nixon – Kissinger, đối với nhà nghiên cứu về châu Á, sự thay đổi này đã được chuẩn bị từ trước và xuất phát từ nhu cầu chiến lược của cả hai bên. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Mỹ sa lầy trong Chiến tranh Việt Nam. Và do vậy Washington kỳ vọng Bắc Kinh sẽ gây áp lực với đồng minh cộng sản Việt Nam để có được một thỏa thuận hòa bình.
Theo Pierre Grosser, nước cờ cho thấy là « vô ích ». Cộng sản Việt Nam kiên định duy trì thế tự chủ chiến lược, và thậm chí còn nuôi dưỡng sự ngờ vực lâu dài đối với Trung Quốc khi nhìn thấy nước này đang đàm phán với kẻ đang ném bom họ. Dù vậy, sự kiện này đã mở đường cho việc bình thường hóa bang giao Mỹ - Trung vào cuối thập niên 1970, và tạo đà cho Trung Quốc bước vào giai đoạn cải cách mở cửa.
2021 : Ngày Hoa Kỳ tạo ra đối thủ…
Ngày 07/04/1999, tại Nhà Trắng, tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố : « Nếu Trung Quốc chấp nhận những trách nhiệm đi kèm với việc gia nhập WTO, điều đó sẽ mang lại cho Hoa Kỳ khả năng tiếp cận rộng lớn đối với thị trường Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy nhanh hơn các cải cách nội bộ tại quốc gia này. Nếu Trung Quốc sẵn sàng tuân thủ các quy tắc của thương mại quốc tế, thì sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu Hoa Kỳ nói không. »
Từ thập niên 1970, tại Mỹ, đã tồn tại một niềm tin chiếm ưu thế cho rằng Trung Quốc sẽ là một « miền đất hứa » về kinh tế. Và việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ làm thay đổi đất nước này từ bên trong. Điều đáng chú ý là các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng chia sẻ tính toán nhưng không theo cách như Hoa Kỳ và các nước phương Tây nghĩ : Trung Quốc xem việc gia nhập WTO như là một đòn bẩy để thúc đẩy cải cách nhằm thay đổi bộ máy quan liêu trong nước.
Tuy nhiên, canh bạc này còn được dựa trên một sự tính toán kinh tế rất cụ thể. Sử gia Pierre Grosser tóm tắt học thuyết do Robert Reich, bộ trưởng Lao Động Mỹ thời tổng thống Bill Clinton nêu ra như sau :
« "Trong tiến trình toàn cầu hóa này, chúng ta sẽ giữ lại những công việc được trả lương cao nhất, các khâu thiết kế và sáng tạo." Ở phía bên kia sẽ là những lao động Trung Quốc đảm nhận công việc sản xuất. Họ chỉ cần nhận hướng dẫn qua máy tính về cách thức chế tạo sản phẩm, thực hiện khâu gia công rồi gởi thành phẩm trở lại. Và như vậy đôi bên sẽ cùng có lợi. Tóm lại, nước Mỹ sẽ giữ những công việc sáng tạo, hấp dẫn nhất bởi vì tôi không nói là ông ấy nói như thế, nhưng hàm ý rằng, Trung Quốc sẽ không bao giờ có thể nâng cấp công nghệ sản phẩm ».
Nhưng những thực tế sau này đã cho thấy đây là một tính toán sai lầm, khi Trung Quốc dần trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Mỹ trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Việc hy vọng thương mại sẽ thúc đẩy dân chủ hóa Trung Quốc, chỉ là một ảo tưởng. Theo giải thích của Pierre Grosser, « đúng là có hy vọng đó (…) Nhưng ngay từ giữa những năm 1990 người ta đã thấy rằng những người siêu giàu và tầng lớp trung lưu không nhất thiết sẽ ủng hộ dân chủ. Người ta đã phần nào thấy rõ điều đó. Họ đã từng có hy vọng như vậy nhưng xét cho cùng, những lý do kinh tế mới là động lực chính khiến chính sách này được thúc đẩy ».
Tuy nhiên, sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã chuyển hướng toàn bộ sự chú ý của Hoa Kỳ sang Trung Đông. « Mỹ sa lầy ở Trung Đông trong suốt mười lăm năm, » trong khi đó, theo Pierre Grosser, « Trung Quốc lại phát triển mạnh mẽ trong những năm 2000 mà hầu như không bị Mỹ chú ý đến. »
2026 : Trận đấu thế kỷ
Ngày 13/05/2026, nhân cuộc họp thượng đỉnh Mỹ - Trung diễn ra ở Bắc Kinh, chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố : « Hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai bên, trong khi đối đầu sẽ gây tổn hại cho cả hai. Chúng ta cần hỗ trợ lẫn nhau để cùng thành công và cùng thịnh vượng, qua đó mở ra một con đường mới : con đường chung sống hòa thuận giữa các cường quốc trong kỷ nguyên mới ».
Theo Pierre Grosser, tuyên bố trên của ông Tập Cận Bình không có gì là mới mẻ : Điều này nằm trong chiến lược nhất quán nhằm thể hiện Trung Quốc là một cường quốc có trách nhiệm và lý trí, đối lập với hình ảnh một nước Mỹ bị xem là thất thường, khó đoán định. Kể từ năm 2008, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Hoa Kỳ đã bước vào giai đoạn suy yếu, cả về kinh tế lẫn địa chính trị.
Nhà sử học nhắc lại : « Tập Cận Bình từng nói rằng thế giới đang có những biến đổi chưa từng có từ một thế kỷ nay. Và một trong những biến đổi đó là Trung Quốc hiện đang lấy lại vị thế của mình, trở thành một đại cường, chứ không phải là một siêu cường, bởi vì, siêu cường thì không tốt, siêu cường gây chiến tranh, còn một cường quốc lớn đương nhiên phải được đối xử với sự tôn trọng ».
Vị chuyên gia này còn nhắc thêm rằng, « Trung Quốc thích suy nghĩ trong dài hạn, đồng thời thường xuyên nhắc lại rằng họ có hàng nghìn năm lịch sử, trong khi đó Hoa Kỳ mới chuẩn bị kỷ niệm 250 năm lịch sử của mình ».
Dù vậy, Pierre Grosser cũng lưu ý thêm rằng, cạnh tranh Trung – Mỹ hiện nay chưa hẳn là một cuộc Chiến Tranh Lạnh giống như thế kỷ XX do sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau về kinh tế giữa hai ông khổng lồ, « ngay cả khi hiện nay sự phụ thuộc của Trung Quốc vào Hoa Kỳ ít hơn nhiều so với bảy hoặc tám năm trước, bởi vì đã có cuộc chiến thương mại nhưng cũng vì giờ đây Trung Quốc tiến hành giao thương và đầu tư vào châu Á, quan tâm đến châu Âu và thậm chí người ta thường xuyên nói đến sự hiện diện của Trung Quốc ở châu Phi ».
Sử gia Pierrer Grosser nhìn nhận hiện nay Trung Quốc đang nỗ lực củng cố thế tự chủ về tài chính do lo ngại phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt quy mô lớn nếu xảy ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt liên quan đến Đài Loan, giống như những gì Nga và Iran đang trải qua.
Tóm lại, sự cạnh tranh giữa hai đại cường hàng đầu thế giới tồn tại đồng thời với nhu cầu hợp tác. Raymond Aron, một triết gia, nhà xã hội học, khoa học chính trị nổi tiếng người Pháp về Chiến tranh Lạnh chẳng phải đã từng nói : « Chiến tranh là điều không thể, nhưng hòa bình hoàn toàn cũng khó xảy ra ». Theo nhiều khía cạnh, công thức này có lẽ phản ảnh khá chính xác mối quan hệ Mỹ - Trung hiện nay !
Thu, 03 Sep 2026 - 214 - Donald Trump làm lung lay thế kiềng ba chân chiến lược an ninh tại Đông Bắc Á ?
Ngày 17/08/2026, vài giờ trước khi diễn ra cuộc tập trận thường niên Mỹ - Hàn Ulchi Freedom Shield (Lá chắn tự do), tổng thống Mỹ Donald Trump bất ngờ thông báo giảm thời lượng chiến dịch. Theo giới quan sát, những động thái khó lường của nguyên thủ Mỹ có nguy cơ làm suy yếu một trong những nền tảng quan trọng nhất trong cấu trúc an ninh Đông Bắc Á hiện nay là tam giác an ninh bao gồm Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Trump trừng phạt Seoul ?
Trên mạng xã hội Truth Social, ông đánh giá rằng cuộc tập trận « tốn kém » này gởi đi « một tín hiệu hoàn toàn không phù hợp và mang tính thù địch » đến Bình Nhưỡng. Ngoài ra, cuối thông điệp, tổng thống Trump còn khiển trách Hàn Quốc đã « từ chối » hỗ trợ Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Iran trong khi Washington có những cam kết bảo đảm an ninh cho Seoul. Trả lời Reuters, bà Jenny Town, giám đốc chương trình 38 Vĩ tuyến bắc, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Stimson, trụ sở tại Hoa Kỳ, nhận định :
« Theo tôi, đây là một động thái chưa từng có tiền lệ khi gắn hai vấn đề hoàn toàn khác biệt lại với nhau. Đây là những cuộc tập trận thường kỳ của một liên minh đã tồn tại hơn 70 năm qua. Chiến dịch này không phải là một hành động đặc biệt nhắm vào bất kỳ quốc gia nào. Việc nói rằng "chúng tôi sẽ giảm quy mô tập trận vì quý vị không đáp ứng yêu cầu trước đây về một hành động quân sự ở khu vực khác" đơn giản không phải là cách người ta hành xử với đồng minh. Đặc biệt là với đồng minh mà bạn đã cam kết bảo vệ an ninh. Hiện Mỹ đang duy trì khoảng 28.500 quân nhân trên bán đảo Triều Tiên để bảo vệ khu vực này. »
Những phát biểu này của Donald Trump không chỉ gây ngỡ ngàng cho các đồng minh trong khu vực, mà còn khiến giới quan sát khó hiểu: Ông Trump đang có những tính toán gì tại châu Á ? Một số nhà phân tích cho rằng động thái này của ông Trump là nhằm mục tiêu đối nội. Ông muốn chuyển hướng công luận về thất bại chiến lược quân sự trong cuộc xung đột với Iran, đã kéo dài gần chín tháng và hiện đang rơi vào tình trạng bế tắc, khi chỉ còn vài tháng nữa là đến bầu cử giữa kỳ.
Đổi đầu tư lấy cam kết an ninh ?
Tuy nhiên, theo nhiều kênh truyền thông Mỹ, tổng thống Hoa Kỳ dường như đang dùng cuộc tập trận như là một công cụ ngoại giao để gây sức ép với Hàn Quốc, buộc nước này tăng tốc thực hiện khoản đầu tư trị giá 350 tỷ đô la để đổi lấy mức thuế quan thấp hơn. Ngoại trưởng Hàn Quốc Cho Hyun hôm 19/08 xác nhận sự việc trước Quốc Hội.
Theo trang CNBC, tin nhắn của ông Trump được đăng đúng thời điểm bộ trưởng Thương Mại Hàn Quốc Kim Jung Kwan đến Washington để thảo luận với đồng cấp Mỹ Howard Lutnick về các cam kết đầu tư và vấn đề thuế quan. Còn trang Politico, dẫn các nguồn tin am hiểu vấn đề, cho biết quyết định của Trump một phần xuất phát từ việc ông không hài lòng với tiến độ triển khai các khoản đầu tư của Hàn Quốc, vốn được cho là chậm hơn Nhật Bản.
Đây cũng không phải là lần đầu tiên ông Trump sử dụng cuộc tập trận như một đòn bẩy ngoại giao. Nhà báo Arnaud Vaulerin, trong chương trình phát thanh France Culture, nhắc lại : « Khi diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên giữa Kim Jong Un và Donald Trump tại Singapore năm 2018, ông Trump cũng đã yêu cầu đình chỉ các cuộc tập trận chung Mỹ - Hàn. Vì vậy, đây là một đòn bẩy mang tính giao dịch mà ông ấy luôn sử dụng. »
Chuyên gia Jenny Town nhìn nhận, ngay khi trở lại Nhà Trắng trong nhiệm kỳ hai, Donald Trump đã nhiều lần phát tín hiệu muốn nối lại các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, theo bà, « cách thức thực hiện lần này khá tùy tiện và khó có thể tạo ra tác động như ông mong muốn, nhất là khi hiện tại không có bất kỳ tiến trình đàm phán thực chất nào đang diễn ra ».
Tập trận thường niên Mỹ - Hàn không đơn thuần là huấn luyện tác chiến. Hoạt động quân sự này còn là biểu tượng hữu hình cho cam kết an ninh mà Washington dành cho Seoul. Hàng năm, hàng chục ngàn binh sĩ tham gia các cuộc diễn tập nhằm kiểm tra khả năng phối hợp trước các kịch bản từ tấn công tên lửa, chiến tranh mạng, cho đến xung đột quy mô lớn trên bán đảo Triều Tiên.
Trump làm suy yếu thế răn đe của Hàn Quốc
Việc chính quyền Donald Trump quyết định rút ngắn thời lượng diễn tập vào phút chót trong khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất và binh sĩ đã sẵn sàng, là một sự lãng phí. Chuyên gia Jenny Town nhận định đây không phải là một quyết định khôn ngoan, bởi cuộc tập trận lần này là một trong những chương trình đầu tiên thực sự tích hợp nhiều bài học rút ra từ các cuộc chiến tranh hiện đại, đặc biệt là cuộc chiến Ukraina:
« Đặc biệt là khi xem xét các phương thức tác chiến hiện đại cũng như tính chất đa miền của chúng, tôi cho rằng đây thực sự là giai đoạn đầu tiên chúng ta bắt đầu chứng kiến việc triển khai các cuộc diễn tập đa miền và diễn tập ứng phó tình huống khẩn cấp; qua đó chúng ta có thể hình dung các kịch bản xung đột khác nhau và đánh giá mức độ sẵn sàng của mình trước những tình huống đó, đồng thời nỗ lực nhận diện các điểm yếu của chính mình trong quá trình này. Vì vậy, tôi thực sự cho rằng đó là một quyết định vội vàng và sẽ gây ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng của liên minh. »
Chuyên gia Marianne Péron Doise, giám đốc Đài Quan sát Địa Chính trị về vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), cũng có cùng một quan điểm : Quyết định đơn phương của Mỹ đã làm suy giảm phần nào năng lực răn đe và tác chiến của đồng minh Hàn Quốc, vào lúc nước này đang phải đối mặt với mối đe dọa Bắc Triều Tiên ngày càng lớn, mà cuộc chiến Ukraina được cho là một bước ngoặt chiến lược quan trọng cho tình hình an ninh bán đảo Triều Tiên.
Trả lời đài France Culture, bà phân tích tiếp : « Nếu nhìn vào Bắc Triều Tiên và đặt trong bối cảnh rộng hơn, dù mức độ không hoàn toàn giống với chiến trường Châu Âu, việc Bình Nhưỡng nay thường xuyên triển khai binh sĩ sang chiến đấu cùng với quân đội Nga trong cuộc chiến tranh xâm lược Ukraina đã giúp họ có điều kiện tích lũy và nâng cao kinh nghiệm tác chiến trên thực địa. Đó là chưa kể đến việc Bắc Triều Tiên đã củng cố các năng lực hạt nhân và tên lửa đạn đạo.
Vì thế, mức độ dễ bị tổn thương của Hàn Quốc đang gia tăng đáng kể. Tuy nhiên, không chỉ có yếu tố mang tính "sỉ nhục" đối với một đồng minh rất thân cận đang trên tuyến đầu là Hàn Quốc, hành động này của tổng thống Mỹ còn có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của chính các lực lượng Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc. Điều mà chính quyền Trump có thể chưa lường trước được, vì cuối cùng chúng sẽ làm suy yếu các năng lực tác chiến, phản ứng cũng như khả năng phối hợp hiệu quả giữa lực lượng Mỹ và Hàn Quốc ».
Nhật Bản thấp thỏm lo cho an ninh quốc gia
Việc giảm quy mô hay thời lượng tập trận có thể không làm thay đổi tức thời tương quan lực lượng trong khu vực, nhưng đang gởi đi tín hiệu rằng Washington sẵn sàng điều chỉnh các cam kết chiến lược vì những tính toán chính trị ngắn hạn. Và đối với Tokyo, thông điệp không chỉ dành riêng cho Seoul này là thật sự đáng lo ngại, vào lúc Nhật Bản, vốn phụ thuộc nhiều vào Hoa Kỳ về an ninh, hiện đang đối diện cùng lúc với các đe dọa an ninh quốc gia đến từ ba nước có vũ khí hạt nhân là Nga, Bắc Triều Tiên và Trung Quốc.
Phát biểu của ông Trump diễn ra một thời gian ngắn sau chuyến thăm của tổng thống Nga Vladimir Putin đến bốn đảo phía bắc của quần đảo Kuril do Matxcơva kiểm soát nhưng Tokyo đòi chủ quyền. Liệu hành động này của nguyên thủ Nga có nhằm mục đích trắc nghiệm mức độ bền vững của quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật? Chuyên gia địa chính trị Marianne Péron Doise phân tích tiếp :
« Tôi nghĩ rằng tổng thống Nga thực sự muốn nhắc nhở Nhật Bản về cuộc tranh chấp tồn tại từ lâu này, đồng thời tái khẳng định đó vẫn là nguồn gốc bất ổn và đe dọa tiềm tàng. Tuy nhiên, thông điệp này không chỉ mang tính song phương mà còn nằm trong bối cảnh khu vực rộng lớn hơn. Nga đang thể hiện thế chủ động trong hồ sơ này, một cuộc tranh chấp đã kéo dài nhiều năm, nhưng chính phủ Nhật Bản trước đây đã chọn không làm trầm trọng thêm. Theo thỏa thuận ngầm, hai bên tránh những chuyến thăm hoặc hành động quá nổi bật có thể gợi nhắc đến sự hiện diện của Nga cũng như yêu sách chủ quyền của Nhật Bản đối với bốn hòn đảo thuộc quần đảo Kuril, mà Tokyo gọi là " lãnh thổ phương bắc".
Hiện nay, Nhật Bản có một chính phủ mới thể hiện lập trường quyết đoán hơn nhiều trong các vấn đề quốc phòng, với bà Takaichi, được ủng hộ bởi một phong trào dân tộc chủ nghĩa rất mạnh mẽ. Vì vậy Matxcơva muốn "vạch ra lằn ranh đỏ" đối với chính phủ mới này, thăm dò khả năng phản ứng của Nhật Bản. Rộng hơn, Nga muốn cho thấy khả năng gây sức ép hoặc tạo bất ổn trên nhiều mặt trận cùng lúc, trong bối cảnh Nhật Bản đang phải đối diện với những nước láng giềng bị xem là mối đe dọa nghiêm trọng, gồm Nga, Triều Tiên và Trung Quốc. »
Trump làm tổn hại uy tín của Mỹ ?
Xin nhắc lại, trong những năm gần đây, Mỹ đã thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác an ninh ba bên Mỹ-Nhật-Hàn, đặc biệt dưới thời tổng thống Joe Biden. Các cuộc tập trận chung, chia sẻ thông tin tình báo và cơ chế phối hợp ứng phó khủng hoảng là những thành tựu quan trọng của chiến lược khu vực. Mục tiêu không chỉ răn đe Bắc Triều Tiên mà còn duy trì cán cân quyền lực đối phó với đà trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc.
Trong bối cảnh này, giới quan sát lo ngại, quyết định của ông Trump có nguy cơ làm suy yếu một trong ba kiềng của cấu trúc an ninh. Toàn bộ hệ thống có nguy cơ bị tác động và Nhật Bản có lý do để lo ngại sự gắn kết chiến lược mong manh giữa ba nước có thể bị suy giảm.
Trước mắt, liên minh Mỹ-Hàn chưa thể sụp đổ nhưng mối nguy lớn nhất là sự xói mòn dần dần niềm tin chính trị. Nhà nghiên cứu Yu Jihoon, Viện Phân tích Quốc Phòng Hàn Quốc, cảnh báo : « Nếu người dân Hàn Quốc bắt đầu tin rằng các cam kết an ninh hoặc các cuộc tập trận quân sự có thể bị sử dụng như một công cụ mặc cả cho những vấn đề không liên quan như Iran, đầu tư, thương mại hay các bất đồng đối ngoại khác, thì độ tin cậy vào uy tín của Mỹ cũng sẽ suy giảm theo ».
Thu, 27 Aug 2026 - 213 - Thụy Sĩ: Khi các cuộc khủng hoảng thế giới mang lại hưng thịnh cho Geneve
Dịch bệnh, chiến tranh, khủng hoảng tài chính hay bất ổn chính trị thường dẫn đến suy thoái và khó khăn cho nhiều quốc gia. Thế nhưng với Geneve, Thụy Sĩ, những biến động đó nhiều lần trở thành cơ hội để gia tăng sự giàu có và củng cố vị thế quốc tế của thành phố này. Minh chứng mới nhất là vào tháng 03/2026, chính quyền bang Geneve công bố thặng dư ngân sách 50 triệu franc Thụy Sĩ cho năm 2025.
Bất chấp các cuộc khủng hoảng quốc tế liên tiếp xảy ra, thành phố đắt đỏ hàng thứ tư thế giới vẫn tiếp tục thịnh vượng. Và đây cũng là năm thứ sáu liên tiếp Geneve công bố thặng dư ngân sách. Làm thế nào giải thích cho sự ổn định đáng ngạc nhiên này ? Theo Marc Guéniat, nhà báo điều tra của nhật báo Thụy Sĩ Le Temps, đó không phải là một hiện tượng mới, mà là một sự tiếp nối liên tục trong dòng lịch sử của Geneve từ hơn bốn thế kỷ.
Sự giầu có đến từ Pháp
Nền tảng cho sự thịnh vượng của Geneve trước hết được xây dựng trên vai trò là một vùng đất trú ẩn, bắt đầu từ thế kỷ XVI với cuộc Cải cách Tin Lành do nhà thần học người Pháp có sức ảnh hưởng mạnh mẽ là Jean Calvin thực hiện. Cuộc cải cách này đã biến Geneve thành trung tâm của đạo Tin Lành tại châu Âu, được mệnh danh là « La Mã của người Tin Lành ».
Thành Geneve trở thành điểm đến cho những người bị đàn áp tôn giáo vào thời kỳ đó, đặc biệt là từ Pháp, sau khi các chính sách khoan dung tôn giáo ở Pháp bị bãi bỏ, nhiều tín đồ Tin Lành buộc phải rời bỏ quê hương. Trên làn sóng đài phát thanh France Culture, ngày 22/05/2026, phóng viên điều tra Marc Guéniat và cũng là tác giả tập sách « Genève confidentielle, la ville qui aimait l'argent des autres » (tạm dịch: Bí mật Genève, thành phố yêu chuộng tiền của người khác, NXB Stock), giải thích :
« Một làn sóng nhập cư cộng đồng tín hữu Kháng Cách (Huguenot), những tín hữu Tin lành Pháp đã đến định cư tại Geneve. Họ mang theo tài năng, di sản, của cải, kiến thức chuyên môn và mạng lưới thương mại. Một khi ổn định, họ tiếp tục sử dụng những nguồn lực ấy, để rồi từ Geneve xuất khẩu kiến thức và chuyên môn của họ sang Pháp. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng Geneve đã trở nên giàu có hơn đáng kể là nhờ Pháp. »
Nhờ đó Geneve dần dần xây dựng sức mạnh kinh tế dựa trên khả năng thu hút nguồn vốn, các mối quan hệ thương mại và tri thức chuyên môn từ bên ngoài. Động lực này tiếp tục được củng cố nhờ những cơ hội kinh doanh bất ngờ. Marc Guéniat nhắc đến trường hợp nổi tiếng của « indiennes », loại vải cotton in hoa rất được ưa chuộng nhưng từng bị cấm ở Pháp:
« Một ví dụ khác là vải bông (cotton) in hoa văn, mà Vua Louis XIV đã cố gắng cấm ở Pháp vào cuối thế kỷ 17 và suốt thế kỷ 18. Loại vải này rất thời thượng và rất được người Pháp ưa chuộng. Chúng bị cấm trên lãnh thổ của họ. Chính người dân Geneve đã bắt đầu sản xuất và xuất khẩu chúng thông qua các mạng lưới buôn lậu. Và một lần nữa, hoạt động đó đã làm giàu cho Geneve. »
Thế giới bất ổn là một cơ hội
Từ đó người ta có thể rút ra một nghịch lý lịch sử : Geneve đã làm giàu đáng kể nhờ chính nước Pháp. Ngày nay, khả năng thích ứng ấy của Geneve vẫn thể hiện rõ trong nền kinh tế hiện đại. Trong khi các cuộc khủng hoảng quốc tế làm suy yếu nhiều quốc gia, thành phố đắt hàng thứ tư thế giới vẫn biết cách biến bất ổn thành cơ hội kinh tế.
« Ví dụ trong đại dịch Covid-19, thế giới rơi vào khủng hoảng, mọi thứ gần như đình trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, thì tại Geneve, 300 hãng kinh doanh nguyên nhiên liệu, nhất là các tập đoàn kinh doanh dầu mỏ, đã hoạt động tích cực và thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ. Chúng được phản ảnh trong ngân sách liên bang thông qua thuế đánh vào lợi nhuận của những công ty này và các khoản thu nhập từ nhân viên của họ. Có thể nói, Geneve đã vượt qua được khủng hoảng này rất tốt.
Và kịch bản này cũng đã được lặp lại với cuộc chiến ở Ukraina. Một cuộc khủng hoảng năng lượng lớn đã diễn ra. Trên khắp châu Âu, tại các nước phương Tây, người ta bắt đầu tự hỏi liệu có nên giảm tiêu thụ điện năng hay không. Và một lần nữa, giá cả tăng vọt và các cuộc đàm phán về nguyên liệu thô đã diễn ra. Khoảng 300 công ty trên, bao gồm cả chi nhánh của hãng Total của Pháp, đã thu được những khoản lợi nhuận to lớn và tất nhiên là thặng dư kỷ lục trong ngân sách liên bang. »
Như « món lộc trời ban », Geneve sở hữu một « khả năng chống chịu phi thường », nhờ vậy thành phố hưởng lợi từ những biến động địa chính trị toàn cầu, hay nói như Voltaire, triết gia người Pháp, là « từ những sai lầm gây ra ở nước ngoài ».
Ổn định chính trị : Lá chủ bài cho sự hưng thịnh
Nhưng Geneve đâu chỉ có những hình ảnh tích cực. Trong một phim tài liệu do đài truyền hình Thụy Sĩ RTS thực hiện, khi được hỏi « Theo quý vị, sự thịnh vượng của Thụy Sĩ từ đâu mà có ? », nhiều người trong số họ trả lời « nhờ vào các ngân hàng ». Đối với Geneve nói riêng và Thụy Sĩ nói chung, câu chuyện về « bí mật ngân hàng » ngày nay là khá quen thuộc. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 từng làm thổi bùng lên dự đoán rằng sự suy giảm dần của bí mật ngân hàng sẽ kéo theo sự sụp đổ của mô hình tài chính Geneve. Nhưng điều đó đã không xảy ra.
Ngược lại, thành phố giàu có này đã tái tạo mô hình tài chính của mình. Với cuộc khủng hoảng đồng euro (2010 – 2012), một lần nữa hình ảnh về một nước Thụy Sĩ như là nơi « trú ẩn an toàn » lại nổi lên mạnh mẽ. Theo Marc Guéniat, chưa bao giờ lượng vốn đổ vào các ngân hàng Thụy Sĩ lại nhiều đến như thế trong giai đoạn đó. Sức hấp dẫn này trước hết là nhờ vào sự ổn định chính trị ngoại lệ của Thụy Sĩ:
« Trong 150 năm qua, Thụy Sĩ vẫn có cùng một kiểu chính phủ điều hành, với một Quốc Hội ổn định, không hề có bất kỳ biến động lớn nào. Họ không đột nhiên có một François Mitterrand được bầu lên nắm quyền, cũng không đột nhiên có một Nicolas Sarkozy được bầu. Thụy Sĩ đi theo một con đường gần như đã được định sẵn, và đó là điều mà người ta gọi là ổn định chính trị. Đây là một lợi thế đáng kể cho những người giàu có hoặc các doanh nhân, cho phép họ lập kế hoạch cho tương lai. Tôi nghĩ đó là một yếu tố then chốt của sự thịnh vượng của đất nước. »
Dù vậy, Marc Guéniat cũng nhìn nhận đằng sau sự ổn định đó, vẫn tồn tại những cơ chế tài chính ít minh bạch : « Tuy bí mật ngân hàng đã biến mất, nhưng vẫn còn một loạt các dịch vụ tài chính bình phong được Geneve cung cấp, thông qua đội ngũ các luật sư và người ủy thác cung cấp nhiều dịch vụ cho phép bạn cất giấu tiền để trốn thuế bất chấp việc trao đổi thông tin thuế tự động, bằng cách thành lập các công ty bình phong ở Bahamas hoặc các thiên đường thuế ở vùng Caribê. Vì vậy, cơ chế này về cơ bản vẫn còn tồn tại. »
Trong số các dịch vụ này, « cảng miễn thuế - port franc » là một ví dụ tiêu biểu. Marc Guéniat cho biết: « Cảng miễn thuế là các kho ngoại quan cho phép mọi người đăng ký hàng hóa, đặc biệt là các kiệt tác, và lưu trữ chúng mà không phải trả thuế trị giá gia tăng TVA. Điều này rõ ràng giúp tiết kiệm chi phí TVA, và sau đó cho phép họ lưu trữ tác phẩm nghệ thuật, âm thầm đầu cơ vào việc làm tăng giá của những thứ hàng hóa đó, và sau đó bán lại, với việc người mua phải trả thuế TVA ».
Những điểm mong manh tiềm tàng
Dù sở hữu một nền kinh tế mạnh mẽ, Geneve cũng không tránh khỏi những căng thẳng xã hội ngày càng gia tăng. Trong nhiều thập niên sau Đệ Nhị Thế Chiến, thành phố này đã xây dựng được một sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Marc Guéniat giải thích :
« Sau chiến tranh, Thụy Sĩ đã hình thành một loại liên minh chính trị giữa các đảng tự do, các đảng trung hữu và các đảng dân chủ xã hội, những đảng này đã được hợp nhất vào các chính phủ liên minh ở cả cấp bang và liên bang. Và kết quả của liên minh này là việc duy trì luật pháp thân thiện với doanh nghiệp, mang tính tự do, thuận lợi cho tinh thần kinh doanh, đồng thời cho phép phát triển một hệ thống phúc lợi xã hội đủ mạnh để bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất. »
Mô hình này đã mang lại nhiều cơ hội thăng tiến xã hội cho con cháu những người nhập cư sau Thế Chiến Thứ Hai. Tuy nhiên, theo Marc Guéniat, cỗ máy này bắt đầu có những dấu hiệu trục trặc trong 15 năm trở lại đây.
« Thành phố đã trải qua một làn sóng nhập cư đáng kể vào thời điểm đó để xây dựng một Thụy Sĩ đang phát triển nhanh chóng như hiện nay, trong số đó có nhiều người đến từ Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Và những người này, nhờ vào khế ước xã hội, đã có thể sinh con và cho con cái họ tiếp tục học lên cao hơn, và theo một cách nào đó, con cái họ đã thành công hơn thế hệ cha mẹ. Đúng là Thụy Sĩ có một chu kỳ tích cực, tồn tại khoảng sáu mươi năm. Và trong khoảng 15 năm trở lại đây, khi chu kỳ này phần nào chững lại, người ta đang chứng kiến sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng đáng kể, và những người làm việc toàn thời gian không còn đủ sống. »
Trong suốt hơn bốn thế kỷ, Geneve đã sống cùng với các biến động lớn của lịch sử thế giới. Từ các cuộc đàn áp tôn giáo ở châu Âu, những khủng hoảng tiền tệ, các biến động tài chính toàn cầu, cho tới đại dịch và chiến tranh hiện đại, thành phố này luôn tìm thấy cơ hội giữa những bất ổn.
Chính khả năng biến khủng hoảng của thế giới thành lợi thế của mình đã làm nên nét đặc thù cho Genève. Đó có lẽ là bí mật lớn nhất đằng sau sự thịnh vượng của thành phố : Trong khi nhiều nơi nhìn thấy rủi ro, Geneve trông thấy cơ hội. Và trong một thế giới ngày càng bất ổn, lợi thế ấy dường như vẫn chưa mất đi.
Thu, 20 Aug 2026 - 212 - Khí đốt Nga : Nghịch lý lớn của châu Âu
Vào lúc lệnh cấm nhập khẩu khí ga hóa lỏng LNG của Nga sắp có hiệu lực, châu Âu trong vòng sáu tháng đầu năm 2026, đã mua gần như toàn bộ lượng LNG do nhà máy Yamal tại Siberia sản xuất. Sự việc cho thấy thế khó khăn của Liên Hiệp Châu Âu (EU) để thoát khỏi sự phụ thuộc vào khí đốt Nga, đồng thời phản ảnh nguy cơ làm suy yếu hiệu quả của các biện pháp trừng phạt khi khối này liên tục cho phép các ngoại lệ.
Bất chấp các biện pháp trừng phạt, châu Âu chưa thể nào khóa được vòi khí đốt Nga. Trong một báo cáo công bố hồi đầu tháng 7/2026, Cơ quan Hợp tác Điều tiết Năng lượng EU (ACER) của Liên Hiệp Châu Âu ghi nhận : « Từ tháng 01-05/2026, nhập khẩu khí đốt qua đường ống tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025, trong khi nhập khẩu khí ga hóa lỏng LNG tăng 11% ».
Các dữ liệu từ công ty phân tích Kpler, được nhật báo tài chính Anh Financial Times dẫn lại, xác nhận xu hướng trên, theo đó, trong vòng sáu tháng đầu năm, Liên Âu mua gần như toàn bộ sản lượng của dự án Yamal LNG tại Siberia, do công ty tư nhân Novatek của Nga kiểm soát, đạt mức 9,89 triệu tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2025. Các nước Pháp, Bỉ và Tây Ban Nha là những nhà nhập khẩu khí đốt Nga nhiều nhất, để rồi từ đó tái xuất một phần sang các nước khác trong khu vực. Cũng theo Kpler, châu Âu dường như đã trả hơn sáu tỷ euro cho Nga.
Xung đột Trung Đông : Khí đốt Nga được lợi ?
Theo ACER, việc Liên Âu tăng nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) từ Nga là do các nước và doanh nghiệp tranh thủ nhập hàng trước khi các lệnh hạn chế mới có hiệu lực, cùng với những điều chỉnh trong hợp đồng và việc giữ lại một phần LNG vốn trước đây được trung chuyển sang nơi khác. Kênh truyền hình tư nhân Pháp BFMTV, nhắc lại, trung tuần tháng 3/2026, Liên Âu đã cam kết ngưng hoàn toàn mua khí đốt Nga từ đây đến tháng 11/2027. Các quy định của EU hiện nay cấm mua khí ga hóa lỏng Nga theo hợp đồng ngắn hạn. Và kể từ ngày 01/01/2027, lệnh cấm của EU đối với các hợp đồng dài hạn sẽ có hiệu lực.
Ngoài ra, xung đột ở Trung Đông cũng làm giảm nguồn cung LNG từ Qatar, đặc biệt sau các rủi ro liên quan đến eo biển Hormuz. Vì vậy, trong giai đoạn châu Âu tích trữ khí đốt cho mùa đông, Nga tiếp tục trở thành một nguồn cung quan trọng. Về điểm này, chuyên gia Philippe Chalmin, giáo sư tại đại học Paris Dauphine, chuyên gia về thị trường nguyên nhiên liệu, trả lời kênh truyền hình tư nhân Pháp LCI, nhìn nhận, một phần nguyên nhân còn do việc khí ga tự nhiên hóa lỏng của Nga chưa bị trừng phạt, và mặt khác, đó còn là một thực tế khác khá mỉa mai : Châu Âu cần khí hóa lỏng Nga để có thể nhập khẩu ít hơn từ Mỹ.
« Điều này diễn ra trong bối cảnh toàn cầu rất căng thẳng; hầu như không có LNG nào rời khỏi vùng Vịnh Ba Tư. Gần đây người ta đã chứng kiến một vụ tấn công, gây ra mối lo ngại đáng kể, vào một cảng dầu ở Damietta, Ai Cập, mà cho đến hiện tại người ta vẫn chưa xác định được hoàn toàn nguồn gốc.
Rõ ràng là thế giới hiện đang trải qua một thời kỳ căng thẳng liên quan đến khí tự nhiên hóa lỏng. Giá khí đốt lúc này không xa mức 20 đô la Mỹ/triệu BTU (đơn vị nhiệt Anh), và điều đó tương đương với giá ở châu Âu gần 60 euro/megawatt-giờ, vì vậy chúng ta đang ở trong một tình huống tương đối khó khăn.
Có một điểm quan trọng cuối cùng cần nhấn mạnh là trước đây, khi thời tiết tốt hơn, mùa cao điểm tiêu thụ khí đốt tự nhiên là mùa đông. Hiện nay, với những đợt nắng nóng, sau điều được gọi là "mùa sưởi ấm", chúng ta có mùa hè, "mùa làm mát", hay mùa của máy điều hòa. Điều này có nghĩa là lượng tiêu thụ điện tăng lên và do đó, tỷ lệ tiêu thụ khí đốt tự nhiên cũng tăng theo. »
Lệnh trừng phạt và những mâu thuẫn của Liên Âu
Theo Cơ quan Hợp tác Điều tiết Năng lượng EU, hiện nay khí đốt Nga vẫn chiếm 12% nhu cầu của khối. Tại hai nước Đông Âu là Hungary và Slovakia, khí đốt Nga chiếm từ 70 – 80% lượng tiêu thụ, được sử dụng chủ yếu cho sưởi ấm nhà và ngành công nghiệp. Từ góc độ này, chuyên gia về nguyên nhiên liệu Philippe Chalmin, giải thích vì sao châu Âu vẫn chưa sẵn sàng từ bỏ khí đốt Nga vào lúc lệnh cấm đối với LNG Nga sắp có hiệu lực vào đầu năm 2027.
« Nếu chúng ta muốn tuân theo logic của các lệnh trừng phạt, chúng ta thực sự sẽ phải từ bỏ LNG của Nga. Vấn đề là, chúng ta sẽ thay thế LNG của Nga bằng cái gì ? Về cơ bản là đối với châu Âu là bằng LNG của Mỹ. Nhưng như vậy, chúng ta có nguy cơ phải trả giá cao hơn cho LNG của Mỹ. Bởi vì, khi một tàu chở LNG rời vịnh châu Mỹ, như ông Trump nói, hoặc Vịnh Mexico, như cách gọi trước đây, thì có hai khả năng : Đi đến châu Âu, là lựa chọn gần nhất, hoặc đi đến châu Á. Hiện tại, sự chênh lệch giá cả khiến chúng nghiêng về phía châu Á nhiều hơn. Điều đó có nghĩa là có một cuộc đấu về giá cả giữa châu Á và châu Âu. »
Một nghịch lý khác cho thấy rõ sự phụ thuộc của EU đối với khí đốt Nga : Ngày 23/07/2026, để có thể đạt được gói trừng phạt thứ 21 nhắm vào Matxcơva, EU đã chấp nhận một ngoại lệ theo yêu cầu của Hy Lạp. Theo đó, nước này được phép tiếp tục vận chuyển LNG của Nga đến các nước thứ ba trong một số điều kiện nhất định, trái ngược hoàn toàn với quyết định được Liên Âu đưa ra vào trung tuần tháng Ba năm nay.
Thời báo Le Temps của Thụy Sĩ nhận định, quyết định này đã làm nổi rõ sự khó khăn ngày càng lớn của châu Âu trong việc thống nhất áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Matxcơva. Quyết tâm chính trị chung ngày càng vấp phải những thực tế thương mại và lợi ích quốc gia riêng. Việc cho phép các trường hợp ngoại lệ đồng nghĩa với việc tạo ra những kẽ hở và làm suy yếu một trong những công cụ gây sức ép quan trọng nhất của khối.
Đội tầu ma của Nga
Trong khoảng thời gian này Nga cũng đang điều chỉnh và thích nghi với tình hình, khi không ngừng mở rộng « hạm đội ma » nhằm tìm cách lách các lệnh trừng phạt bằng nhiều biện pháp như đổi cờ hiệu đăng ký, vô hiệu hóa hoặc gây nhiễu hệ thống định vị, cũng như sử dụng các công ty bình phong để che giấu hoạt động. Theo tiết lộ của Financial Times, « hạm đội ma » của Nga giờ có đến 25 tầu, bao gồm tám chiếc mua lại.
Mặc dù Liên Âu ngày càng siết chặt các biện pháp nhắm vào mạng lưới này, nhưng Matxcơva dường như vẫn luôn đi trước một bước. Gói trừng phạt mới nhất của EU lần đầu tiên nhắm vào các tầu và các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba hỗ trợ trực tiếp về hậu cần hoặc vận hành cho đội tầu bí mật. Tuy nhiên hiệu quả của các biện pháp đó vẫn còn hạn chế. Trên kênh truyền hình LCI, nhà sử học quân sự, Benoist Bihan, chuyên gia về các vấn đề chiến lược giải thích :
« Việc này sẽ trở nên khó khăn hơn bởi vì việc chuyển trở lại trực tiếp một số tầu dướiquốc kỳ Nga có thể cho phép Nga chẳng hạn như triển khai lực lượng bảo vệ có vũ trang trên tàu, hay nói cách khác là "quốc hữu hóa hạm đội ma" của mình. Điều đó sẽ khiến việc kiểm tra,chặn bắt hoặc khám xét các tàu này trên biển trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Bởi vì, việc kiểm soát một tầu mang cờ hiệu của nước thứ ba hoàn toàn khác với cách xử lý một con tàu treo quốc kỳ Nga và được hưởng sự bảo hộ trực tiếp của Nhà nước Nga.
Do đó, Nga cũng đang thích nghi với các biện pháp mà các nước châu Âu, trong đó có Pháp, đã áp dụng trong những tháng gần đây nhằm cản trở hoạt động của các tàu này. Nga vẫn có khả năng bố trí các tàu hộ tống đi kèm, điều này có thể buộc các nước phương Tây phải vượt qua những ngưỡng đối đầu nghiêm trọng hơn nếu muốn ngăn chặn tuyến vận tải này. Vì vậy, đây hoàn toàn không phải là một vấn đề đơn giản.
Tôi cũng muốn nói thêm rằngTuyến Hàng hải Phương Bắc (Northern Sea Route), chạy dọc phía bắc nước Nga và kết nối đến châu Á, hiện đang ngày càng được khai thác nhiều hơn. Khi khí hậu ấm lên, tuyến đường này không bị băng bao phủ lâu như trước và có thể hoạt động trong thời gian dài hơn trong năm.
Điều đó tạo ra những hành lang vận tải mới vì lượng băng ngày càng ít đi. Đồng thời, các tuyến đường này đặc biệt có lợi cho Nga vì chúng nằm trong những khu vực màhải quân NATO khó tiếp cận hoặc khó triển khai hoạt động quân sự, qua đó giúp Nga duy trì và phát triển các tuyến vận chuyển năng lượng sang thị trường châu Á. »
Song song với đội tầu ma, Nga hiện nay dường như cũng đang tự sản xuất các tầu chở khí tự nhiên hóa lỏng, qua đó từng bước giảm sự phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và công nghệ phương Tây. Trong bối cảnh này, trang Le Temps đặt câu hỏi : châu Âu đã thực sự sẵn sàng đi xa đến mức nào để cắt đứt nguồn khí đốt Nga, nguồn thu góp phần tài trợ cho cuộc chiến ở Ukraina ?
Một chính sách trừng phạt liên tục kèm theo các trường hợp ngoại lệ cuối cùng lại có thể gởi đi thông điệp ngược với mục tiêu ban đầu : Matxcơva vẫn có thể dựa vào những bất đồng và chia rẽ trong nội bộ Liên Âu, tờ báo kết luận.
Thu, 13 Aug 2026 - 211 - Thị trường robot hình người : Hoa Kỳ có đối phó được thế thống trị của Trung Quốc ?
Ngày 28/07/2026, chính quyền Donald Trump ra quyết định cấm nhập khẩu robot tiên tiến của nước ngoài. Biện pháp này, về thực chất, là nhắm vào các mẫu robot được tăng cường trí tuệ nhân tạo (AI) do Trung Quốc phát triển. Và theo nhiều nhà phân tích, động thái này của Mỹ còn làm nổi rõ cách tiếp cận cạnh tranh giữa hai siêu cường trong lĩnh vực này.
Hãng tin Mỹ AP cho biết lệnh cấm do Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ (FCC) ban hành còn áp dụng cho cả việc nhập khẩu các loại robot bốn chân mới (thường được gọi là robot chó) và một số bộ biến tần điện (power inverters) được sử dụng trong năng lượng tái tạo, trung tâm dữ liệu và thiết bị gia dụng. Và lệnh cấm này áp dụng đối với các « phiên bản mới » của những mặt hàng được nêu trên.
Robot tiên tiến và nỗi lo an ninh của Mỹ
Theo giải thích của FCC, các loại robot tiên tiến có thể tạo ra rủi ro về an ninh mạng, thu thập dữ liệu và làm gia tăng sự phụ thuộc của Mỹ vào chuỗi cung ứng nước ngoài. Chủ tịch của FCC, ông Brendan Car, cho biết hành động này nhằm « bảo đảm an toàn cho các chuỗi cung ứng trọng yếu của Mỹ ». Ngoài ra, chính quyền Trump cho biết đang cân nhắc các biện pháp kiểm soát việc sử dụng các mô hình trí tuệ nhân tạo AI mã nguồn mở của Trung Quốc, trong bối cảnh AI của nước này đang nhanh chóng gia tăng vị thế.
Theo nhiều chuyên gia được kênh truyền hình quốc tế France 24 trích dẫn, Hoa Kỳ có lý do để lo lắng cho an ninh quốc gia. Thế hệ robot hiện đại ngày nay, chủ yếu do Trung Quốc chế tạo, không chỉ để thực hiện các nhiệm vụ đơn giản như vẫy tay chào khách tham quan tại các hội nghị công nghệ đầu những năm 2000, mà là những mẫu robot dạng AI hiện thân (embodied AI). Chúng có thể nghe, nhìn, di chuyển và tương tác với môi trường, nhờ các thiết bị cảm biến, cũng như các mô hình ngôn ngữ lớn như ChatGPT hay DeepSeek, được cài đặt bên trong « cơ thể robot ».
Ông Valentin Weber, chuyên gia về Trung Quốc và các công nghệ tiên tiến, thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Đức (DGAP), trụ sở ở Berlin, nhận định mức độ tinh vi của những cỗ máy này đang đặt ra những thách thức mới cho an ninh Hoa Kỳ : « Với hệ thống cảm biến, những robot này có thể được xem như là những camera giám sát di động, thường được trang bị các chương trình nhận diện khuôn mặt. Hoa Kỳ không muốn những loại thiết bị này xuất hiện trong các môi trường nhạy cảm như văn phòng chính phủ hoặc các khu vực quân sự. »
Robot hình người : Trung Quốc thống lĩnh thị trường
Ngoài vấn đề an ninh, giới quan sát ghi nhận đây còn là vấn đề kinh tế. Tuy lệnh cấm mới của Mỹ không nhắm trực tiếp vào Trung Quốc, mà liên quan đến các thiết bị nước ngoài nói chung, theo kênh CNN, trong năm 2025, các nhà sản xuất Trung Quốc cung cấp « hơn 90% robot cho thế giới ». Các hãng Unitree, Agibot, UBTech và Galbot của Trung Quốc hầu như thống lĩnh thị trường mới nổi, qua mặt các hãng Figure AI, Tesla của Mỹ và Agile Robots của Đức.
Lệnh cấm được đưa ra vào thời điểm các khảo sát dự báo năm 2026 bùng nổ thị trường robot hình người. TrendForce, một công ty chuyên nghiên cứu về thị trường Robot của Đài Loan, trích dẫn các nguồn quan sát dự báo lượng xuất xưởng toàn cầu sẽ vượt mức 50 ngàn đơn vị, tăng hơn 700% so với năm 2025. Trong số này, Unitree và AgiBot của Trung Quốc chiếm gần 80% tổng sản lượng.
Và từ đây đến cuối năm 2030, con số này có thể đạt mốc 195 ngàn đơn vị. RBC Capital Markets đưa ra triển vọng dài hạn, đến năm 2050, sẽ có khoảng một tỷ robot trên trái đất với quy mô thị trường là 9 nghìn tỷ đô la, trong đó, Trung Quốc vẫn chiếm thị phần áp đảo trên 60%.
Ngày 20/08/2025, ông Johnny Chen, chủ tịch Solomon Technology Corporation, trong một phóng sự của kênh truyền hình quốc tế France 24, đã vẽ ra bức tranh ngành công nghiệp robot humanoid như sau : « Mỹ hiện đang đi đầu trong việc sản xuất robot hình người vì nước này có công nghiệp AI tân tiến nhất. Nhưng Trung Quốc Đại Lục đang tiến rất nhanh, đặc biệt là trong lĩnh vực phần cứng, nhờ nhiều nhà sản xuất có mặt ở đó. Lợi thế của Đài Loan ngày nay là chất bán dẫn và một số nhà sản xuất linh kiện có chất lượng cao. Bên nào cũng phải nỗ lực hết sức cho tương lai và tích hợp các nguồn lực khác nhau để có cơ hội cạnh tranh trong ngành công nghiệp robot hình người. »
Từ bức tranh tổng quan này, lệnh cấm trên của Mỹ còn là một cách để gây sức ép đối với một lĩnh vực mà Trung Quốc đã sớm đưa lên hàng đầu trong danh sách các ưu tiên công nghệ. Sự việc cũng làm nổi rõ hai tầm nhìn chiến lược khác nhau về phát triển AI.
Robot hình người : Trung Quốc và lợi thế chuỗi cung ứng
France 24 nhắc lại Trung Quốc thời Tập Cận Bình, ngay từ năm 2015, đã coi việc phát triển robot và AI là một chiến lược quốc gia. Rút kinh nghiệm từ khủng hoảng tài chính 2008, Bắc Kinh tin rằng phải dựa nhiều hơn vào công nghiệp, sản xuất và công nghệ có khả năng tạo ra giá trị vật chất. Tầm nhìn của Tập Cận Bình là sử dụng AI để nâng cấp các lĩnh vực sản xuất và nền kinh tế thực, thay vì chỉ phát triển các ứng dụng số hay dịch vụ trực tuyến. Sự xuất hiện của ChatGPT tháng 11/2022 là chất xúc tác, thúc đẩy Trung Quốc tăng tốc đầu tư vào AI hiện thân.
Trong chương trình truyền hình của France 24, Lucas Goumarr, nhà sáng lập và tổng giám đốc hãng Korben Robotique của Pháp nhấn mạnh vai trò của chính phủ Trung Quốc trong chiến lược phát triển AI : « Nhà nước Trung Quốc hoạt động dựa trên các kế hoạch phát triển mà người ta gọi là kế hoạch năm năm. Trong các kế hoạch 5 năm đó, robot học chính là một trong số các ưu tiên chiến lược. Điều thú vị là nên hiểu được lý do tại sao. »
Về cơ bản, việc phát triển robot giúp Trung Quốc giải quyết hai thách thức kinh tế : Thiếu hụt lao động trong một số ngành nghề vì ngày càng có ít người Trung Quốc muốn làm công nhân nhà máy và thách thức nhân khẩu do dân số lão hóa nhanh chóng. Bắc Kinh hy vọng rằng robot có thể dần thay thế con người trong nhiều công việc, từ đó nâng cao năng suất lao động khi lực lượng lao động trong độ tuổi làm việc không còn đủ lớn để duy trì các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của chính phủ.
Kết quả là trong vòng 20 năm, từ là một công xưởng thế giới, Trung Quốc – đặc biệt là Thâm Quyến, đã vươn lên thành một trong những trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới. Cũng trong chương trình của France 24, Stephane Bohbot, chủ tịch Innov8 Group, giải thích :
« Điểm đáng chú ý là Trung Quốc đã thực hiện một sự chuyển đổi rất mạnh mẽ. Xuất phát từ một nền kinh tế dựa chủ yếu vào sản xuất và công nghiệp, họ đã xây dựng được năng lực sản xuất rất lớn với chi phí thấp, nhờ tự động hóa và robot hóa quy trình ở quy mô lớn. Đồng thời, ngày nay họ cũng sở hữu các trung tâm đổi mới sáng tạo mạnh mẽ, đặc biệt tại Thâm Quyến và Nam Xương (Nanchang), khu vực thường được gọi là “thung lũng robot”, với khoảng hơn một chục trường đại học đào tạo những kỹ sư chất lượng cao. Điều này tạo ra sự gắn kết rất chặt chẽ giữa khu vực học thuật và khu vực công nghiệp. Các kỹ sư mới tốt nghiệp có thể nhanh chóng tham gia trực tiếp vào các trung tâm sản xuất và nghiên cứu, từ đó tạo ra những sản phẩm có năng lực cạnh tranh rất cao. »
Một điểm khác không kém phần quan trọng tạo nên thế mạnh cho Trung Quốc trong cuộc đua chiến lược với Mỹ : Lợi thế chuỗi cung ứng khổng lồ, theo như quan sát của ông Stephane Bohbot: « Đối với một robot hình người, gần như80% linh kiện cần thiết có thể được tìm thấy và tiếp cận chỉ trong vài giờ. Điều này giúp đẩy nhanh đáng kể quá trình chế tạo nguyên mẫu (prototype). Thời gian từ khi phát triển sản phẩm đến khi đưa ra thị trường chỉ khoảng 9 tháng, nhanh gấp đôi so với nhiều nơi khác trên thế giới. Chính điều đó tạo nên khả năng lặp lại và cải tiến sản phẩm cực nhanh của Trung Quốc. Đây là một trong những thế mạnh lớn nhất của họ. »
Hoa Kỳ và ưu thế năng lực AI
Vậy vì sao Hoa Kỳ vẫn luôn được xếp đầu bảng cuộc đua ? Theo giải thích của trang robotnewstoday, số lượng không phải là thước đo duy nhất. Hoa Kỳ có nhiều hãng công nghệ danh tiếng đang dẫn đầu về công nghệ AI nền tảng (foundation-model AI) và các ứng dụng công nghệ giá trị cao có trả phí, như mô hình robot có khả năng tư duy, thay vì chỉ tập trung vào các sản phẩm giá rẻ.
Nhà tỷ phú Elon Musk của Tesla đã đưa ra tham vọng trong vòng 2-3 năm tới dự kiến đưa ra thị trường hơn một triệu robot hình người. Ông còn tuyên bố sẽ có một sự chuyển hướng chiến lược lớn : Từ một công ty sản xuất ô tô điện, Tesla sẽ trở thành một doanh nghiệp sản xuất robot.
Chuyên gia Valentin Weber, trả lời France 24, tóm tắt chiến lược của Mỹ : « Hoa Kỳ tập trung chủ yếu vào việc phát triển các mô hình tiên tiến và đặt cược nhiều vào năng lực tính toán và các trung tâm dữ liệu để tạo ra các hệ thống AI ngày càng hiệu quả hơn ». Một quan điểm cũng được Lucas Goumarr đồng chia sẻ.
Tuy nhiên, vị giám đốc trẻ tuổi của hãng Pháp Korben Robotique lưu ý thêm về một thách thức khác cho Mỹ, « có một điểm quan trọng khác khi nhìn vào sự tập trung mạnh mẽ của ngành robot tại châu Á. Một công ty nổi tiếng khác của Mỹ là Boston Dynamics, đã bị hãng Hyundai, một tập đoàn của Hàn Quốc mua lại. Điều đó cho thấy rõ là mặc dù Hoa Kỳ cố gắng phát triển thị trường robot hình người, ngành công nghiệp này vẫn có mức độ tập trung rất cao tại châu Á. »
Hoa Kỳ và nỗi lo phụ thuộc trí tuệ nhân tạo Trung Quốc
Nhìn chung, « biện pháp mới này của Mỹ là nhằm bảo đảm trong dài hạn, các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ sử dụng công nghệ và robot của Mỹ », theo như đánh giá Guangyu Qiao-Franco, chuyên gia về công nghệ mới ở Trung Quốc, thuộc đại học Radboud Nijmegen, Hà Lan, với France 24. Đối với Washington, một trong những kịch bản xấu nhất là Hoa Kỳ trở nên phụ thuộc vào robot Trung Quốc trong một nền kinh tế ngày càng dựa vào máy móc được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo tiên tiến.
Vẫn còn phải xem liệu Hoa Kỳ có đủ khả năng để bắt kịp sự chậm trễ trong lĩnh vực cụ thể này hay không. Guangyu Qiao-Franco thừa nhận : « Đây là câu hỏi lớn, và chắc chắn sẽ không dễ dàng khi mà hệ sinh thái sản xuất của Trung Quốc đã rất phát triển để sản xuất những robot này với số lượng lớn ».
Về phần mình, nhà nghiên cứu người Đức Valentin Weber nhận định: « Trung Quốc cũng rất giỏi trong việc hạ giá thành. Cơ hội tốt nhất cho Mỹ là hợp tác chặt chẽ với các đối tác khác, đặc biệt là các đối tác châu Âu, để đưa ra các lựa chọn thay thế ». Chỉ có điều, vấn đề « Hợp tác quốc tế », không hẳn là điểm mạnh của Donald Trump, France 24 kết luận !
Thu, 06 Aug 2026 - 210 - Hợp tác chiến lược Trung Quốc, Nga, Iran, Bắc Triều Tiên : Một thách thức lớn cho Mỹ
Tuy không có hiệp ước phòng thủ chung chính thức giống như Liên minh Bắc Đại Tây Dương NATO, chiến tranh giữa Mỹ và Iran ở Trung Đông đang thúc đẩy bốn nước Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên hành động như một khối có liên kết chiến lược. Mối quan hệ hợp tác này có thể là một thách thức to lớn đối với Hoa Kỳ.
Những năm gần đây, mỗi khi nói đến các cuộc khủng hoảng quốc tế, từ chiến tranh Ukraina đến căng thẳng ở Trung Đông, người ta thường nghe nhắc đến một nhóm quốc gia gồm Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên, mà nhiều nhà phân tích phương Tây gọi là « CRINK », được ghép từ chữ cái đầu bằng tiếng Anh của bốn quốc gia (China, Russia, Iran và North Korea). Mạnh mẽ hơn, nhóm bốn nước này còn bị chỉ định là « trục gây bất ổn », « trục chống phương Tây » hay « trục các quốc gia gây hấn ».
CRINK : Một khối thống nhất như NATO ?
Câu hỏi quan trọng : Liệu đây có thực sự là một khối thống nhất giống như NATO? Hay người ta đang đơn giản hóa một thực tế phức tạp hơn rất nhiều. Chủ đề vẫn gây tranh cãi trong giới quan sát, giữa một bên cho rằng Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên đang hình thành một liên minh chiến lược chặt chẽ nhằm đối đầu với Mỹ và phương Tây, và bên kia thì cho rằng « không tồn tại bất kỳ khối nào », rằng mỗi nước theo đuổi lợi ích riêng và không có sự phối hợp đáng kể.
Thực tế cho thấy là cả hai cách nhìn này đều chưa hoàn toàn chính xác. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ hợp tác quân sự và an ninh giữa bốn nước đã gia tăng mạnh mẽ, nhất là kể từ khi Nga tiến hành « chiến dịch quân sự đặc biệt » ở Ukraina năm 2022. Các hoạt động chuyển giao vũ khí, hàng hóa lưỡng dụng, các cuộc tập trận chung và những thỏa thuận song phương xuất hiện với tuần suất cao hơn.
Tuy cho đến nay bốn nước này chưa có một cấu trúc chỉ huy chung hay một cơ chế phòng thủ tập thể, nhưng theo ghi nhận của các tác giả một báo cáo đăng trên trang Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) ngày 30/09/2025, CRINK đang tồn tại như một mạng lưới hợp tác linh hoạt hơn là một liên minh quân sự chính thức. Xung đột giữa Israel và Iran trong giai đoạn 2024-2026 là phép thử rõ nét nhất cho nhận định trên.
Bắc Triều Tiên : Lợi ích quốc gia trên cả ý thức hệ, tình hữu nghị
Nếu thực sự tồn tại một « khối » thống nhất như NATO, người ta có thể kỳ vọng rằng khi Iran đối mặt với áp lực quân sự, ba đối tác còn lại sẽ ngay lập tức tham gia hỗ trợ một cách mạnh mẽ. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Và Bắc Triều Tiên là một ví dụ đáng chú ý nhất. Thái độ thận trọng của Bình Nhưỡng cho thấy lợi ích quốc gia của Bắc Triều Tiên vẫn được đặt lên trên bất kỳ tình cảm ý thức hệ nào.
Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt (ngày 18/06/2026), nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về Nam Á, Trung Á và Vịnh Ba Tư, nhận định : « Thời gian gần đây, Cơ quan Tình báo Quốc gia Hàn Quốc (NIS) có đưa ra một thông điệp khá rõ ràng, cho thấy Bắc Triều Tiên đã khẳng định họ không hậu thuẫn Iran trong suốt cuộc chiến, vì muốn duy trì mối quan hệ tốt với chính quyền Trump trong tương lai. Bình Nhưỡng không muốn là mục tiêu sau khi chiến tranh Iran kết thúc. »
Nga và Iran : Mối quan hệ đối tác chặt chẽ
Tuy nhiên, Nga lại có một cách hành xử khác. Iran không chỉ là một đối tác mà còn là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới giúp Matxcơva đối phó với các biện pháp cô lập của phương Tây. Trong chiến tranh Ukraina, Iran đã cung cấp cho Nga một lượng lớn drone Shahed và nhiều loại khí tài khác, đổi lại, Matxcơva đã mở rộng hợp tác quân sự, chia sẻ công nghệ và ký kết các thỏa thuận chiến lược, hỗ trợ Teheran trong nhiều lĩnh vực quốc phòng.
Về điểm này, chuyên gia địa chính trị Didier Chaudet cho biết thêm rằng « một lượng lớn vũ khí đã được vận chuyển từ các cảng của Nga tại vùng biển Caspi đến Iran. Tất nhiên, đây là cách Nga lách các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Iran, một phần để đáp trả những lời chỉ trích về việc thiếu hỗ trợ trong năm 2025 khi căng thẳng giữa Israel và Iran tăng cao. Thật vậy, đối với Nga, nếu Iran sụp đổ, có nguy cơ thực sự họ sẽ là nạn nhân tiếp theo, khiến liên minh phương Tây trở nên quyết liệt hơn đối với Nga trong tương lai. »
Đây cũng là quan điểm của nhà nghiên cứu Andrea Kendall - Taylor, giám đốc Chương trình An ninh Xuyên Đại Tây Dương, Trung tâm An ninh Hoa Kỳ Mới (CNAS), khi trả lời trang RFE/RL (24/07/2026). Theo bà, việc Iran sụp đổ có nguy cơ tạo ra bất ổn sâu rộng tại Trung Đông, đồng thời làm suy yếu một trong những đối tác quan trọng nhất của Nga. Thế nên, việc duy trì sự tồn tại và ổn định của Iran phù hợp với lợi ích chiến lược của Matxcơva.
Trung Đông ổn định là lợi ích của Bắc Kinh
Trong khi đó, Bắc Kinh lại chọn một cách tiếp cận khác thận trọng hơn. Trung Quốc tránh can dự quân sự trực tiếp, nhưng duy trì các mối quan hệ sâu rộng với Iran. Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà địa chính trị học Didier Chaudet phân tích : « Ai cũng biết rằng Trung Quốc mua dầu của Iran, vì điều này nằm trong lợi ích của họ. Tương tự, trong khoảng thời gian 2025-2026 (…) rõ ràng đã có các hoạt động buôn bán những loại sản phẩm không thuộc diện trừng phạt do Mỹ và các đồng minh áp đặt, những sản phẩm không nằm trong phạm vi pháp luật, nhưng lại giúp tái thiết đặc biệt là khả năng tên lửa tầm trung của Iran. »
Bắc Kinh không nhất thiết hành động vì mục tiêu bảo vệ Iran vô điều kiện. Lợi ích của Trung Quốc nằm ở một Trung Đông ổn định, đủ để bảo đảm các tuyến năng lượng và thương mại, đồng thời tránh sụp đổ nhà nước dẫn tới chiến tranh kéo dài. Một Iran hỗn loạn hoặc rơi vào nội chiến sẽ gây bất ổn cho toàn bộ khu vực và tác động đến kinh tế toàn cầu, điều mà Trung Quốc cũng như là châu Âu hoàn toàn không mong muốn, theo giải thích của nhà nghiên cứu Didier Chaudet.
Lệnh trừng phạt của phương Tây : Mẫu số chung của CRINK
Nhưng khi quan sát CRINK, người ta phát hiện ra một nghịch lý thú vị: Bốn nước này tuy không phối hợp ở mức độ cao như một liên minh quân sự thực sự, nhưng họ vẫn liên tục hỗ trợ lẫn nhau. Vậy điều gì đang gắn kết họ với nhau ? Đó là các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây. « Nhìn từ Trung Quốc, một nước như Hoa Kỳ có thể áp đặt luật lệ của mình ra ngoài lãnh thổ nhắm mục tiêu các công ty cùng nhiều thực thể của Trung Quốc, nhất là trong hồ sơ Iran, là điều càng ngày càng không thể chấp nhận trên phương diện luật quốc tế », theo đánh giá của chuyên gia Chaudet.
Trong hoàn cảnh này, việc tăng cường hợp tác với nhau giữa bốn nước là một lựa chọn hợp lý. Nhà phân tích Andrea Kendall - Taylor gọi đây là một mạng lưới linh hoạt, vừa chia sẻ nguồn lực, vừa giúp nhau giảm tác động các biện pháp trừng phạt. Một trong những tác động quan trọng nhất của mạng lưới là giúp tăng cường năng lực của từng thành viên, đồng thời làm suy giảm hiệu quả các công cụ gây sức ép từ phương Tây.
Ví dụ điển hình nhất là Bắc Triều Tiên. Trong nhiều năm, hình ảnh phổ biến về quốc gia này là một nền kinh tế trì trệ và cô lập, nhưng tình hình đã được cải thiện đáng kể trong hai năm gần đây. Theo giải thích của chuyên gia Didier Chaudet, « bởi vì Triều Tiên đang được hưởng lợi từ việc họ có thể hợp tác với Nga và kiếm tiền từ Nga dưới danh nghĩa hỗ trợ mà họ dành cho Nga trong cuộc chiến ở Ukraina. Bởi vì Trung Quốc, đối mặt với áp lực quốc tế từ những lãnh đạo cũng nhắm mục tiêu vào các thực thể Trung Quốc, đã quyết định nới lỏng các quy định thương mại giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. »
CRINK : Một mạng lưới linh hoạt
Điều này giải thích vì sao, bất chấp các lệnh cấm vận kéo dài, nền kinh tế Bắc Triều Tiên vẫn cho thấy có những dấu hiệu cải thiện tương đối. Từ góc độ quan hệ quốc tế, đây không còn là câu chuyện về tình hữu nghị hay ý thức hệ, mà là vấn đề lợi ích. Nga cần đạn dược và nhân lực. Bắc Triều Tiên cần tiền và công nghệ. Iran cần thị trường xuất khẩu dầu mỏ và đối tác quân sự. Trung Quốc cần các đối tác sẵn sàng cùng mình chống lại những gì Bắc Kinh coi là một sự áp đặt ngoài lãnh thổ của luật pháp và trừng phạt từ Mỹ. Mỗi bên đều có thứ mình muốn và mỗi bên đều có thứ để trao đổi.
CRINK không phải là một phiên bản NATO đối lập, không phải là một liên minh có bộ chỉ huy chung. Không có nghĩa vụ phòng thủ tập thể giữa bốn nước và cũng không phải lúc nào các thành viên cũng sẵn sàng bảo vệ nhau bằng sức mạnh quân sự. Do vậy, cuộc xung đột Mỹ - Iran đã bộc lộ các giới hạn của nhóm.
Nhưng cũng sẽ sai lầm nếu cho rằng cả bốn nước này không hoàn toàn liên kết với nhau. Mạng lưới hợp tác này ngày càng được thắt chặt và được thúc đẩy bởi các lợi ích chiến lược, nhu cầu chống chịu các lệnh trừng phạt, cũng như là mong muốn xây dựng một trật tự quốc tế mà họ cho là ít bị chi phối hơn từ sức mạnh của Mỹ và phương Tây.
Bài toán nhiều mặt trận : Mối họa lớn nhất cho Mỹ
Dù không phải là một khối thống nhất, đó cũng không hẳn là những quốc gia hành động riêng lẻ. Chính vùng xám này giữa hai cách hiểu là điều khiến giới phân tích ở Mỹ đặc biệt lo lắng. Trong một tập sách mới do tổ chức Foundation for Defense of Democraties vừa phát hành, tựa đề « Trục các quốc gia gây hấn : Đối phó với sự hợp tác giữa Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên », các tác giả cảnh báo rằng cách thức mà bốn chế độ chuyên chế này hỗ trợ nhau trong các lĩnh vực quân sự, kinh tế, không gian mạng và công nghệ có nguy cơ đặt Hoa Kỳ trước nhiều thách thức lớn. Trả lời kênh Fox News Digital ngày 29/07/2026, Mark Montgomery, cựu đô đốc Hải quân Mỹ, đã vẽ ra một kịch bản tồi tệ nhất là ông cho là mối nguy hiểm lớn nhất : « bài toán nhiều mặt trận đồng thời ».
Hoa Kỳ sẽ phải ứng phó ra sao nếu trong cùng một lúc xảy ra đối đầu giữa Trung Quốc và Đài Loan, Bắc Triều Tiên có thể gây áp lực với Hàn Quốc hoặc tiến hành các cuộc tấn công hạn chế nhằm kìm chân lực lượng Mỹ, và một cuộc xung đột giữa Nga và các quốc gia Baltic thành viên NATO, kèm theo đó là các hoạt động khủng bố hoặc hành động thù nghịch từ Iran ? Mark Montgomery kết luận : Hoa Kỳ nên xem nhóm bốn nước này là một « mối đe dọa thống nhất, đe dọa tổng hợp » mà họ phải đối đầu trong « mọi khu vực khủng hoảng » !
Thu, 30 Jul 2026 - 209 - Nguyên tắc ngoài lãnh thổ : Kho vũ khí pháp lý mới của Trung Quốc trong cạnh tranh thương mại
Ngày 22/06/2026, Trung Quốc thông báo loạt trừng phạt mới có hiệu lực ngay lập tức nhắm vào hàng chục công ty Mỹ, chủ yếu trong các lĩnh vực quốc phòng và đất hiếm để đáp trả quyết định của Lầu Năm Góc đưa các tập đoàn như Alibaba và BYD vào danh sách đen. « Ăn miếng, trả miếng », Bắc Kinh kể từ giờ không ngần ngại trừng phạt các công ty nước ngoài, mà còn cấm các doanh nghiệp trong nước tuân thủ các biện pháp ngoài lãnh thổ của những nước khác, đặc biệt là Mỹ.
Để đáp trả nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ, Trung Quốc đang hoàn thiện các công cụ pháp lý của mình. Từ nhiều năm qua, Bắc Kinh triển khai kho vũ khí pháp lý vượt ra ngoài lãnh thổ, mà nạn nhân liên đới đầu tiên là lĩnh vực kinh tế. Trên đài France 24, chuyên gia Mathieu Duchâtel, giám đốc nghiên cứu quốc tế, Viện Montaigne, trước hết giải thích đôi nét về nguyên tắc ngoài lãnh thổ : « Đơn giản đó là việc áp dụng luật pháp quốc gia ở nước ngoài. Có thể là đối với các chủ thể quốc gia hiện diện ở nước ngoài, các cá nhân, các tác nhân kinh tế, nhưng đôi khi là đối với chính các chủ thể nước ngoài. Cách tiếp cận truyền thống là đối với các tội phạm hình sự do công dân của nước mình đang ở nước ngoài gây ra, điều này có thể bao gồm các thỏa thuận dẫn độ hoặc nhiều cách thức khác để xử lý họ. »
Hoa Kỳ : Quốc gia đi đầu về luật ngoài lãnh thổ
Nguyên tắc ngoài lãnh thổ không phải là hiện tượng mới. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên sử dụng cách tiếp cận này như một cơ chế bảo hộ nhằm ngăn chặn tất cả các rủi ro hiện có, bao gồm cả những rủi ro liên quan đến chống hối lộ quan chức nước ngoài, trừng phạt và cấm vận. Giáo sư Mathias Audit, chuyên ngành luật trường đại học Sorbonne, từng giải thích trong một hội thảo: « Luật ngoài lãnh thổ của Mỹ dựa trên hai nguyên tắc : Thứ nhất, nếu một công ty nước ngoài được hưởng lợi từ thị trường của Mỹ thì họ cũng phải tôn trọng các quy tắc của Mỹ. Thứ hai, trên thị trường quốc tế, các công ty Mỹ không được ở thế bất lợi về cạnh tranh, do đó nảy sinh ý tưởng áp đặt các công ty không phải của Mỹ vào cùng những ràng buộc. »
Từ 1976 đến 2019, Mỹ ban hành 7 đạo luật mang tính ngoài lãnh thổ, liên quan đến nhiều lĩnh vực, từ kiểm soát hoạt động buôn bán vũ khí, chống hối lộ, kiểm soát thị trường tài chính, đến chống khủng bố, bảo vệ dữ liệu hay chống doping trong thể thao. Nếu như phần lớn các tập đoàn lớn châu Âu là nạn nhân của luật ngoài lãnh thổ Mỹ, việc sử dụng nguyên tắc này đã gia tăng đáng kể từ khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng năm 2017 nhằm ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận công nghệ phương Tây.
Theo chuyên gia Mathieu Duchâtel, Hoa Kỳ đã áp dụng nguyên tắc này một cách tùy tiện đối với các công ty châu Âu và châu Á để ngăn họ xuất khẩu sang Trung Quốc, mà vụ án Mạnh Vãn Châu là một ví dụ điển hình. Năm 2018, để trả đũa việc Canada quyết định bắt giam nữ giám đốc tài chính, con gái nhà sáng lập Hoa Vi tại Vancouver theo yêu cầu của Mỹ, chính quyền Trung Quốc đã bắt giữ và tống giam hai công dân Canada là Michael Kovrig et Michael Spavor trong vòng hơn 1.000 ngày trong những điều kiện ngặt nghèo. Sự việc đã gây ra khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng giữa Ottawa và Bắc Kinh.
Ba mục tiêu
Đối với Trung Quốc, sự phát triển của nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ dường như là một hành động gây hấn nhắm thẳng vào chính quyền Bắc Kinh. Cảm thấy bị đe dọa bởi tất cả các điều khoản về luật ngoài lãnh thổ của Mỹ kể từ khi Hoa Vi bị tuyên bố là mối đe dọa an ninh mạng tiềm tàng vào năm 2009, Trung Quốc thời Tập Cận Bình đã có những thay đổi triệt để về lập trường. Ngay từ năm 2019, ông đã có một tuyên bố rõ ràng, kêu gọi tất cả các thể chế Trung Quốc, Nhà nước, Đảng, xây dựng một đạo luật có hiệu lực ngoài lãnh thổ cho đến thời điểm đó vẫn còn khá hạn chế.
Trả lời France 24, nhà nghiên cứu về Đông Á, Mathieu Duchâtel, giải thích tiếp : « Đó là một loạt các văn bản mang tính chất kinh tế. Tôi nghĩ điều cốt lõi trong tất cả những điều này là ý tưởng về sự trả đũa, được đưa vào trong luật thương mại quốc tế của Trung Quốc. Trước hết, đây là một biện pháp tương tự như cách tiếp cận của Mỹ, nghĩa là lập danh sách các thực thể không đáng tin cậy, các thực thể nước ngoài, cuối cùng định nghĩa chúng một cách rất rộng rãi là các chủ thể kinh tế, hoặc thậm chí, không nhất thiết là các chủ thể kinh tế, mà là các chủ thể mà hành động của họ có thể gây nguy hiểm cho lợi ích của Trung Quốc. Đó là về lợi ích, chứ chưa phải là vấn đề an ninh. »
Trong một bài ghi chú đăng vào tháng 12/2025, Viện Montaigne giải thích luật ngoài lãnh thổ của Trung Quốc theo đuổi ba mục tiêu. Thứ nhất, nguyên tắc ngoài lãnh thổ được thiết kế để giải quyết sự cạnh tranh mang tính hệ thống với Hoa Kỳ. Đây là kho vũ khí phòng thủ của Bắc Kinh nhằm mục đích giảm thiểu tác động của các lệnh trừng phạt kinh tế của Hoa Kỳ và chống lại các hạn chế xuất khẩu của Mỹ, ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận các công nghệ lưỡng dụng.
Thứ hai, Bắc Kinh cũng áp dụng luật lệ của mình ở nước ngoài để tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng toàn cầu bằng cách tuân theo lô-gic thực dụng, tập trung vào việc bành trước sức mạnh và cân bằng quyền lực với Hoa Kỳ. Chính quyền Bắc Kinh cố gắng sử dụng luật pháp Trung Quốc để giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, chẳng hạn như ở Biển Đông, và sử dụng ngôn ngữ pháp lý của mình để hợp pháp hóa các hành động của Trung Quốc.
Cuối cùng, Trung Quốc áp dụng các chính sách an ninh công của mình ra ngoài lãnh thổ để triển khai các biện pháp của Trung Quốc về an ninh nội địa (người nước ngoài, bất đồng chính kiến, các vấn đề liên quan đến Hồng Kông và Đài Loan) trên phạm vi toàn cầu. Bắc Kinh cho thiết lập các đồn cảnh sát phi chính thức ở nước ngoài, và tìm cách cưỡng chế hồi hương một số công dân của mình. Việc đe dọa, răn đe và dẫn độ cưỡng bức công dân Trung Quốc ở nước ngoài đặt ra một thách thức đáng kể đối với các nền dân chủ châu Âu.
Theo quan sát của Mathieu Duchâtel, khi nói đến « lợi ích », Trung Quốc đã đề ra một phạm vi áp dụng nguyên tắc ngoài lãnh thổ rất rộng, vượt ngoài phạm vi an ninh quốc gia. « Điều cần hiểu là mọi biện pháp mà Trung Quốc thực hiện để giảm thiểu tính chất dễ bị tấn công trước nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ đều có thể được sử dụng để tấn công và cưỡng chế. Điểm khác biệt trong cách tiếp cận của Trung Quốc và cụ thể là Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong văn hóa chiến lược của mình, thực sự có ý tưởng về chiến tranh thông qua luật pháp.
Điều này được thể hiện trong các vấn đề không chỉ thuần túy về kinh tế, mà cả trong tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc có cả một chiến lược sử dụng luật pháp để củng cố hay hợp pháp hóa các lập trường của mình. Trên thực tế, Bắc Kinh có một đường hướng chỉ đạo chung, đi từ các vấn đề lãnh thổ đến các hồ sơ kinh tế và địa kinh tế. »
« Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết »
Được trang bị cả một kho vũ khí pháp lý, Trung Quốc kể từ giờ không chỉ có thể đáp trả với các biện pháp ngoài lãnh thổ của Mỹ như lập danh sách đen các cá nhân, thực thể hay doanh nghiệp, mà còn có thể kiểm soát điểm đến cuối cùng của nhiều mặt hàng xuất khẩu giống như những gì Washington đã thực hiện từ nhiều thập niên thông qua một số luật, trong đó, đáng chú ý nhất là luật I-TAR, kiểm soát xuất khẩu vũ khí và luồng lưu thông trang thiết bị quân sự Mỹ.
Vị giám đốc nghiên cứu quốc tế Viện Montaigne, trên đài France 24 nhắc lại : « Trung Quốc có luật kiểm soát xuất khẩu từ năm 2021, có hiệu lực từ năm 2025. Nhưng Trung Quốc đã thực hiện kiểm soát xuất khẩu đối với các nguyên vật liệu quan trọng mà họ chiếm ưu thế mà không có lý do pháp lý chính đáng. » Đây là những gì xảy ra đối với đất hiếm, một vũ khí chiến lược lợi hại mà Bắc Kinh giờ không ngần ngại sử dụng để đối đầu với Washington. Danh sách đất hiếm bị cấm xuất khẩu đang liên tục được mở rộng, đặc biệt là đối với gali và germani, những nguyên tố thiết yếu trong lĩnh vực bán dẫn.
Không những có khả năng phòng thủ, tấn công, và Bắc Kinh giờ còn có thể ngăn cấm các doanh nghiệp tuân thủ các trừng phạt của phương Tây. Kể từ năm 2021, Trung Quốc đã củng cố một đạo luật gồm 15 điều khoản để chống lại việc áp dụng các biện pháp ngoài lãnh thổ của Mỹ và Châu Âu trên lãnh thổ Trung Quốc. Tuy nhiên, phải đợi đến ngày 02/05/2026, Bắc Kinh lần đầu tiên sử dụng đến « luật ngăn chặn » hay luật chống trừng phạt nước ngoài, cấm các doanh nghiệp Trung Quốc tuân thủ lệnh trừng phạt do Washington áp đặt vào cuối tháng 4/2026 nhằm vào năm nhà máy lọc dầu Trung Quốc với cáo buộc những hãng này đã mua dầu của Iran đang bị Hoa Kỳ cấm vận.
Trong cuộc đọ sức Mỹ - Trung này, theo ông Mathieu Duchâtel, Châu Âu hiển nhiên rơi một kịch bản tồi tệ, theo đó, « một doanh nghiệp châu Âu vừa phải tuân thủ các quy định ngoài lãnh thổ của Mỹ, nhưng để đáp lại sự tuân thủ này, họ phải đối mặt với các yêu cầu trái ngược từ Trung Quốc. » Cũng theo vị chuyên gia, châu Âu hiện cam kết bảo đảm an ninh kinh tế và gần đây cũng đề ra « luật ngăn chặn ». Nhưng giữa luật ngoài lãnh thổ của Mỹ, và luật ngăn chặn cũng như ngoài lãnh thổ của Trung Quốc, liệu rằng « luật ngăn chặn » của châu Âu có đủ sức để đương đầu với hai ông khổng lồ thương mại ?
Thu, 16 Jul 2026 - 208 - Châu Mỹ Latinh ngả theo cánh hữu và cực hữu : Thành công chính trị của Trump ?
Hơn một tuần sau thắng lợi bầu cử của Abelardo de la Espriella tại Colombia (21/06/2026), đến lượt Keiko Fujimori, con gái của nhà độc tài Alberto Fujimori, được loan báo về đầu trong cuộc bầu cử tổng thống Peru ngày 07/06/2026. Chỉ trong vòng 18 tháng, các ứng cử viên liên minh hoặc liên kết với Donald Trump thắng cử tổng thống hay lập pháp tại bảy nước châu Mỹ La-tinh.
Bước đột phá ngoạn mục của phe theo chủ nghĩa dân tộc – dân túy dường như đã mang đến cho Donald Trump một thắng lợi trong chính sách của ông tại khu vực.
Sự dịch chuyển này đã bắt đầu từ năm 2019, với thắng lợi bầu cử của Nayib Bukele tại Salvador, rồi như một hiệu ứng đô-mi-nô, phe cực hữu trong những năm gần đây lần lượt giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử lập pháp và tổng thống tại các nước Achentina, Bolivia, Chilê, Costa Rica, Ecuador, Honduras, Panama và gần đây nhất là Colombia và Peru.
Tình trạng mất an ninh, bài di dân : Những điểm chung
Sau « làn sóng mầu hồng » trong những năm đầu thập niên 2020, ngoại trừ Uruguay, hầu như toàn bộ các cuộc bầu cử ở khu vực châu Mỹ Latinh những năm gần đây đều có lợi cho cánh hữu hoặc các đảng cánh hữu cực đoan và tự do nhất. Bước đột phá bầu cử này, tuy bắt nguồn từ nhiều vấn đề quốc gia khác nhau nhưng theo quan sát của nhà chính trị học Gaspar Estrada, chuyên gia về Nam Bán Cầu, thuộc London School of Economics, vấn đề an ninh, chống các băng đảng tội phạm, di dân là những điểm chung trong các cuộc bầu cử gần đây.
Trên làn sóng RFI Pháp ngữ, ông giải thích : « Trong những tháng gần đây, vấn đề mất an ninh đã trở thành mối bận tâm hàng đầu ở khu vực châu Mỹ Latinh, và hầu hết các cuộc thăm dò dư luận trong khu vực đều xác nhận xu hướng trên. Điều này trái ngược hoàn toàn với một thập kỷ trước, khi tham nhũng là một chủ đề nổi bật hơn nhiều trong không gian công luận và là chủ đề trọng tâm trong các chiến dịch tranh cử. »
Anthony Pereira, một chuyên gia về nghiên cứu Châu Mỹ Latinh tại đại học Tulane ở Louisiana, chỉ ra rằng yếu tố đã dẫn đến sự sụp đổ của cánh tả tại Nam Mỹ là giá cả nguyên nhiên liệu. Trả lời kênh truyền hình France 24, ông giải thích :
« Khi giá cả cao, người ta có thể thực hiện các chương trình viện trợ, tăng lương và cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục. Số người sống trong nghèo đói giảm, và các phong trào tiến bộ giành được chỗ đứng trong khu vực. Nhưng khi không thể duy trì các chương trình này do giá cả giảm, thì sự lạc quan của những năm 2010 đã nhường chỗ cho sự thất vọng. Đồng thời, tội phạm có tổ chức ngày càng lớn mạnh và kiểm soát được toàn bộ các khu phố, thậm chí cả nhà tù. Và cử tri bắt đầu hưởng ứng nhiệt tình hơn đối với các ứng cử viên tự xưng là người chống lại giới cầm quyền. »
Không chỉ đối với cánh tả, sự trỗi dậy của làn sóng « cánh hữu cứng rắn » còn phản ánh một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong các chính đảng truyền thống mà Colombia là một ví dụ mới nhất, theo như phân tích của Mathilde Allain, chuyên gia về Nam Mỹ, giảng viên trường đại học Sorbonne Nouvelle, với France 24 : « Chúng ta đang chứng kiến sự sụp đổ của cánh hữu truyền thống Colombia, vốn không thể tìm được ứng cử viên nào xứng đáng. Lá phiếu dành cho Abelardo de la Espriella cũng là lá phiếu chống lại các chính đảng, chống lại giới tinh hoa và chống lại giới cầm quyền, như chúng ta đã thấy ở những nơi khác trên lục địa ».
Một trong những chìa khóa thành công của « cánh hữu cứng rắn » nằm ở chiến lược truyền thông. Hoạt động tích cực trên mạng xã hội, những ứng cử viên này phần lớn bỏ qua các kênh chính trị truyền thống bằng cách tập trung vào giao tiếp trực tiếp, được cá nhân hóa và thường mang tính khiêu khích, cực đoan, như ủng hộ xu hướng vãn hồi trật tự bằng vũ lực, thậm chí bằng quân sự để chống các băng đảng tội phạm, chống di dân bất hợp pháp, được cho là nguồn cội làm gia tăng tội phạm, hay bài sinh thái, chống các quyền của giới LGBT…
Donald Trump: Điểm kết nối lớn
Tuy nhiên, giữa các ứng viên cực hữu này, còn một điểm chung khác quan trọng hơn : Tất cả đều chia sẻ các quan điểm, giá trị với nước Mỹ thời Donald Trump và đều được ông Trump hậu thuẫn ! Đối với nhiều nhà quan sát, thắng lợi bầu cử của Abelardo de la Espriella tại Colombia và bà Keiko Fujimori ở Peru khẳng định xu thế « Trump hóa » ở châu Mỹ, đặc biệt là Nam Mỹ, với một kiểu liên minh quốc tế các đảng cánh hữu cực đoan đang được hình thành để cùng giải quyết một số vấn đề.
Thomas Posado, giảng viên về Văn minh châu Mỹ Latinh đương đại, trường đại học Rouen Normandie, trên trang Huffpost, phân tích : « Donald Trump chắc chắn là một trong những động lực thúc đẩy sự cực đoan hóa này. Đầu tháng 3 năm nay, ông đã triệu tập Liên minh"Lá chắn châu Mỹ", tập hợp tất cả các tổng thống cánh hữu và cực hữu của châu Mỹ Latinh, dẫn đến việc hình thành kiểu liên minh này, một liên minh trông giống như sự phục tùng hơn. Nói cách khác, họ đang cố gắng tận dụng thành công của Donald Trump. Họ đang cố gắng tận dụng triển vọng nhận được tài trợ từ Mỹ. »
Quả thật Nhà Trắng đã có sự can thiệp về ngoại giao chưa từng có vào các cuộc bầu cử ở châu Mỹ Latinh. Ông Donald Trump không ngần ngại khoe khoang rằng những thành công bầu cử đạt được là nhờ sự ủng hộ của ông. Tuy nhiên, theo các nhà quan sát, Donald Trump có xu hướng sử dụng kiểu ngoại giao dọa dẫm, cứng rắn hơn là mềm mỏng với các nước Nam Mỹ. Tại Achentina, ông đặt điều kiện viện trợ của Mỹ phụ thuộc vào chiến thắng của Javier Milei trong cuộc bầu cử lập pháp năm 2025 và đã ký kết thỏa thuận thương mại với đồng cấp Achentina sau thắng lợi bầu cử. Nhưng thỏa thuận này chủ yếu mang lại lợi ích cho nông dân Mỹ tại thị trường Achentina.
Nếu như liên minh này nhằm mục đích chống các băng đảng ma túy như được thể hiện tại kỳ họp thượng đỉnh « Lá chắn châu Mỹ », thì mục tiêu chính của ông Trump là Trung Quốc. Tại khu vực này, Bắc Kinh là đối tác thương mại hàng đầu và do vậy, nguyên thủ Mỹ đang nỗ lực hạn chế tầm ảnh hưởng này của Trung Quốc. Nước Mỹ của Donald Trump muốn giành lại chỗ đứng ở Nam Mỹ, và để đạt mục tiêu này, họ không ngần ngại sử dụng các biện pháp gây áp lực chính trị.
Học thuyết Donroe có duy trì được liên minh ?
Theo Thomas Posado, đây chính là điểm hạn chế của liên minh của Hoa Kỳ với các nhà lãnh đạo cực hữu Nam Mỹ. « Ví dụ, vấn đề Trung Quốc ngay từ đầu đã là một cái gai trong mắt phe cực hữu ở châu Mỹ Latinh. Khi vận động tranh cử, những người như Bolsonaro hay Milei đều tuyên bố,"Không bao giờ nữa, đó là chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc, chúng ta sẽ không giao thương với họ."
Nhưng khi lên cầm quyền, họ nhận ra rằng đã tồn tại những mạng lưới thương mại vận hành hiệu quả, các doanh nghiệp cần giao dịch với Trung Quốc và có những cơ hội mà Hoa Kỳ không thể mang lại. Vì vậy, chúng ta sẽ phải chờ xem Hoa Kỳ có thể đảo ngược những động lực quyền lực này hay không. Hiện tại, bất chấp mọi tuyên bố về ý chí chính trị từ các nhà lãnh đạo cực hữu, vẫn chưa có thay đổi đáng kể nào trên mặt trận này. »
Học thuyết Donroe cũng vì thế mà ra đời. Trong nỗ lực giành lại ảnh hưởng, Donald Trump đã dùng lại học thuyết Monroe nhưng theo cách của ông. Học thuyết Monroe được đưa ra dưới thời tổng thống Theodore Roosevelt (1901-1909) nhằm loại trừ ảnh hưởng của châu Âu khỏi khu vực. Nhưng thay vì « giơ cao đánh khẽ » thì Donald Trump lại sử dụng biện pháp « đao to búa lớn » nhằm áp đặt thế bá quyền của Mỹ.
Theo « học thuyết Donroe » mới này, châu Mỹ Latinh phải trở lại là « sân sau » của Mỹ, hiện đang tìm cách chiếm đoạt các nguồn tài nguyên chiến lược như những gì đã diễn ra ở Venezuela. Trả lời trang HuffPost, nhà nghiên cứu về châu Mỹ Latinh, Thomas Posado, lưu ý, chiến lược này của chính quyền Trump là con dao hai lưỡi :
« Chúng ta đang chứng kiến một kiểu can thiệp quân sự được kỳ vọng sẽ bù đắp cho những điểm yếu về kinh tế. Canh bạc của Donald Trump khi quay trở lại một cách cưỡng ép với chủ nghĩa can thiệp của Mỹ có nguy cơ sẽ là một canh bạc tồi về lâu dài và thậm chí làm trầm trọng thêm đà suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong khu vực. Donald Trump rất có thể sử dụng vũ lực để buộc các nước Châu Mỹ Latinh phải giao thương với Mỹ, nhưng đó không phải là một kịch bản chắc chắn sẽ xảy ra ».
Trong trước mắt, Donald Trump đang ghi điểm khi có thêm nhiều đồng minh mới ở châu Mỹ Latinh. Nhưng mối liên kết này với Washington không hẳn là vững chắc như cho thấy. Không những Trung Quốc vẫn tiếp tục mở rộng các hoạt động kinh tế trên lục địa này, mà người dân châu Mỹ Latinh không hẳn đều ủng hộ liên minh đó. Chuyên gia về Nam Mỹ Thomas Posado cảnh báo: Việc phải sống dưới áp lực và đe dọa nhiều hơn là lợi ích kinh tế, về lâu dài, sẽ khiến người dân Nam Mỹ bất mãn, và làm đổ vỡ mối liên minh này.
Cuộc bầu cử tổng thống Brazil vào tháng 10/2026 sẽ là một phép thử quan trọng cho tương lai chính trị khu vực. Giới quan sát dự báo, đó sẽ là một cuộc đối đầu mạnh mẽ giữa một bên được cho là cánh tả đi theo đường lối của tổng thống đương nhiệm Lula Da Silva và bên kia là phe cực hữu, hiện diện đông đảo ở Brazil, ủng hộ cựu tổng thống Bolsonaro được Trump hậu thuẫn !
Thu, 09 Jul 2026 - 207 - Nhân dân tệ : Chiến lược của Trung Quốc để « cạnh tranh » với đô la Mỹ
Ngày 17/06/2026, Trung Quốc thông báo một loạt các biện pháp mới nhằm thúc đẩy quốc tế hóa đồng nhân dân tệ. Bắc Kinh tiến thêm một bước trong một chiến lược lớn hơn hướng tới quốc tế hóa nhân dân tệ để giảm dần sự phụ thuộc vào đô la Mỹ, và xác lập một vị trí trong hệ thống thanh toán tài chính toàn cầu nhằm khẳng định vị thế của một cường quốc kinh tế, công nghệ và quân sự.
Cụ thể, Bắc Kinh cho phép sáu ngân hàng nhà nước, bao gồm cả Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc thực hiện các giao dịch bằng nhân dân tệ với nước ngoài tại vùng đặc quyền kinh tế Thượng Hải. Một kế hoạch hành động với ba thời điểm mốc là 2027, 2030 và 2035 cũng được công bố.
Ngoài ra, theo Reuters, Bắc Kinh loan báo thành lập một cơ chế mới có tên gọi FIMA RMB Repo, nhằm tạo thuận lợi cho các ngân hàng trung ương nước ngoài, các quỹ đầu tư quốc gia và các định chế tài chính quốc tế tiếp cận thanh khoản bằng nhân dân tệ, thông qua việc sử dụng trái phiếu Trung Quốc có xếp hạng tín nhiệm cao làm tài sản thế chấp để vay nhân dân tệ.
Phản đối thế thống trị của đô la
Giới quan sát đánh giá đây là một bước tiến mới trong nỗ lực quốc tế hóa nhân dân tệ mà Bắc Kinh thực hiện từ hơn hai thập niên qua với một mục tiêu rất rõ ràng : Củng cố vai trò của đồng nhân dân tệ trong giao thương quốc tế và dự trữ ngoại hối, đồng thời giảm thiểu các rủi ro do sự phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 là một ví dụ điển hình, khiến Trung Quốc đặc biệt lo lắng, do quy mô danh mục đầu tư vào các trái phiếu Mỹ mà nước này nắm giữ.
Chuyên gia về châu Á,và kinh tế Trung Quốc, Philippe Aguigner, hiện giảng dạy tại trường INALCO, trong bài phân tích đăng trên trang mạng của Viện Montaigne, ngày 14/10/2025, lưu ý, từ khi cải cách kinh tế và tiền tệ năm 1979 cho đến khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001 và nhất là trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Trung Quốc « chỉ tập trung vào việc quản lý dòng vốn ra vào mà không tìm cách cạnh tranh với đô la cũng không muốn quốc tế hóa nhân dân tệ ».
Khủng hoảng xảy ra, Bắc Kinh tỏ thái độ không hài lòng đối với hệ thống tiền tệ lấy đô la làm trung tâm, theo như nhận xét của Barry Eichengreen, một nhà nghiên cứu về hệ thống tiền tệ quốc tế với nhật báo kinh tế Les Echos: « Thực ra từ năm 2009, Trung Quốc đã và đang thực hiện các bước nhằm thúc đẩy việc sử dụng rộng rãi hơn đồng tiền của mình trong các giao dịch xuyên biên giới. Trung Quốc nhận thấy những rủi ro của việc phụ thuộc vào đồng tiền của nước khác, cụ thể là phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ - đặc biệt trong bối cảnh chính sách kinh tế và đối ngoại của Mỹ trở nên khó đoán định. »
Cùng với thời gian, việc kinh tế Trung Quốc hội nhập sâu hơn vào thế giới đã làm thay đổi diện mạo. Thâm hụt mậu dịch của Mỹ với Trung Quốc ngày càng lớn, biến Bắc Kinh thành tâm điểm chỉ trích. Washington cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ để kích thích xuất khẩu. Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đã gia tăng khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng năm 2017 và nhất là trong nhiệm kỳ II (bắt đầu vào năm 2025) với những cuộc chiến thuế quan.
Kiểm soát dòng vốn : Rào cản để quốc tế hóa đồng yuan
Đối với Bắc Kinh, việc chính quyền Trump hiện nay hành động ngoài cơ chế đa phương, áp đặt tùy tiện các mức thuế quan, sử dụng các biện pháp trừng phạt tài chính và theo đuổi các chính sách ngân sách thiếu trách nhiệm, minh chứng rõ ràng cho những nguy cơ đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu mà Trung Quốc đã lên án từ lâu nay.
Từ góc nhìn này, Phan Công Thắng (Pan Gongsheng), thống đốc ngân hàng trung ương Trung Quốc, tại Diễn đàn Tài chính châu Á, tổ chức ở Thượng Hải vào tháng 6/2025 đã bày tỏ mong muốn tái cân bằng hệ thống tiền tệ quốc tế và công bố các mục tiêu của Bắc Kinh nhằm « đưa nhân dân tệ trở thành đồng tiền trụ cột chứ không phải thay thế đô la » điều mà dẫu sao « đồng nhân dân tệ hiện cũng chưa có khả năng thực hiện ».
Quan điểm này của Bắc Kinh đã được chủ tịch Tập Cận Bình, một lần nữa tái khẳng định trong bài viết đăng trên tạp chí Cầu Thị (Qiushi), cơ quan lý luận chủ chốt của đảng Cộng sản Trung Quốc, vào cuối tháng 01/2026 : « Điều gì làm nên một cường quốc tài chính ? Trước hết, quốc gia đó phải sở hữu một đồng tiền mạnh, được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế, đầu tư và trên các thị trường ngoại hối, đồng thời giữ vị thế là một đồng tiền dự trữ toàn cầu. »
Tuy nhiên, để đồng yuan có được một thế mạnh trên thế giới, Trung Quốc phải mở rộng cửa thị trường tài chính, cho đến hiện tại vẫn bị kiểm soát chặt chẽ. Nghĩa là, theo như giải thích từ nhà kinh tế học Eric Monnet, chuyên gia về tiền tệ, giáo sư trường Kinh tế Paris, với nhật báo kinh tế Les Echos, « phải là bất kỳ ai, khi nói "bất kỳ ai" tức là cả nhà đầu tư tư nhân lẫn nhà đầu tư công, đặc biệt là các ngân hàng trung ương lớn, đều có thể dễ dàng mua đồng tiền đó vào bất cứ lúc nào. Điều này có nghĩa là đã phải tồn tại các thị trường để thực hiện việc đó. Và bất kỳ nhà đầu tư nào cũng có thể mua đồng tiền đó ở bất kỳ đâu và thông thường cũng có thể bán lại mà không gặp nhiều khó khăn »,
Bài học kinh nghiệm 2015
Nói một cách ngắn gọn : Một đồng tiền quốc tế là phải dễ mua, dễ bán và có một thị trường toàn cầu hoạt động liên tục. Đây chính là điểm mạnh của đồng đô la Mỹ, điều mà nhân dân tệ Trung Quốc vẫn thiếu. Bắc Kinh hiểu rõ các hạn chế : Công cụ hiệu quả nhất để đẩy mạnh đồng yuan là phải tự do hóa tài khoản vốn, nhưng nếu mở cửa, nguy cơ tháo chạy vốn là rất cao. Đó là những gì từng diễn ra vào năm 2015 khi Trung Quốc nới lỏng kiểm soát dòng vốn. Biện pháp này đã dẫn đến việc tháo chạy dòng vốn ồ ạt, gây thiệt hại cho Trung Quốc đến gần 1.000 tỷ đô la dự trữ ngoại hối, và cuối cùng phải quay trở lại với chính sách kiểm soát chặt chẽ.
Theo phân tích của nhà kinh tế học Eric Monnet : « Trung Quốc khá do dự khi thực hiện biện pháp này, bởi vì điều đó có nghĩa là các nhà đầu tư có thể mua nhưng cũng có thể bán nợ của Trung Quốc một cách tự do, và do vậy, chúng có thể gây áp lực lên chính phủ cũng như lên các khoản đầu tư tại Trung Quốc. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận rằng các quốc gia nước ngoài có thể nắm giữ những phần sở hữu lớn trong các doanh nghiệp, v.v… »
Dù nỗ lực muốn một đồng yuan mạnh và phổ biến trên thế giới, nhưng đối với Bắc Kinh, việc kiểm soát được dòng vốn còn là một lá chủ bài quan trọng cho nền kinh tế, cho phép giữ giá đồng yuan thấp so với các loại ngoại tệ khác, và như vậy, giúp hỗ trợ ngành xuất khẩu của Trung Quốc. Cho đến hiện tại Bắc Kinh tiến hành từng bước quốc tế hóa đồng yuan với các biện pháp có mục tiêu và đặt cược vào mô hình ít tự do hơn, phù hợp với cấu trúc nền kinh tế đất nước, bằng cách thực hiện các khoản vay song phương gắn liền với các giao dịch thương mại.
Nhà kinh tế học Eric Monnet giải thích tiếp : « Nghĩa là Ngân hàng Trung ương Trung Quốc chỉ cho một ngân hàng trung ương khác vay khi quốc gia đó cam kết mua hàng hóa Trung Quốc bằng đồng nhân dân tệ. Thực chất, chúng ta đang quay trở lại một cách nhìn về tiền tệ quốc tế hoàn toàn gắn với thương mại và ít dựa hơn vào sự thống trị của các thị trường tài chính. »
Bước cải cách hệ thống kinh tế - tài chính này được đưa ra vào một thời điểm khá thuận lợi cho Trung Quốc: Vị thế của đồng yuan trên trường quốc tế đang được củng cố. Trung Quốc chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Các nước như Nga, Iran đã bắt đầu giao dịch với Trung Quốc bằng đồng yuan thay vì đô la. Về phần mình, Bắc Kinh mua ngày càng nhiều dầu hỏa Trung Đông bằng nhân dân tệ.
Trung Quốc cũng đã phát triển hệ thống thanh toán quốc tế riêng để cạnh tranh với Swift, và một nền tảng trao đổi tiền kỹ thuật số mang tên M-Bridge. Tất cả nhằm tránh phụ thuộc vào hệ thống tiền tệ và tài chính gắn với đồng đô la. Vậy với chiến lược này, liệu đồng nhân dân tệ có thể thay thế đồng đô la?
Trong tương lai gần, đô la Mỹ vẫn là « vô đối ». Đô la không chỉ mạnh vì Mỹ là một nền kinh tế lớn mà vì cả hệ sinh thái tài chính toàn cầu : Dự trữ ngoại hối của đô la Mỹ chiếm 60% so với euro là 20% và nhân dân tệ chỉ có 2%. Phần lớn các giao dịch thương mại quốc tế được thực hiện bằng đô la Mỹ trong khi đồng yuan chỉ chiếm từ 3-4% trong thị trường thanh toán toàn cầu, dù rằng trong năm 2025, khoảng 30% giao dịch hàng hóa ở Trung Quốc được lập hóa đơn bằng nhân dân tệ theo các số liệu do Goldman Sachs công bố.
Ngoài ra, theo nhận định của chuyên gia châu Á Philippe Aguigner, quá trình quốc tế hóa đồng yuan diễn ra chậm còn vì quán tính của người sử dụng : Họ không có động lực để thay đổi hệ thống hay đồng tiền – trừ khi lợi ích của việc thay đổi là rất lớn. Thế nên, khi nhìn vào thống kê dự trữ ngoại hối, người ta nhận thấy chỉ khoảng một phần tư sự suy giảm của đồng đô la mang lại lợi ích cho nhân dân tệ.
Chuyên gia Philippe Aguigner, cảnh báo : « Hiện tại, vị thế thống trị của đồng đô la trong thương mại và với tư cách là đồng tiền dự trữ vẫn được củng cố vững chắc, và Trung Quốc gần như không có khả năng thay đổi điều đó. Tuy nhiên, chỉ cần Hoa Kỳ mắc một sai lầm chiến lược thì toàn bộ cục diện có thể bị đảo lộn. »
Thu, 02 Jul 2026 - 206 - Lực lượng Hezbollah Liban và những cội rễ của xung đột Israel - Iran
Cái tên Hezbollah một lần nữa trở thành tâm điểm của thời sự quốc tế khi tương lai hòa bình hay chiến tranh giữa Mỹ và Iran được quyết định một phần chủ yếu tại vùng biên giới Liban – Israel, nơi quân đội Israel đối đầu với lực lượng Hezbollah.
Từ eo biển Hormuz Vùng Vịnh đến sông Litani, miền nam Liban
Điều 1 của Thỏa thuận sơ bộ Mỹ - Iran 14 điểm yêu cầu đình chiến tại Liban, bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Liban, cũng có nghĩa là Israel phải rút khỏi các vùng đất đang kiểm soát tại đây. Teheran từng đe dọa đóng cửa trở lại eo biển Hormuz, nếu khu vực miền Nam Liban, cách đó 2.000 km, chưa im tiếng súng.
Cuối năm 2024, sau khi thủ lĩnh tối cao Hassan Nasrallah và hàng loạt lãnh đạo cao cấp của Hezbollah bị Israel hạ sát, lực lượng này tưởng như đang trên đường suy tàn. Cuộc chiến Mỹ - Israel chống Iran rút cuộc đưa Hezbollah trở lại tuyến đầu.
Hezbollah được biết đến vừa như một đảng chính trị của cộng đồng Hồi giáo theo hệ phái Shia tại Liban, nhưng đồng thời cũng là một tổ chức vũ trang, được mệnh danh là « một nhà nước trong nhà nước ». Hezbollah được một số cơ sở nghiên cứu xếp vào « lực lượng vũ trang phi nhà nước » lớn nhất khu vực. Lá cờ của tổ chức này nổi bật với cụm từ « Hezbollah », có nghĩa là « Đảng của Thượng Đế », với một cánh tay cầm khẩu súng trường AK-47, tượng trưng cho chủ trương tranh đấu vũ trang, chống lại các thế lực áp bức (xem thêm What Is Hezbollah?, Viện tư vấn Council on Foreign Policy).
Hezbollah, sản phẩm « made in 1982 » của chế độ Hồi giáo Iran?
Hezbollah thường được coi là một tổ chức do chế độ thần quyền Iran lập ra, sau cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979, để phục vụ các mục tiêu của Teheran. Tuy nhiên, đối với nhiều chuyên gia, quá trình ra đời của lực lượng này cho thấy mối quan hệ lâu đời giữa các cộng đồng Hồi giáo theo hệ phái Shia ở Liban với Iran. Trả lời RFI tiếng Việt, nhà báo Farid Fatemi, Ban tiếng Persan RFI, nhận định :
« Hezbollah là một sản phẩm, có thể nói là hệ quả trực tiếp của cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran. Vào thời điểm Cách mạng Iran nổ ra, người ta thường nói đến « xuất khẩu cách mạng ». Chế độ Iran đã nhanh chóng tận dụng những mối quan hệ lâu đời giữa giới giáo sĩ theo hệ phái Hồi giáo Shia Iran và cộng đồng Shia ở Liban, đặc biệt là ở miền nam Liban. Chẳng hạn, Iran đã cử các thành viên của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đến miền Nam Liban. Các giáo sĩ Iran cũng đến đó và bắt đầu tổ chức dần dần các nhóm Shia nhỏ lẻ. Cũng đã có những nhóm Shia nhỏ tồn tại từ trước. Họ hỗ trợ và tài trợ cho các nhóm này. Dần dần, những nhóm này hợp nhất lại và Hezbollah ra đời vào đầu thập niên 1980.»
Hai thập niên Israel chiếm đóng miền nam Liban và sự ra đời, lớn mạnh của Hezbollah
Cho dù chế độ Hồi giáo Iran muốn xuất khẩu cách mạng, theo nhiều nhân chứng, Hezbollah sẽ không thể hình thành với hình thức như sau này, nếu không có việc Israel chiếm đóng miền nam Liban với mục tiêu thoạt tiên là để đánh đuổi các lực lượng Palestine lưu vong.
Đọc thêm - Điểm lại lịch sử tranh đấu vì độc lập: Từ "20 năm bị xóa sổ" đến Nhà nước PalestineNhiều thập niên sau, cựu thủ tướng Israel Ehud Barak thừa nhận: « Khi chúng tôi tiến vào Liban, Hezbollah chưa hề tồn tại. Chúng tôi đã được người Hồi giáo dòng Shia ở miền nam chào đón bằng cơm thơm và hoa. Chính sự hiện diện của chúng tôi tại đó đã tạo ra Hezbollah ». Nhận định trên đây được trích dẫn trong một bài viết của Matthew Levitt, chuyên gia chống khủng bố, từng làm việc cho FBI (Le Hezbollah au Liban : Concilier allégeance à l'Iran, militantisme panchiite et politique intérieure).
Hezbollah được thành lập trong thời kỳ hỗn loạn của cuộc Nội chiến Liban (1975–1990), nhưng chính cuộc chiếm đóng kéo dài của Israel tại miền nam Liban là giai đoạn mà Hezbollah nổi lên như một lực lượng chính trị lớn tại Liban, và tổ chức duy nhất được phép duy trì lực lượng vũ trang riêng tại Iran, theo Thỏa thuận Taif năm 1989, chấm dứt nội chiến. Nhà báo Farid Fatemi nhận định:
« Vì miền nam Liban bị Israel chiếm đóng, Hezbollah đã tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao chống lại Israel tại đây. Cuối cùng, sau gần 20 năm chiếm đóng, Israel buộc phải rút quân khỏi miền nam Liban vào năm 2000. Khi Israel rút đi, sự kiện này đã trở thành một chiến thắng vinh quang đối với Hezbollah. Họ tuyên bố: ''Chính chúng tôi đã kháng cự, buộc Israel phải rời đi. Không phải chính phủ Liban, mà là Hezbollah đã kháng cự và đuổi được Israel ra khỏi đất nước.'' Từ đầu những năm 2000, Hezbollah đã xây dựng được uy tín và dần dần trở thành một thể chế ở Liban. Đó không chỉ là một lực lượng quân sự, mà còn là một lực lượng chính trị. »
« Trục kháng chiến » :Sức mạnh quân sự của một thành phần chủ chốt
Sức mạnh quân sự của Hezbollah không chỉ áp đảo quân đội Liban. Cho đến trước cuộc chiến tranh 2023-2024 với Israel, tổ chức này được coi là sở hữu kho tên lửa từ 100.000 đến 130.000 trái, có thể tấn công mọi vị trí tại Israel, và được xem như có thể tạo ra sức mạnh răn đe đáng kể khiến Israel phải dè chừng (theo nhà nghiên cứu Jean-Loup Samaan). Lực lượng vũ trang của Hezbollah bao gồm khoảng 25.000 tay súng thường trực, cùng với khoảng 20.000 quân dự bị (theo tài liệu tổng hợp của Trường Quân sự Paris, « L’axe de la résistance », l’expansionnisme régional iranien, Trung tâm Tài liệu của Trường Quân sự Paris, 2021).
Trên thực tế, theo nhiều nhà quan sát phương Tây, sức mạnh quân sự chủ yếu của Hezbollah nằm ở chỗ lực lượng này được coi là một bộ phận chủ chốt trong số các lực lượng ủy nhiệm của Iran ở nước ngoài, được đặt dưới sự điều hành trực tiếp của lực lượng al-Qods của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran. Al-Qods với khoảng 15.000 người, là lực lượng điều phối của nhiều nhóm vũ trang từ bờ đông Địa Trung Hải (bao gồm Liban) đến bán đảo Ả Rập, và Afghanistan, Pakistan và khu vực Trung Á, để thực hiện các mục tiêu của Teheran. Đây là liên minh thường được gọi là « Trục Kháng chiến », mà Iran chủ trương để chống lại các tham vọng của Mỹ và Israel.
« Wilāyat al-faqīh »và sự thống trị của Iran trong thế giới Hồi giáo Shia
Trong liên minh dưới sự chỉ đạo của Iran, học thuyết Velayat-e Faqih dành cho giới giáo sĩ tiếng nói quyết định đã là nguyên tắc cho phép khẳng định sự trung thành của Hezbollah với Giáo chủ tối cao Iran, được xem như người có uy tín tuyệt đối với đông đảo tín đồ Hồi giáo Shia tại Liban. Đây được coi là lý do chính khiến Hezbollah là lực lượng đầu tiên tham chiến chống lại Israel, sau khi Mỹ và Israel tiến hành chiến dịch quân sự hạ sát giáo chủ tối cao Khamenei. Nhà báo Farid Fatemi cho biết :
« Học thuyết Velayat-e Faqih đã tái sử dụng khái niệm chống Mỹ và chống « chủ nghĩa Zion », tức chủ nghĩa phục quốc Do Thái, để tăng cường ý thức hệ, đem lại sắc thái tôn giáo cho các tư tưởng này, và giúp các tư tưởng này thâm nhập vào cộng đồng người Shia Liban. Học thuyết này ban đầu mang ý nghĩa thuần túy tôn giáo, nhưng mất dần ý nghĩa tôn giáo sau đó. Để so sánh, điều này cũng tương tự như khái niệm « chuyên chính vô sản », sau đó mất hoàn toàn ý nghĩa và chỉ còn là công cụ để khẳng định chế độ độc tài, như chế độ của Stalin chẳng hạn. Đặc biệt, khi Hiến pháp Iran thêm từ ''tuyệt đối'' vào học thuyết Velayat-e Faqih, điều đó có nghĩa là giáo chủ tối cao có thể làm bất cứ điều gì mà họ muốn. Hezbollah cũng cố gắng làm điều tương tự ở Liban. »
Đọc thêm : Vì sao hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran có khả năng kháng cự cao?Hezbollah bám rễ trong xã hội Liban
Học thuyết Velayat-e Faqih và các diễn ngôn Hồi giáo Shia của nhánh 12 imam tử đạo đã được Hezbollah sử dụng hiệu quả trong việc xây dựng một cộng đồng xã hội được tổ chức chặt chẽ tại Liban, khiến cho mọi nỗ lực loại trừ lực lượng này từ phía chính quyền trung ương chắc chắn sẽ dẫn đến nội chiến. Nhà báo Farid Fatemi giải thích:
« Hezbollah cũng có một lãnh tụ tôn giáo, người cố gắng trở thành lãnh tụ tối cao. Tuy nhiên, Liban là một quốc gia đa văn hóa với nhiều cộng đồng thiểu số. Vì vậy trên thực tế, Hezbollah chỉ áp dụng học thuyết này trong cộng đồng người Shia ở Liban. Bên ngoài cộng đồng đó, người dân không muốn nghe đến khái niệm kiểu này. Nhưng bên trong cộng đồng Shia, nơi đã có một niềm tin sâu sắc và tâm lý tuân phục đối với giới giáo sĩ, họ đã bổ sung học thuyết này để xác lập một khuôn khổ xã hội mang tính chính trị nhiều hơn, và dĩ nhiên là với mức độ tổ chức cao hơn. Dần dần từ đó mà xây dựng một cấu trúc về mặt hành chính, tài chính và chính trị, sau khi đã khẳng định được sức mạnh về mặt quân sự. Học thuyết Velayat-e Faqih chỉ là một phần của các diễn ngôn của hệ phái Hồi giáo Shia rộng hơn, bao gồm khái niệm về ''thánh chiến'', về ''chiến tranh chống chủ nghĩa Phục quốc Do Thái'', và tinh thần hy sinh tử vì đạo, mà Hezbollah thường xuyên sử dụng. »
An ninh miền nam Liban: Những bài học của nửa thế kỉ qua
Sự sụp đổ của chế độ Assad tại Syria, một đồng minh quan trọng của Hamas, và đòn chí mạng đối với Hezbollah cuối năm 2024 dường như đẩy lực lượng vũ trang phi nhà nước hùng hậu này vào thế suy yếu, khó gượng dậy. Tuy nhiên can thiệp quân sự Mỹ - Israel chống Iran, và việc chính quyền Trump phải chấp nhận ký kết một thỏa thuận sơ bộ với Iran, được cho là mang lại nhiều lợi thế cho Teheran, cũng đặt Hezbollah trở lại như một thế lực đối trọng với Israel tại miền nam Liban.
An ninh tại vùng biên giới Israel – Liban một lần nữa trở thành yếu tố hàng đầu quyết định sự ổn định tại khu vực Trung Đông. Hiện tại Mỹ và Iran đang đàm phán cho một thỏa thuận hòa bình, nhưng một khi hòa bình chưa trở lại tại miền nam Liban, thì cũng rất khó nói đến hòa bình khu vực. Những đối đầu hiện tại nhắc đến tình hình của nửa thế kỷ trước khi tổ chức Hezbollah hình thành trong bối cảnh Israel chiếm lĩnh miền nam Liban. Những bài học của nửa thế kỉ qua liệu có thể giúp gì cho các giải pháp của ngày hôm nay ?
Thu, 25 Jun 2026 - 205 - Chiến tranh Iran làm xoay chuyển những thế cờ chiến lược ở Trung Đông và Nam Á
Ngày 14/06/2026, Hoa Kỳ và Iran thông qua trung gian hòa giải Pakistan sau thông báo đạt đồng thuận chấm dứt chiến tranh Trung Đông. Hôm qua, 17/06, nguyên thủ Mỹ và Iran đã ký văn bản này. Bộ Ngoại Giao Thụy Sĩ hôm nay 18/06, cho biết hai bên sẽ bắt đầu đàm phán việc thực thi thỏa thuận vào ngày mai, 19/06, tại Lucerne, Thụy sĩ.
Trả lời phỏng vấn của RFI Tiếng Việt, ngày 17/06, nhà nghiên cứu Didier Chaudet, chuyên gia địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung – Nam Á cho rằng vòng đàm phán sắp tới sẽ mang tính quyết định liên quan đến nhiều vấn đề. Cuộc chiến hơn 100 ngày chiến tranh giữa liên quân Mỹ - Israel và Iran đang làm chuyển dịch các thế cờ chiến lược ở Trung Đông và Nam Á.
----- ***** -----
RFI Tiếng Việt : Xin chào ông Didier Chaudet. Ông đánh giá như thế nào về thông báo thỏa thuận giữa Mỹ và Iran ? Đó là một thắng lợi của Iran, một sự sỉ nhục cho Mỹ hay một thất bại chiến lược của Israel ?
Didier Chaudet : Người ta nói rằng đó sẽ là một sự sỉ nhục đối với Hoa Kỳ hoặc một chiến thắng lớn cho Iran. Họ thường bỏ qua thực tế rằng, thực ra, Iran đã trải qua một cú sốc—một cú sốc đối với người dân, một cú sốc đối với nền kinh tế. Rồi còn có sự đoàn kết của người dân. Tất nhiên, có một mặt trận thống nhất, nhưng sự đau khổ là có thật, sự suy yếu là có thật.
Quả thật, Hoa Kỳ, bị sỉ nhục trong logic về quyền lực tuyệt đối của mình, có lẽ, hoặc đúng hơn, đã phải đối mặt với một thực tế nhất định. Trên thực tế, Trump đã rơi vào cái bẫy tương tự như W. Bush, tin rằng ông có thể tấn công mà không bị trừng phạt ở bên kia thế giới. Ông nghĩ Iran là Venezuela. Thực tế đã giáng cho ông ta một cú đánh mạnh. Ông ấy nghĩ rằng mình sẽ thắng cuộc rất nhanh chóng, rằng ông sẽ thực hiện một cuộc đảo chính như những gì đã làm với Maduro ở Venezuela.
Nhưng Iran không phải là châu Mỹ Latinh, và họ đã thích nghi cho phù hợp. Bởi vì khi chúng ta nói về sự sỉ nhục, chúng ta muốn nói rằng đó sẽ là một đòn giáng mạnh vào Hoa Kỳ. Điều này tương tự sau chiến tranh Irak, và sau khi Taliban trở lại Afghanistan. Xét cho cùng, chúng ta đang đối phó với một cường quốc có khả năng gây áp lực ở những nơi khác. Nước Mỹ dưới thời Trump dường như ngày càng quan tâm đến Cuba.
Người ta sẽ lại nói về thuế quan, bao gồm cả rượu vang Pháp. Chúng ta có nguy cơ sẽ nghe thêm về lợi ích lãnh thổ của Mỹ ở các khu vực khác, đặc biệt là ở châu Âu. Chúng ta phải cẩn thận không được đánh giá thấp khả năng phục hồi của người Mỹ, ngay cả sau những thất bại. Hơn nữa, chúng ta thực sự không thể nói ai thắng ai thua trong cuộc chiến này. Sau lệnh ngừng bắn 60 ngày, hiện tại, chúng ta hoàn toàn không biết mọi việc sẽ diễn biến như thế nào.
Cuộc chiến hơn 100 ngày giữa Mỹ và Iran đã có tác động ra sao đến vùng Trung Đông ?
Didier Chaudet : Tại khu vực Vịnh Ba Tư nói riêng, chúng ta đang thấy nhiều quốc gia nhận ra rằng năng lực bảo vệ và hỗ trợ từ phía Mỹ về quân sự – kể cả từ các đồng minh như Pháp hay Anh – trên thực tế là rất hạn chế. Nói cách khác, khi đối diện với một mối đe dọa thực sự, không phải Mỹ, Pháp hay Anh sẽ đứng ra bảo vệ Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Qatar, và càng không phải Ả Rập Xê Út.
Vì vậy, việc cho phép các căn cứ quân sự của Mỹ được thiết lập trong khu vực, với kỳ vọng rằng điều đó sẽ mang lại an ninh – đặc biệt là đối với Qatar và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất – ngày nay đã không còn giá trị như trước. Các quốc gia này đang xem xét lại cách thức bảo đảm an ninh của mình. Ả Rập Xê Út đã làm điều đó thông qua một thỏa thuận quốc phòng với Pakistan, một thỏa thuận thực chất, trong đó nếu một bên bị tấn công thì bên kia sẽ hỗ trợ phòng vệ.
Dĩ nhiên, vẫn có một mức độ diễn giải nhất định. Hiện nay, không thấy Ả Rập Xê Út tham chiến với Taliban, dù Pakistan đang xung đột với Taliban Afghanistan. Tuy vậy, các mối liên kết rất chặt chẽ đã được thiết lập, giúp Ả Rập Xê Út tăng cường khả năng tự vệ, đồng thời gửi một thông điệp tới Iran : nếu Iran quá hiếu chiến với Riyad, Pakistan sẽ đóng vai trò hậu thuẫn mạnh mẽ hơn trước. Về phía Qatar và Kuwait, người ta cũng nhận thấy một chính sách đi theo hướng này. Trong khi đó, UAE đã lựa chọn một hướng đi khác, dựa nhiều hơn vào Israel và phần nào vào Ấn Độ.
Nói cách khác, các nước này đang quay sang các tác nhân trong khu vực, đồng thời đa dạng hóa các mối quan hệ hỗ trợ để bảo vệ mình tốt hơn. Có lẽ, về lâu dài, logic chung sẽ là một chính sách đối ngoại đa hướng, thay vì phụ thuộc vào một « người bảo trợ » duy nhất; họ sẽ dựa vào nhiều lực lượng khác nhau trong quan hệ quốc tế.
Tôi cho rằng điểm chung giữa Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Qatar, Kuwait và Ả Rập Xê Út là họ sẽ ngày càng trông đợi vào ảnh hưởng của Trung Quốc trong việc mang lại hòa bình cho khu vực, dù điều này có thể diễn ra một cách kín đáo. Ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ được họ mong muốn, mà không nhất thiết gạt bỏ ảnh hưởng của Mỹ.
Một lần nữa, không nên đánh giá thấp siêu cường Mỹ chỉ vì nước này đã xử lý chưa tốt một số vấn đề trong cuộc chiến vừa qua. Nhưng chúng ta sẽ chứng kiến một dạng cân bằng : một bên là các cường quốc khu vực tham gia nhiều hơn như Pakistan, Israel, Ấn Độ và bên kia là sự hiện diện của các cường quốc lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, có thể thêm một phần từ Nga.
Ngược lại, đối với ảnh hưởng của châu Âu như Anh hay Pháp, thì vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Tôi không tin rằng các nước châu Âu sẽ trở nên mạnh hơn trong khu vực này sau cuộc chiến.
Với việc giúp Hoa Kỳ và Iran đạt được thỏa thuận khung để bước vào vòng đàm phán mới, phải chăng Pakistan đã ghi một điểm quan trọng trên mặt trận ngoại giao ?
Didier Chaudet : Tại Nam Á, bên thắng lớn là Pakistan. Bởi vì, nước này đã tham gia vào tiến trình hòa bình, bởi vì họ có khả năng đối thoại với tất cả các bên, và trên thực tế, họ là tác nhân duy nhất có thể nói chuyện với mọi phía. Iran tin tưởng Pakistan và vẫn tiếp tục tin bởi vì Pakistan không có căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ, bởi vì họ tương đối độc lập, bởi vì họ từng có những căng thẳng với Mỹ trong quá khứ, và bởi vì họ là một cường quốc khu vực thực sự, chứ không phải một lực lượng yếu thế so với sức mạnh Mỹ hay các cường quốc phương Tây.
Về phía Mỹ, Washington cũng đặt niềm tin vào Pakistan, bởi vì Islamabad đã biết cách chứng minh, đặc biệt trong nhiệm kỳ thứ hai của chính quyền Trump, rằng Pakistan có thể hữu ích cho chính sách đối ngoại của Mỹ, trong lĩnh vực chống khủng bố, hay trong việc ổn định Trung Đông. Đồng thời, từ phía Islamabad cũng tồn tại một mong muốn thể hiện thiện chí với Nhà Trắng và chứng tỏ vai trò hữu ích của mình đối với sự ổn định của khu vực Trung Đông.
Do đó, Pakistan nổi lên với vị thế được nâng cao về mặt ngoại giao, đồng thời cũng có cơ hội cứu vãn tình hình kinh tế của mình, bởi nước này đã chịu tổn thất nặng nề do việc eo biển Hormuz bị đóng cửa.
Thắng lợi ngoại giao này của Pakistan cũng đã làm bộc lộ những sai lầm chiến lược của Ấn Độ, đối thủ của Islamabad, trong suốt cuộc chiến hơn 100 ngày ở Trung Đông ?
Didier Chaudet : Về phía Ấn Độ, chúng ta đang đối diện với một câu hỏi lớn thực sự, bởi vì Ấn Độ hiện đang ở một bước ngoặt. Trong những năm gần đây, nước này đã chấp nhận xích lại gần Mỹ rất nhiều và đã phải trả giá đáng kể. Đặc biệt, Ấn Độ đã đánh mất phần nào quan hệ thân thiện với Teheran, nhất là khi tiếp tục đứng về phía Mỹ và xích lại gần Israel.
Cần nhớ rằng ngay trước cuộc chiến giữa một bên là Israel và Mỹ, và bên kia là Iran, đã diễn ra chuyến thăm của thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tới Jerusalem, nhằm thể hiện mình như một đồng minh lớn của Israel. Điều này chắc chắn gây khó chịu cho Iran, trong khi nước này là đối tác then chốt của Ấn Độ nếu New Delhi muốn tránh Pakistan mà vẫn duy trì ảnh hưởng tại Nam Á, đến tận Trung Á và không gian hậu Xô Viết.
Do đó, đây là một tình thế khá đặc biệt, khi Ấn Độ bắt đầu nhận ra rằng họ đã liên kết quá chặt với Mỹ, và điều đó đã làm tổn hại đến quan hệ với Iran mà không nhận được lợi ích tương xứng. Ngay trước cuộc chiến, đã xuất hiện một số căng thẳng giữa Ấn Độ và Mỹ, trong đó Washington gây áp lực buộc New Delhi ngừng mua dầu của Nga. Ấn Độ chỉ có thể tiếp tục mua dầu Nga nhờ cuộc chiến tại Iran, nhưng khi cuộc chiến này dần kết thúc, áp lực từ phía Mỹ đối với vấn đề dầu mỏ Nga có nhiều khả năng quay trở lại với Ấn Độ.
Lúc này, Ấn Độ đứng trước một lựa chọn quan trọng : Liệu họ có tiếp tục chính sách liên kết chặt chẽ với Mỹ, hiện đang cho thấy những giới hạn, hay sẽ tìm kiếm một hướng đi khác ? Trong khoảng thời gian 60 ngày này, và có thể ngay sau đó, chúng ta sẽ thấy rõ hơn hướng đi mà Ấn Độ lựa chọn, tùy thuộc vào chính sách mà nước này quyết định theo đuổi.
RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Trung và Nam Á.
Thu, 18 Jun 2026 - 204 - 2026 : Kỳ World Cup mang đậm mầu sắc chính trị của Donald Trump
Ngày 11/06/2026, giải Vô địch Bóng đá Thế giới lần thứ 23 chính thức khai mạc tại ba nước đồng tổ chức là Canada, Hoa Kỳ và Mêhicô, với trận chung kết diễn ra tại New York ngày 19/07/2026. Giữa những tranh cãi về khâu tổ chức, các chỉ trích về chính sách nhập cư, hạn chế visa nhập cảnh và các căng thẳng địa chính trị, tổng thống Mỹ Donald Trump muốn biến kỳ World Cup 2026 thành một vũ đài, thể hiện quyền lực và tầm nhìn về quan hệ quốc tế của ông.
Đây là lần đầu tiên lễ hội bóng đá lớn nhất hành tinh, diễn ra mỗi bốn năm một lần, được ba nước đồng tổ chức. Sự kiện này khẳng định hơn nữa xu thế đồng tổ chức các cuộc tranh tài thể thao lớn bắt đầu từ mùa Euro 2008 tại Thụy Sĩ và Áo, Euro 2012 tại Ba Lan và Ukraina, và gần đây nhất là mùa Euro 2020, bị dời lại một năm do đại dịch Covid, diễn ra tại ít nhất 11 nước chủ nhà. Vào năm 2030, Cúp Bóng đá Thế giới sẽ diễn ra tại Tây ban Nha, Bồ Đào Nha và Maroc, với ba trận đấu khác ở Achentina, Paraguay và Uruguay.
Đồng tổ chức, đồng chia sẻ chi phí, nhưng cạnh tranh hình ảnh chủ nhà
Trong phiên bản 2026, việc chọn Canada, Hoa Kỳ và Mêhicô, được FIFA thông qua vào năm 2018, và theo sáng kiến của cựu tổng thống Mỹ Barack Obama, phản ảnh mong muốn xây dựng một sự kiện bóng đá cấp châu lục quy mô lớn. Theo giải thích của Cyrille Bret, chuyên gia về quan hệ quốc tế, với trang The Conversation, mục tiêu đặt ra là nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh tế, theo đó, ba nước cùng chia sẻ chi phí tổ chức, dùng chung cơ sở hạ tầng và hạn chế việc xây dựng các công trình mới.
« Những khía cạnh này càng thêm quan trọng hơn khi đây sẽ là kỳ World Cup lớn nhất trong lịch sử : Lần đầu tiên có 48 đội tuyển tham gia vòng chung kết, thi đấu tổng cộng 104 trận. Bảy kỳ World Cup trước đó, kể từ kỳ tổ chức ở Pháp năm 1998, đều có 32 đội tham gia, đấu 64 trận. Con số này còn thấp hơn trước đó nữa, khi chỉ có 24 đội từ năm 1982 đến 1994 và chỉ có 16 đội trước giai đoạn này. Sự gia tăng này là đáng kể và có thể là chưa kết thúc, bởi vì FIFA đang xem xét mở rộng lên 64 đội ngay từ năm 2030. »
Tuy diễn ra tại ba nước, nhưng mọi sự chú ý chủ yếu đổ dồn vào Hoa Kỳ, bởi vì 78 trong số 104 trận tranh tài sẽ diễn ra trên lãnh thổ Mỹ, và do vậy Mỹ sẽ là nơi có mật độ phủ sóng truyền thông cao nhất. Trên phương diện xây dựng « thương hiệu quốc gia », đây thực sự là một lợi thế đáng kể. Cyrille Bret lưu ý, « trong vòng một tháng, các hình ảnh được phát sóng ra toàn thế giới chủ yếu sẽ giới thiệu các thành phố lớn của Mỹ. »
Nhưng để có được lợi thế này, nhà địa chính trị học về thể thao, Pascal Boniface, giám đốc Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), trong chương trình truyền hình của France 24, nhắc lại, đích thân Donald Trump, trong nhiệm kỳ I đã can thiệp « một cách thô bạo » trong quá trình bầu chọn ứng viên đăng cai World Cup : « Lần đầu tiên một tổng thống đe dọa trừng phạt những nước nào không bỏ phiếu cho Mỹ. Thông thường một tổng thống, một nguyên thủ quốc gia chỉ làm công tác quan hệ công chúng. Vì mỗi liên đoàn có một lá phiếu, và người ta biết ai bỏ phiếu cho ai, thế nên ông Trump đã đe dọa sẽ trừng phạt những nước nào bỏ phiếu cho Maroc, một ứng viên khác. Đây thực sự là một tiền lệ chưa từng có. »
Dù có ít trận đấu diễn ra trên lãnh thổ, nhưng Canada và Mêhicô cũng sẽ nỗ lực thể hiện tầm cỡ của mình trong việc bảo đảm an ninh, giao thông và cơ sở hạ tầng. Chuyên gia Cyrille Bret cho rằng « hai nước còn lại có thể tạo sự khác biệt thông qua hình ảnh như giới thiệu thành phố chủ nhà, cảnh quang hay di sản của họ, những yếu tố vô cùng quý giá, góp phần xây dựng danh tiếng quốc tế, một thương hiệu quốc gia tiếng tăm ».
Cũng theo vị chuyên gia về quan hệ quốc tế, tuy đồng tổ chức nhưng còn có sự cạnh tranh về lòng hiếu khách. Các cổ động viên trên toàn thế giới sẽ so sánh cách tiếp đón tại mỗi nước. Liệu rằng nước Mỹ của Donald Trump với chủ trương « Nước Mỹ trên hết » có sẽ được đánh giá là nơi tiếp đón nồng nhiệt nhất so với hai quốc gia láng giềng hay không ?
Trump đăng cai World Cup nhưng hạn chế cổ động viên nhập cảnh
Về điểm này, Hoa Kỳ có lẽ đang mất lợi thế trước hai đối thủ cạnh tranh là Canada và Mêhicô. Việc đăng cai một sự kiện thể thao lớn cho phép nước chủ nhà nhấn mạnh tầm quan trọng của một quốc gia. nhưng những căng thẳng chính trị nội bộ và các xung đột địa chính trị đang làm dấy lên nỗi lo cho một thảm họa thể thao to lớn.
Chính sách siết chặt nhập cư và hạn chế visa nhập cảnh của chính quyền Trump đang đi ngược lại với tinh thần của World Cup là mở cửa ra thế giới. Theo quan điểm của Cyrille Bret, đây chính là sự mâu thuẫn cốt lõi của chủ nghĩa Trump. Một mặt ông tìm cách thể hiện sự hiện diện toàn cầu của nước Mỹ, và mặt khác, ông chủ trương đóng cửa biên giới nghiêm ngặt, ngăn cản công dân các quốc gia có đủ điều kiện tham dự World Cup đến Mỹ cổ vũ cho đội nhà.
Trong một phóng sự của France 24, Boubacar Seye, chủ tịch hiệp hội Horizon sans Frontières, bảo vệ quyền người di cư Senegal, quốc gia nằm trong danh sách các nước bị hạn chế cấp visa, đã chỉ trích mạnh mẽ chính sách này của chính quyền Trump là khó hiểu : « Lễ hội đã bị phá hỏng rồi. Bởi vì không thể tổ chức World Cup mà không có người hâm mộ. Điều đó là chưa từng có tiền lệ. Senegal cần phản đối bằng con đường ngoại giao. Họ cần liên hệ với FIFA, họ cần liên hệ với các tổ chức nhân quyền. »
Chính sách cứng rắn này của Trump là hữu ích về mặt chính trị. Hình ảnh về sự kiên quyết bảo vệ biên giới vẫn được một bộ phận cử tri của ông ủng hộ. Cách đánh giá này cũng được Kevin Veyssière, chuyên gia địa chính trị thể thao, trả lời France 24 cùng chia sẻ : « Trên bình diện đối nội, ông sử dụng giải đấu để thách thức việc đăng cai các trận đấu của một số thành phố do đảng Dân Chủ điều hành và có bất đồng với chính sách của ông. Điều này là quan trọng bởi vì bầu cử giữa kỳ sẽ diễn ra vài tháng sau kỳ World Cup. Ông hy vọng rằng mùa bóng này sẽ là một lợi thế để giành thắng lợi bầu cử ».
Nước chủ nhà và nước dự giải trong chiến tranh
Một ẩn số khác trong kỳ World Cup lần này là sự tham dự của Iran. Lần đầu tiên trong lịch sử bóng đá, nước chủ nhà và nước tham dự giải đấu trong tình trạng chiến tranh từ hơn ba tháng nay. Sự hiện diện của tuyển Iran trở thành một thách thức ngoại giao. Nhà địa chính trị về thể thao Pascal Boniface nhắc lại, trong quá khứ, vào năm 1998, khi Mỹ và Iran vào thời điểm đó cũng trong tình trạng chiến tranh, đã cho thế giới thấy một hình ảnh tích cực : « Vào năm 1998, hai đội đã chụp ảnh chung, và các cầu thủ Iran đã tặng hoa hồng trắng cho các cầu thủ Mỹ. Đó là thời kỳ xích lại gần nhau về mặt ngoại giao giữa Hoa Kỳ dưới thời Bill Clinton và Iran dưới thời Katami. »
Về phần mình, Cyrille Bret lưu ý : « Những cuộc tranh tài thể thao lớn không tạo ra những căng thẳng quốc tế nhưng chúng làm nổi rõ những vấn đề đó. Thể thức tham gia của Iran sẽ phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng quan hệ giữa Washington và Teheran vào thời điểm diễn ra giải đấu – một mối quan hệ biến động gần như hàng ngày.
Vấn đề này có thể trở thành, giống như một số vụ tẩy chay Olympic trong quá khứ, một công cụ để gây áp lực hoặc đàm phán. Người ta đã biết rằng đội tuyển Iran, theo nguyên tắc sẽ thi đấu các trận của họ trên lãnh thổ Hoa Kỳ, cuối cùng đóng trại tại Tijuana, Mêhicô, gần biên giới với Mỹ, và sẽ phải di chuyển đi về trong cùng một ngày. Nhưng World Cup chỉ đơn thuần là sự phản ánh của một động lực quyền lực đã tồn tại từ trước. »
Ở đây một lần nữa chính quyền Trump áp đặt luật chơi đối với một sự kiện thể thao lớn. Trả lời France 24 Kevin Veyssière cho rằng, « trên trường quốc tế, Hoa Kỳ rõ ràng không cần World Cup để củng cố quyền lực mềm. Nhưng Donald Trump muốn giải đấu này mang dấu ấn và tầm nhìn của ông về quan hệ quốc tế. Trong khi Nga vào năm 2018 và Qatar năm 2022 đã thể hiện sự cởi mở để tạo dựng hình ảnh tốt nhất có thể, thì rõ ràng Hoa Kỳ không như vậy. Donald Trump muốn thế giới thích nghi với Hoa Kỳ, chứ không phải ngược lại. »
Là một người cũng ưa thích thể thao, nhưng chủ yếu đam mê của ông là golf, đô vật và MMA, những môn thể thao nam tính và phù hợp với lập trường chính trị và thành phần cử tri của ông, bóng đá tại Mỹ, về mặt lịch sử là một môn thể thao cho nữ giới, nhưng Donald Trump trong các phát biểu, đang tìm cách biến đổi đất nước ông thành một vùng đất của bóng đá, không phải là vì niềm đam mê mà là vì những lợi ích chính trị.
FIFA : Một tổ chức phi chính trị ?
Những điều này Trump có thể thực hiện đó là nhờ vào sự tiếp tay của FIFA, đặc biệt là chủ tịch hiện nay Gianni Infantino, người đang bị cáo buộc là có những hành vi tham nhũng. Về điểm này, Kevin Veyssière, có nhận định như sau :
« Nhìn vào lịch sử của giải đấu, từ kỳ World Cup 1934 dưới thời Mussolini đến kỳ World Cup 2022 tại Qatar, FIFA chưa bao giờ đóng vai trò trung gian hòa giải đối với nước chủ nhà. Chưa bao giờ có mối quan hệ phi chính trị giữa cơ quan quản lý và nhà tổ chức, mà chỉ là mối quan hệ đối tác.
Dưới thời Gianni Infantino (chủ tịch FIFA từ năm 2016), chúng ta thậm chí còn chứng kiến những mối quan hệ rất cá nhân phát triển giữa ông và các nguyên thủ quốc gia của các nước chủ nhà. Với Donald Trump, điều này đạt đến đỉnh điểm, lên đến việc trao tặng giải thưởng Hòa bình FIFA đầy phi lý trong lễ bốc thăm vào tháng 12 năm 2025. Một giải thưởng thực sự phi lý, nếu xét đến các chính sách của Trump vào đầu năm, từ vụ bắt cóc Nicolás Maduro ở Venezuela đến các cuộc tấn công chống lại Iran.
Chúng ta thường nói về tình bạn thân thiết giữa Trump và Infantino, nhưng không có chuyện tình cảm lãng mạn. Chủ yếu đó là cuộc đấu tranh quyền lực. Cả hai đều có chung thế giới quan. Infantino phô trương quyền lực : ông đang ở nhiệm kỳ thứ tư, hiện đã tái đắc cử mà không cần bỏ phiếu tán thành, và không có cơ chế kiểm soát hay cân bằng nào tại FIFA. Và ông không bị thách thức vì doanh thu của tổ chức này tiếp tục tăng trưởng. »
Một quan điểm cũng được nhà phân tích quan hệ quốc tế, Cyrille Bret, đồng chia sẻ với trang The Conversation, khi cho rằng điều này là không có gì mới mẻ. « Các tổ chức thể thao lớn luôn vun đắp các mối quan hệ mập mờ với quyền lực chính trị (…) Lập luận của họ trước hết là về kinh tế. Các cuộc tranh tài quốc tế đã trở thành những sản phẩm toàn cầu cho phép tài trợ một phần thể thao chuyên nghiệp ».
Thu, 11 Jun 2026 - 203 - Hòa bình cho Ukraina: Đối thoại EU – Nga và những bài học Minsk
Đầu năm 2026, nhiều thúc đẩy từ phía Nga cũng như nội bộ chính giới châu Âu để Liên Âu trực tiếp đối thoại với điện Kremlin nhằm tìm ra giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh Nga – Ukraina, kéo dài từ hơn 4 năm nay.
Đầu tháng 6, trước thềm thượng đỉnh của khối 27 nước ngày 18-19/06/2026, theo một số thông tin báo chí, giới lãnh đạo châu Âu có thể đề nghị với Nga « một thỏa thuận ngừng bắn », như một điều kiện tiên quyết trước khi bước vào đàm phán chính thức.
***
Việc khối 27 nước tìm lập trường thống nhất để đối thoại trực tiếp với Nga là một diễn biến mới, và đáng được khích lệ, trong bối cảnh cho đến nay, « Liên Hiệp Châu Âu gánh vác một phần chủ yếu và ngày càng lớn cái giá về kinh tế, tài chính cũng như về chính trị của cuộc xung đột này, nhưng lại bị gạt ra bên lề trong các cuộc đàm phán quan trọng » (Le Diplomat). Thống nhất lập trường, duy trì áp lực để buộc Nga có giải pháp chấm dứt chiến tranh là điều cần thiết, tuy nhiên, nhiều chuyên gia hàng đầu cảnh báo, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng với Nga là lợi bất cập hại.
Đọc thêm : Nan giải của châu Âu là tìm được “tiếng nói chung” để đối thoại Putin« Trên thực tế, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng hoặc được thiết kế kém có thể khiến việc đạt được một giải pháp lâu dài trở nên khó khăn hơn », theo nhận định của chuyên gia Trung tâm tư vấn độc lập Chatham House, thuộc Royal Institute of International Affairs, có trụ sở tại Luân Đôn (bài « Một thỏa thuận ngừng bắn giữa Nga và Ukraina có thể gây nguy hiểm cho an ninh của Ukraine và châu Âu như thế nào? » của ông Simon Smith, đồng tác giả, đồng phụ trách chương trình nghiên cứu về khu vực Á – Âu và Nga).
Nhận định của chuyên gia Chatham House ngụ ý nhắc đến vết xe đổ của hai thỏa thuận ngừng bắn Minsk I và Minsk II, được xác lập hồi 2014-2015, rút cục đã bị nhiều người coi như một « thất bại của ngoại giao châu Âu », tạo điều kiện cho Nga tiếp tục lấn tới bảy năm sau đó, với cuộc xâm lăng trên quy mô lớn, kéo dài cho đến nay.
Thỏa thuận Minsk I và Minsk II cụ thể ra sao ?
Các thỏa thuận, được ký kết tại Minsk, thủ đô Belarus, trong hai đợt, tháng 9/2014 (tên chính thức là Nghị định thư Minsk, thường được gọi là Thỏa thuậnMinsk I), và tháng 2/2015 (« Gói biện pháp nhằm thực thi các Thỏa thuận Minsk », thường gọi là Thỏa thuậnMinsk II), có mục tiêu hướng đến chấm dứt xung đột ở miền đông Ukraina. Ký kết hai thỏa thuận này là các thành viên của nhóm tiếp xúc ba bên, bao gồm các đại diện của Nga và Ukraina, cùng đại diện của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu - OSCE.
Thỏa thuận sau đó được các lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn ký kết. Các thỏa thuận này bao gồm 13 điểm: ngoài lệnh ngừng bắn, là việc rút vũ khí hạng nặng ra xa đường chiến tuyến, trao đổi tù nhân và con tin. Các thỏa thuận cũng quy định cải cách hiến pháp ở Ukraina để ban hành quy chế đặc biệt của hai vùng lãnh thổ, chiếm một phần của hai tỉnh Luhansk và Donetsk, do phe ly khai kiểm soát.
Hai thỏa thuận này là kết quả các vận động ngoại giao của tổng thống Pháp François Hollande và thủ tướng Đức Angela Merkel, phối hợp với tổng thống Nga Vladimir Putin và đương kim tổng thống Ukraina Petro Poroshenko. Sự kết hợp của Bộ Tứ này thường được gọi là « Công thức Normadie », do bắt nguồn từ cuộc gặp không chính thức giữa lãnh đạo bốn nước tại lâu đài Château de Bénouville (Calvados), vùng Normandie - Pháp, bên lề lễ kỷ niệm 70 năm ngày đồng minh đổ bộ trong Thế chiến Hai, vài tháng sau khi chiến tranh bùng nổ ở Donbass.
Ít ngày sau khi Thỏa thuận Minsk II được đúc kết, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã ra một nghị quyết, yêu cầu các bên tôn trọng Thỏa thuận này, nhưng không mang tính cưỡng chế.
Vì sao các thỏa thuận Minsk bị coi là nguy hại cho Ukraina ?
Đằng sau các biện pháp có vẻ rất bài bản như trên là một thực tế hoàn toàn khác. Viện Nghiên cứu Chiến tranh ISW, có trụ sở Washington, trong một bài phân tích về « Những bài học rút ra từ Thỏa thuận Minsk » (Lessons of the Minsk Deal),nhận định hệ quả nói chung của các Thỏa thuận Minsk này là đã không mang lại nền hòa bình lâu dài mà chủ yếu giúp Nga có thời gian tái tổ chức lực lượng, tăng cường hậu thuẫn phe ly khai, chấp nhận « đóng băng chiến sự », củng cố nền kinh tế chiến tranh để chuẩn bị cho cuộc tấn công trong tương lai. Chuyên gia Viện Nghiên cứu Chiến tranh Mỹ nhấn mạnh, một thỏa thuận ngừng bắn mới được đưa ra nhanh chóng, vội vã và thiếu bảo đảm có thể lặp lại mô hình của các thỏa thuận Minsk, cho phép Nga phục hồi sức mạnh, thay vì buộc Matxcơva phải thay đổi các tính toán chiến lược.
Đọc thêm : Bất đồng Nga-Ukraina về Donbass có thể khiến Thỏa thuận Minsk tan vỡ ?Chuyên gia chính trị quốc tế Kristian Åtland, người Na Uy, tác giả nhiều khảo cứu về các thỏa thuận Minsk, nhấn mạnh là các thỏa thuận này là hoàn toàn « không hiệu quả », « không công bằng », « không bền vững », Ukraina đã bị buộc phải chấp nhận trong bối cảnh lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn đẩy quân đội Ukraina vào chân tường tại vùng Donbass (« War, diplomacy, and more war: why did the Minsk agreements fail? », Springer, 2024). Vị chuyên gia này cũng là tác giả bài « Đàm phán ngừng bắn Nga-Ukraina:Những bài học từTiến trình thất bạicủa các thỏa thuậnMinsk» (2025).
Đàm phán bên họng súng : Hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị bao vây, Putin báo động nguy cơ thảm sát
Hai thỏa thuận được ký kết đúng vào thời điểm hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị vây hãm tại Ilovaisk (từ ngày 7/8 đến ngày 2/9/2014) và Debaltseve (từ 14/01 đến 20/02/2015). Nhà ngoại giao Pháp Jacques Audibert, cố vấn của tổng thống Hollande, người có mặt trực tiếp trong các đàm phán dẫn đến hai thỏa thuận nói trên, cho biết cụ thể:
« Tình hình càng trở nêncăng thẳng hơn, bởirõ rànglà ôngPutin đãcố tình kích động.Tuyên bốđầu tiên của ông ấytrong cuộc đàm phán này là: ‘‘Tôi xin lỗi, có 8.000 binh sĩ bị mắc kẹt trong vòng vâyở Debaltseve.Bao vâyhọ làcáclực lượng pháo binhcủa quân ly khai mà tôi khôngthểkiểm soát được. Tôi không thể làm gì được !Vì tôi là người Ngamà !Tất cảnhững binh sĩ nàyđều có nguy cơ bịthảm sát,nếu chúng ta không đạt được thỏa thuận tốihômnay." Đó là bầu không khímở đầucuộc đàm phán kéo dài 16 giờ. Rõ ràng khi bạnbị đặt vàotrong tình huống căng thẳng và hoàn toàn khác biệt như thế này, khiai đó nói thẳng với bạn rằng,có thể có hàng ngàn người chết,nếuđàm phánthất bại, bạnsẽ phảiở trongtâm trạngcăng thẳng tột độ. Điềunày đúng với tất cả mọi người, nhưng đặc biệt là với người Ukraina. »
Nga đã sử dụng việc leo thang quân sự có chủ đích để buộc Kiev chấp nhận các nhượng bộ lớn, trong bối cảnh Kiev cũng chịu áp lực nhiều từ các nước phương Tây ủng hộ tiến trình Minsk, để buộc phải ký kết các thỏa thuận này.
Hàng loạt điều bất khả: Ngôn từ mơ hồ, Kiev không được quyền kiểm soát biên giới…
Ngoài chuyện ý đồ và mục tiêu của các bên, chuyên gia Na Uy Kristian Åtland nêu bật diễn đạt mơ hồ trong các thỏa thuận cũng là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Thỏa thuận trở nên bất khả thi ngay từ đầu (« The vagueness and ambiguity of the language used in the Minsk agreements became an obstacle to the agreements’ implementation »). Các thỏa thuận nói trên không có giá trị pháp lý khi chỉ được ký kết bởi các đại diện cấp thấp, gồm cựu tổng thống Ukraina, Leonid Koutchma, đại sứ Nga tại Ukraina và đại diện của OSCE.
Không chỉ đến sau này, mà ngay vào lúc Thỏa thuận Minsk II được ký kết, truyền thông Pháp đã ghi nhận triển vọng thỏa thuận bất khả thi, đặc biệt với việc Ukraina sẽ chỉ được quyền kiểm soát hơn 400 km đường biên giới Ukraina – Nga, nằm giữa các khu vực ly khai ở Donbass và lãnh thổ Nga, một khi bầu cử địa phương ở các vùng ly khai được tổ chức, mà thời gian lại chưa được ấn định. Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu - OSCE cũng không có thẩm quyền gì với việc giám sát tình hình ở đường biên giới. Trong thời gian đó, không có gì ngăn cản Nga tiếp tục đưa binh sĩ và phương tiện quân sự vào các vùng đất của Ukraina, do phe ly khai kiểm soát.
Niềm tin vào Thỏa thuận Minsk và Putin: Ngay trước thềm cuộc xâm lăng 2022
Ngay tại thời điểm đó, và giờ đây nhìn lại, các thỏa thuận Minsk đã được coi như là bình phong, một phương tiện câu giờ đối với cả hai bên.Không chỉ cho Nga có thêm thời gian để chuẩn bị cho cuộc xâm lăng lớn mà phía Ukraina cũng tạm thời tránh được các tổn thất lớn trong bối cảnh lực lượng vũ trang còn rất yếu.
Điều đáng nhấn mạnh là 7 năm sau, trước thềm cuộc xâm lăng quy mô lớn của Nga, ngày 24/02/2022, trong một bộ phận giới ngoại giao, học giả châu Âu, về mặt chính thức, các thỏa thuận Minsk vẫn được xem như là một cánh cửa dẫn đến hòa bình. Ngay cả một nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực này, như Tatiana Kastouéva-Jean, giám đốc Trung tâm Nga thuộc Viện Pháp về Quan hệ Quốc tế - Ifri, hai tuần trước cuộc tấn công của Nga (24/02/2022), vẫn đặt hy vọng vào việc thúc đẩy thực thi thỏa thuận Minsk, trong lúc tổng thống Pháp đang tiếp tục các vận động ngoại giao dồn dập, với hy vọng còn nước còn tát:
« Nước Pháp đang gánh vác một trách nhiệm đặc biệt vào thời điểm này. Thật vậy, Emmanuel Macron đang đưa tiếng nói của châu Âu trở lại vị trí hàng đầu, đặc biệt là về một khía cạnh: các thỏa thuận Minsk. Đây là những thỏa thuận được ký kết vào tháng 2/2015với mục tiêugiải quyết tình hình ở miền đông Ukraina. Đó là một mảnh ghéptrongbức tranh toàn cảnhđối đầucăng thẳnghiện tại, vớiviệc Nga tăng cường quân độiáp sátbiên giới, trước khi đưa ra các yêu sách rộng hơn liên quan đến an ninh châu Âu và trật tự của châu Âu nói chung, thời kỳ sau khi Liên Xô sụp đổ ».
Đọc thêm - Nửa thế kỷ ''Hiệp định Helsinki'': Chiến tranh Ukraina xóa sổ "Kiến trúc an ninh châu Âu"Nhà nghiên cứu viện Ifri tin tưởng vào khả năng Nga có thể sẵn sàng cho một giải pháp ngoại giao :
« Chúng ta còn rất xa mới giải quyết được cuộc khủng hoảng. Nhưng với những diễn biến mới nhấtnày, tôi nghĩ chúng ta có thể mang lại thêm một chút hy vọng chogiải phápngoại giao.Tổng thốngPutin đã để ngỏ cánh cửa thỏa hiệp. Ông ấy đã dành nhiều lời khen ngợi chotổng thống PhápMacron, cảm ơn ông ấy đã trở lại, đã đích thân đến, v.v. Trên thực tế, nếu chúng ta đangở bênbờ vực chiến tranh,thìđâyắtkhông phải là kiểu hành vi mà chúng tathấy ».(« Ukraina/Nga, một thỏa hiệp bất khả? », Tọa đàm với đài Pháp France Info, ngày 09/02/2022).
Kẻ xâm lăng được coi là người hòa giải: Nghệ thuật đàm phán của Putin
Minsk I và Minsk II đã được điện Kremlin sử dụng hiệu quả để khẳng định tính chính đáng của Nga trong hồ sơ chiến tranh vùng Donbass của Ukraina. Tại châu Âu, có người còn mong muốn có thêm một Thỏa thuận Minsk III. Điều mà nhiều chuyên gia nhấn mạnh là ảo tưởng hòa bình nhờ có được thiện chí của Nga, đã từng khiến châu Âu mất phương hướng trong một thời gian dài, và có thể sẽ tiếp tục mắc bẫy.
Đọc thêm : Sử gia Françoise Thom: ‘‘Cho đến nay, người Nga vẫn coi nước Nga là một đế chế’’Bà Céline Marangé, chuyên gia về Nga, Ukraina và Belarus, Viện nghiên cứu chiến lược IRSEM thuộc Trường Quân sự - Ecole militaire Paris, lưu ý đến việc tổng thống Nga đã thành công một cách ngoạn mục, khi thể hiện mình là một bên trung gian hòa giải trong các thỏa thuận Minsk :
« Tổng thống Ngacoi các thỏa thuận Minsk II là một chiến thắng cá nhân của mình, một dấu hiệu cho thấy kỹ năng đàm phán và giành được những nhượng bộ từ các đối thủ. Trên thực tế, ông ta đã thành công đáng kể trong việc bảo đảm rằng các thỏa thuận không xác địnhbất kỳ nghĩa vụ rõ ràng nào đối với Matxcơva.
Vì vậy, theo một cách nào đó, Điện Kremlin có thể tự thể hiện mình không phải là một bên tham gia xung đột, như trên thực tế từ đầu đã luôn là như vậy. Nga thể hiện là một bêntrung gian hòa giải trong một cuộc xung đột nội bộ ở nước láng giềng, doquản lý kém, giống như một người trung gian hòa giải đối vớimột cuộc nội chiến. Trong khi đó, trên thực tế, tình hìnhbất ổn đã được Matxcơva đạo diễn ngay từ đầu, và vũ khí hạng nặng mà phe ly khai có được rõ ràng là đến từ Nga. »
***
Nhiều chuyên gia khẩn thiết nhấn mạnh là, trong các đối thoại có thể diễn ra với điện Kremlin sắp tới, các lãnh đạo châu Âu cần kiên quyết duy trì lập trường, chỉ có thể chấp nhận một thỏa thuận đình chiến khi có được các đảm bảo vững chắc, các cơ chế thực thi rõ ràng, chặt chẽ, cùng với việc hậu thuẫn để Ukraina gia nhập các cấu trúc an ninh của châu Âu, để khiến cho mọi hành động gây hấn của Nga trong tương lai phải trả giá đắt. Chỉ có như vậy, châu Âu mới không bị rơi vào vết xe đổ của các thỏa thuận Minsk.
Thu, 04 Jun 2026 - 202 - Hàn Quốc trước áp lực sửa đổi Hiến pháp để cải thiện quan hệ với Bắc Triều Tiên
Tháng 5/2026, bộ Thống Nhất Hàn Quốc, với Sách Trắng Thống nhất, lần đầu tiên đưa ra quan điểm coi quan hệ giữa Seoul và Bình Nhưỡng là « quan hệ giữa hai Nhà nước». Chính sách trên đây của Seoul được đưa ra trong bối cảnh Bắc Triều Tiên vừa sửa đổi Hiến pháp, từ bỏ mục tiêu thống nhất và phân định rõ lãnh thổ hai miền Nam - Bắc.
Theo nhiều nhà quan sát, Hàn Quốc đang bị đặt trước áp lực phải sửa đổi triệt để Hiến pháp để cải thiện quan hệ với chế độ Bắc Triều Tiên, trong bối cảnh mọi nỗ lực ngoại giao không mang lại kết quả, kể từ thất bại của thượng đỉnh Kim Jong Un – Donald Trump ở Hà Nội năm 2019.
***
Đã hơn bảy thập niên kể từ chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), đối với đông đảo người dân Hàn Quốc, hai miền Nam Bắc tuy thuộc về hai chế độ khác nhau nhưng vẫn là một nước. Chủ trương tái thống nhất hai miền cũng được ghi rõ trong Hiến pháp Đại Hàn Dân Quốc năm 1987. Đối với xã hội Bắc Triều Tiên, lý tưởng tái thống nhất nằm trong học thuyết chính thống của chế độ họ Kim.
Bắc Triều Tiên từ bỏ chủ thuyết tái thống nhất: « Một cuộc cách mạng »
Việc chế độ Kim Jong Un chính thức sửa đổi Hiến pháp từ bỏ mục tiêu tái thống nhất, coi Hàn Quốc là một quốc gia nước ngoài, là một thay đổi triệt để, kết thúc chủ trương thống nhất hai miền, được chính quyền hai bên đồng thuận với Tuyên bố Chung Nam - Bắc ngày 04/07 năm 1972 (The July 4 South-North Joint Communiqué).
Theo điều 2 của Hiến pháp Bắc Triều Tiên, được sửa đổi hồi tháng 3/2026, « Lãnh thổ CHDCND Triều Tiên được xác định là vùng đất giáp với CHND Trung Hoa và Liên bang Nga ở phía bắc, và Cộng hòa Triều Tiên ở phía nam, bao gồm lãnh hải và không phận được thiết lập trên cơ sở này ». Mấy dòng chữ ngắn ngủi đang mang lại một đảo lộn. Trả lời trang mạng chuyên về Bắc Triều Tiên NK News, có trụ sở tại Seoul, chuyên gia về bán đảo Triều Tiên Andrei Lankov, Đại học Kookmin, Seoul, và giám đốc nhóm chuyên gia tư vấn về bán đảo Triều Tiên Korea Risk Group, coi đó gần như là « một cuộc cách mạng »:
« Bước đầu tiên là từ tháng 12/2023, Kim Jong-un bắt đầu thay đổi giọng điệu. Ông bắt đầu nói rằng việc thống nhất, ý tưởng về sự thống nhất, là một sai lầm. Tuyên bố này gần như là cách mạng, bởi vì nó làm suy yếu một phần tính chính danh của chính lãnh đạo Bắc Triều Tiên, vốn được thừa hưởng từ cha và ông nội mình, khi nói rằng sứ mệnh của họ đã thất bại, là sai lầm. Về cơ bản, ông nói rằng những gì mà họ từng tin tưởng là sai.
Trong một thời gian dài, lý tưởng thống nhất này được trình bày như một sự kiện hạnh phúc (happy event) sẽ giúp giải quyết mọi vấn đề của đất nước. Như thể đó là mục tiêu cuối cùng của lịch sử. Điều này đúng với ít nhất là ở Bắc Triều Tiên và cả ở Hàn Quốc nữa, dù ở mức độ thấp hơn. Cánh tả triệt để ở Hàn Quốc vốn rất ngưỡng mộ ý tưởng này. Họ thậm chí còn tạo ra một lý thuyết gọi là “hệ thống chia cắt” (theory of the divided system), theo đó mọi vấn đề của xã hội Hàn Quốc về cơ bản đều là các hậu quả của việc đất nước bị chia cắt.
Đột nhiên vào tháng 12/2023, Kim Jong-un tuyên bố rằng điều đó sẽ không xảy ra, rằng đó là một sai lầm. Xin nhấn mạnh rằng điều ấy cũng giống như việc nói với các tín đồ Thiên Chúa giáo rằng họ không nên chờ đợi ngày Chúa tái lâm nữa. »
Xóa sạch các biểu tượng hướng đến tái thống nhất tại Bắc Triều Tiên
Sau tuyên bố tháng 12/2023 của lãnh đạo Bắc Triều Tiên, chế độ Bình Nhưỡng đã thực thi hàng loạt biện pháp nhằm khẳng định đoạn tuyệt với đồng thuận hai miền về tái thống nhất tồn tại từ hơn nửa thế kỷ. Ngày 15/01/2024, Kim Jong Un ra lệnh phá hủy tất cả các biểu tượng thống nhất liên Triều, bao gồm cắt đứt vĩnh viễn các tuyến đường sắt nối hai miền.
Đọc thêm - Kim Jong-un đoạn tuyệt với Hàn Quốc : Cú sốc mạnh trên bán đảo Triều TiênNgày 22–23/1/2024, Cổng Thống nhất, tượng đài 30 mét cao ở Bình Nhưỡng tượng trưng cho nỗ lực thống nhất của hai thế hệ lãnh đạo Bắc Triều Tiên, được xây dựng năm 2001 dưới thời Kim Jong Il, bị phá hủy. Các tượng đài thống nhất khác trên toàn quốc bị phá hủy, các khẩu hiệu liên quan bị xóa bỏ. Kể từ đầu năm 2024, Bình Nhưỡng xóa bỏ các từ như « thống nhất », « hòa giải », « đồng bào » khỏi sách giáo khoa. Tháng 2/2025: Trung tâm đoàn tụ gia đình ở núi Kim Cang (Kumgang), nơi từng tổ chức các cuộc đoàn tụ cho hàng ngàn gia đình bị chia ly kể từ Chiến tranh Triều Tiên, bị phá hủy. Tháng 5/2025: Đại sảnh Thống nhất tại Bàn Môn Điếm (Panmunjom), nơi từng diễn ra các hội nghị thượng đỉnh liên Triều năm 2018, bị đổi tên.
« Tái thống nhất hòa bình » : Ảo ảnh đồng sàng dị mộng
Trước khi chế độ Bắc Triều Tiên cắt đứt với chủ trương tái thống nhất, đối với nhiều chuyên gia, lý tưởng này một mặt quá xa rời với thực tế, nhưng mặt khác lại được coi là điều bắt rễ sâu trong cả hai xã hội miền Nam và miền Bắc. Chuyên gia về bán đảo Triều Tiên Andrei Lankov mô tả tình trạng mâu thuẫn cao độ khi tâm lý « tái thống nhất hòa bình » là ảo ảnh đồng sàng dị mộng :
« Bắc Triều Tiên, ngay từ khi thành lập, luôn xem mình là một phần của một quốc gia bị chia cắt. Lập trường chính thức của Bắc Triều Tiên luôn là chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là chính phủ hợp pháp duy nhất trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Họ xem nhà nước, mà ta thường gọi là Hàn Quốc, chỉ là một phần lãnh thổ của nước Triều Tiên. Trong một thời gian dài, theo quan điểm đó, chính quyền Hàn Quốc không được xem là chính phủ của một nước có chủ quyền, mà chỉ là một tập đoàn phản bội được Mỹ nuôi.
Điều thú vị là lập trường của Hàn Quốc về cơ bản là hình ảnh phản chiếu lập trường của miền Bắc (mirror image). Họ nói rằng CHDCND Triều Tiên thực chất không tồn tại, rằng đó là một thế lực phản quốc và về cơ bản quân đội Bắc Triều Tiên chỉ là một băng nhóm tội phạm và khủng bố, theo quan điểm chính thức. Và sớm hay muộn, Đại Hàn Dân Quốc cũng sẽ tái thống nhất đất nước, lý tưởng nhất là thông qua đàm phán hòa bình, ít nhất trên giấy tờ là như vậy. Thành thật mà nói, điều đó từ trước đến nay chẳng khác gì một ảo ảnh, hay có lẽ chỉ là một màn hỏa mù. Tôi nghĩ rằng bất kỳ một chính trị gia ở Nam hay Bắc mà thực sự tin vào điều đó thì hoặc phải cực kỳ điên rồ, hoặc rất ngây thơ. Nhưng luận điệu đó lại rất hiệu quả đối với công chúng mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, và chủ nghĩa dân tộc là một sức mạnh cực kỳ lớn ở cả hai miền. Đó là một phần của truyền thống có từ lâu đời. »
Đọc thêm - Hòa giải Nam - Bắc Triều Tiên : Những cơ hội bị bỏ lỡ và hy vọngChính sách « Hai Nhà nước » của BTT gây phân hóa cao độ tại Hàn Quốc
Việc chế độ Bình Nhưỡng đoạn tuyệt với chính sách thống nhất hai miền gây phân hóa sâu sắc trong chính giới Hàn Quốc. Bộ trưởng bộ Thống Nhất Hàn Quốc Chung Dong Young là người đứng ở tuyến đầu. Từ mùa hè năm ngoái, bộ trưởng Thống nhất Hàn Quốc liên tục đưa ra các phát biểu cổ vũ cho việc công nhận Bắc Triều Tiên là một quốc gia độc lập, cùng lúc không từ bỏ chủ trương thống nhất, được ghi trong Hiến pháp. Trong một hội thảo hồi tháng 9/2025, bộ trưởng Chung Dong-young nhấn mạnh « hai miền Triều Tiên là hai quốc gia riêng, xét theo luật pháp quốc tế, và chính trị quốc tế », đã gia nhập Liên Hiệp Quốc bằng con đường riêng, và điều quan trọng là « chấm dứt sự thù địch giữa hai bên ».
Dân biểu Ahn Cheol Soo của đảng đối lập cánh hữu PPP cáo buộc bộ trưởng Chung Dong Yong vi phạm Hiến pháp, khi công nhận lập trường về hai nhà nước trên bán đảo Triều Tiên, vì Điều 3 của Hiến pháp Hàn Quốc định nghĩa lãnh thổ Đại Hàn Dân Quốc bao gồm toàn bộ bán đảo. Lãnh đạo nhóm dân biểu đảng PPP, Song Eon Seok, cảnh báo rằng việc công nhận hai nhà nước sẽ làm đảo lộn quy chế pháp lý của những người tị nạn Bắc Triều Tiên đang sống tại Hàn Quốc, bởi việc Hiến pháp quy định lãnh thổ Hàn Quốc bao trùm toàn bộ bán đảo cho phép công nhận mọi người dân tị nạn Bắc Triều Tiên là công dân Hàn Quốc.
Đọc thêm : Vì sao Bắc Triều Tiên bỏ mục tiêu tái thống nhất với Hàn Quốc ?Về vấn đề này, bản thân nội bộ chính quyền của tổng thống Lee Jae Myung cũng phân hóa cao độ. Ngoại trưởng Cho Hyun và cố vấn An ninh Quốc gia Wi Sung Lac bác bỏ việc công nhận Bắc Triều Tiên như một nhà nước độc lập, riêng biệt. Tuy nhiên, nhiều áp lực gia tăng buộc chính quyền Hàn Quốc xem xét sửa đổi Hiến pháp, với lý do chính, là chỉ có như vậy mới có thể tái lập được đối thoại thực sự với Bình Nhưỡng.
Sửa Hiến pháp để thừa nhận thực tế, để có thể đối thoại với Bắc Triều Tiên
Trong một cuộc tọa đàm về chính sách đối ngoại tại Seoul, ngày 03/12/2025, giáo sư Moon Chung-in, nguyên cố vấn an ninh của tổng thống, cho rằng Hàn Quốc cần xem xét sửa đổi điều 3 và điều 4 của Hiến pháp, do việc giảm bớt quy mô cuộc tập trận Hàn–Mỹ không đủ để thay đổi lập trường của Bình Nhưỡng. Ông dự đoán chỉ khi nào Seoul bắt đầu thảo luận công khai khả năng sửa đổi điều khoản về lãnh thổ, Bình Nhưỡng mới có thể quay lại bàn đối thoại.
Hàng loạt nhà nghiên cứu hàng đầu về bán đảo Triều Tiên coi việc xem xét sửa đổi Hiến pháp để công nhận hai nhà nước trên bán đảo Triều Tiên là một hướng đi nghiêm túc, và quyết định nói trên của Bình Nhưỡng không chỉ là một thay đổi về chữ nghĩa hay một thủ đoạn chính trị, mà có những nền tảng xã hội sâu xa.
Chuyên gia Andrei Lankov nói đến việc thu nhập chênh lệch quá lớn giữa hai miền Nam Bắc (gấp đến gần 30 lần), khiến việc thống nhất đe dọa sự tồn vong của chế độ Bắc Triều Tiên (tỉ lệ này ước tính từ 1:2 đến 1:3 giữa hai nước Đức, trước khi tái thống nhất năm 1989). Nhà nghiên cứu Kevin Gray, giáo sư Quan hệ Quốc tế - Đại học Sussex, Anh Quốc, trong công trình công phu « Quan hệ liên Triều và sự kết thúc của chủ trương thống nhất hòa bình: một cách tiếp cận về xung đột xã hội » (tháng 3/2026), nhấn mạnh đến nghịch lý là, sự thù địch giữa hai miền càng trở nên gay gắt chính do bởi niềm tin gượng ép vào một sự thống nhất, một dân tộc chung, mỗi bên xác định bản sắc của mình bằng việc biến bên kia thành ác quỷ (« define their self-identity through demonising the other Korea »).
Những trở lực: Đảng cầm quyền không đủ đa số, vai trò của liên minh Mỹ - Hàn
Việc sửa đổi điều 3 và điều 4 của Hiến pháp Hàn Quốc liên quan đến lãnh thổ và mục tiêu thống nhất đang vấp phải một trở lực lớn do việc đảng cầm quyền không có đủ 2/3 số ghế trong Quốc Hội. Một dự án cải cách Hiến pháp của tổng thống Lee Jae Myung, đưa ra cách nay ít tuần, bất thành do bị đối lập tẩy chay. Đề xuất sửa đổi Hiến pháp công nhận Bắc Triều Tiên, bị đối lập cánh hữu phản đối dữ dội, thậm chí đã không được đưa ra.
Giới chuyên gia về bán đảo Triều Tiên ghi nhận sự đối lập sâu sắc, trong chính giới Hàn Quốc, khó hy vọng có được thỏa hiệp, giữa hai phe - « phe tự lực » (self-reliance camp), coi đối thoại liên Triều là con đường chủ đạo dẫn đến hòa bình, trong khi « phe liên minh » (alliance camp), coi quan hệ đối tác Hàn Quốc-Hoa Kỳ là nền tảng, để đủ sức răn đe Bắc Triều Tiên (bài « Reassessing South Korea’s Foreign Policy Divide Under the Lee Administration » của Lakhvinder Singh, The Diplomat). Nhà nghiên cứu Vũ Khang, Đại học Boston, Mỹ, nhấn mạnh đến vai trò của nhóm làm việc Hàn Quốc-Hoa Kỳ phối hợp về chính sách đối với Bắc Triều Tiên và Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Quốc (UNC) tại Hàn Quốc, với nòng cốt là Mỹ, khiến chính quyền Seoul khó chủ động xác lập chính sách về Bắc Triều Tiên (« Những trở ngại trong nước đối với chính sách Triều Tiên của Lee Jae-myung », The Diplomat, tháng 1/2026).
Thế nan giải chiến lược của Hàn Quốc : Bị kẹt trong quan niệm nửa thế kỉ trước
Trong thời gian gần đây, đã diễn ra một thay đổi chưa từng có kể từ hơn nửa thế kỷ nay trong quan hệ giữa hai miền Nam Bắc bán đảo Triều Tiên. Lần đầu tiên, chế độ Bình Nhưỡng sửa đổi Hiến pháp, từ bỏ mục tiêu thống nhất hai miền, khẳng định miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia riêng biệt. Chính giới Hàn Quốc bị đặt trước áp lực phải thay đổi. Trong lúc chính quyền của tổng thống Lee Jae-myung có nhiều nỗ lực hướng đến cải tổ triệt để chính sách với Bắc Triều Tiên, việc thay đổi Hiến pháp, để làm cơ sở pháp lý cho điều chỉnh này, đang là điều bất khả trong hiện tại, đặc biệt do bị coi là khó tương thích với liên minh Mỹ - Hàn. Vấn đề quy chế cho người tị nạn Bắc Triều Tiên cũng là một trở ngại lớn.
Đọc thêm : Hiệp định Quân sự Toàn diện bị hủy và nguy cơ xung đột vũ trang liên TriềuNhiều chuyên gia, chính trị gia, nhà quan sát cảnh báo rằng, nếu tiếp tục để bị kẹt trong đòi hỏi chủ quyền và lý tưởng thống nhất như từ nửa thế kỉ trước, chính quyền Seoul và xã hội Hàn Quốc có nguy cơ rơi vào thế bị động kéo dài trong chiến lược với Bình Nhưỡng. Đây là điều đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh biến động địa - chính trị dữ dội, thế đối đầu giữa các đại cường Mỹ - Trung ngày càng khó lường, xu thế chạy đua vũ trang gia tăng có thể khiến căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên bùng phát thành xung đột, đặc biệt trong bối cảnh chế độ Bình Nhưỡng tăng cường hệ thống vũ khí hạt nhân và hạ ngưỡng sử dụng vũ khí hạt nhân.
Thu, 28 May 2026 - 201 - Tiếp đón Trump và Putin, Tập Cận Bình biến Trung Quốc thành « điểm hẹn » hàng đầu thế giới ?
Trong vòng chưa đầy một tuần, lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã lần lượt tiếp đón hai nguyên thủ hàng đầu thế giới: Tổng thống Mỹ Donald Trump và nguyên thủ Nga Vladimir Putin. Nhưng trước hai cuộc gặp thượng đỉnh đó, Trung Quốc đã lần lượt trải thảm đỏ đón nhiều nguyên thủ, lãnh đạo chính phủ khác từ Anh, Pháp, Đức, cho đến Canada và sắp tới đây là tổng thống Brazil. Liệu lời mời đến Bắc Kinh có trở thành một tấm vé được săn đón nhất hiện nay ?
Một điều chắc chắn, đó là chính quyền Trung Quốc đã khéo léo dàn dựng hai chuyến thăm thượng đỉnh vừa qua. Chuyến đi của Donald Trump đã được lên kế hoạch từ lâu, chỉ bị hoãn do chiến tranh Iran. Tương tự, tổng thống Nga đã được đồng cấp Trung Quốc mời đến Bắc Kinh từ tháng 02/2026, nhưng lịch trình đã được thúc đẩy sớm hơn dự kiến. Nhưng sự trọng thị và những nghi lễ mà Tập Cận Bình dành cho hai đồng cấp hầu như không có gì khác : Cùng một đội tiếp đón danh dự, một cuộc duyệt binh, và một buổi tiếp đón long trọng tại Đại Lễ đường Nhân dân.
Bộ ba chiến lược Nga-Mỹ-Trung
Đây là lần đầu tiên Trung Quốc liên tiếp đón hai nguyên thủ Mỹ và Nga trong cùng một tháng. Một mặt, những cuộc gặp này làm nổi rõ các nỗ lực của Bắc Kinh trong việc xử lý các mối quan hệ với hai cường quốc Nga và Mỹ, đồng thời khẳng định vị thế một cường quốc thiết yếu trong một trật tự thế giới ngày càng bị phân mảnh.
Mặt khác, hai cuộc họp thượng đỉnh này cho thấy có những chuyển động trong tam giác chiến lược Nga-Mỹ-Trung, được cho là một trong những bộ ba năng động nhất, mang yếu tố quyết định cho việc định hình quỹ đạo hệ thống quốc tế đang có những biến đổi. Mối quan hệ giữa Matxcơva và Bắc Kinh những năm gần đây càng ngày càng được thắt chặt, trong khi quan hệ Mỹ - Trung chuyển thành một cuộc đối đầu gay gắt, đặc biệt là kể từ nhiệm kỳ I của Donald Trump.
Tuy nhiên, những phát biểu của Donald Trump trong cuộc họp với Tập Cận Bình hôm 14/05/2026 rằng hai nhà lãnh đạo duy trì một mối quan hệ « tuyệt vời », « lâu nhất » chưa bao giờ có giữa các nguyên thủ của hai nước, đã cho thấy ông Trump đang nhận ra một « thực tế mới », đó là « Trung Quốc có một vị thế quan trọng và Hoa Kỳ không thể đánh bại ».
Và trong mối quan hệ tay ba này, vị trí của ba cường quốc trong tam giác đang có sự thay đổi từ Nga-Mỹ-Trung sang thành Nga-Trung-Mỹ, ở đó « Trung Quốc ngày nay chiếm vị trí trung tâm và giữ một vai trò chủ chốt », theo như nhận định từ nhà nghiên cứu Trịnh Vĩnh Niên (Zheng Yongnian), giáo sư ngành chính sách công, trường đại học Hồng Kông với trang South China Morning Post.
Trung – Mỹ : Đối thủ ngang vai ngang vế
Còn theo chuyên gia hàng đầu về chính sách đối ngoại của Trung Quốc, bà Theresa Fallon, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Nga, châu Âu và châu Á, trụ sở tại Bruxelles, trả lời kênh truyền hình Deutsche Welle, cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Tập thể hiện một sự chấp nhận một hình thức G2, nghĩa là một thế giới lưỡng cực mà ở đó Hoa Kỳ nhìn nhận Trung Quốc là một đối thủ « ngang tầm ».
Theo bà, « chính quyền Trump đã cho phép điều đó xảy ra. Dưới thời tổng thống Obama, khi Trung Quốc muốn được coi là đối tác ngang hàng, Mỹ đã phản đối kịch liệt và nói "Không, không, không, đây không phải là thượng đỉnh G2". Vì vậy, giờ đây chúng ta đang chứng kiến một sự chuyển dịch âm thầm, mặc dù điều đó vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Người ta thấy Trump tỏ ra rất thân thiện trong khi ông Tập vẫn giữ sự điềm tĩnh và không mấy gì nồng ấm ».
Dù vậy, nhà nghiên cứu về chính sách Trung Quốc cho rằng Donald Trump đã mắc sai lầm, khi trong các cuộc họp tại Bắc Kinh đã gợi ý rằng việc bán vũ khí cho Đài Loan là một con bài mặc cả, điều mà chưa một tổng thống Mỹ nào làm. Bà giải thích : « Bằng cách như thế, Trump đang làm suy yếu dần các thỏa thuận đã được thiết lập và nguyên trạng ở eo biển Đài Loan. Ông đang đưa ra những tín hiệu trái ngược và tất cả các đồng minh trong khu vực đang chăm chú theo dõi. Điều này có ý nghĩa gì cho họ ? Liệu họ có phải thận trọng hơn với Trung Quốc hay không ? Liệu sự cẩn trọng này cuối cùng có sẽ biến thành sự nhượng bộ hay không ? Giờ còn phải chờ xem, do lập trường của Trump là khá bất ổn ».
Chính sự bất nhất này của ông Trump trong hồ sơ Đài Loan và trong chiến lược đối với Trung Quốc đã khiến nhiều nước khác, kể cả các nước đồng minh, cảm thấy bất an. Điều này giải thích vì sao lãnh đạo các nước đó cố gắng tiếp cận Tập Cận Bình và hiện tượng này mang lại cảm giác mọi thứ đang tăng tốc, theo như nhận xét của bà Therese Fallon.
Tập Cận Bình : Nhà đàm phán cứng rắn
Chỉ có điều như quan sát từ nhiều nhà phân tích, đến Bắc Kinh lần này, cả hai nguyên thủ Nga, Mỹ, đều trong thế yếu, vào lúc cả Nga lẫn Mỹ đều đang bị lún sâu vào những cuộc chiến tranh do chính họ gây ra. Tuy được tiếp đón long trọng, cả hai phái đoàn Nga và Mỹ đều ra về với những thỏa thuận ít ỏi, không như kỳ vọng. Ở đây, một lần nữa, Tập Cận Bình đã thể hiện rõ khả năng làm chủ tình thế, và không phải là người dễ dàng bỏ lỡ cơ hội áp đặt các điều khoản của mình.
Về hồ sơ đường ống dẫn khí « Sức mạnh Siberia 2 » của Nga, ông Tập Cận Bình tiếp tục trì hoãn các cuộc đàm phán, trong khi đồng cấp Nga trước khi đến Bắc Kinh rất kỳ vọng đạt một thỏa thuận vào lúc kinh tế Nga gặp khó khăn do các lệnh cấm vận của phương Tây và những đòn tấn công bằng drone của Ukraina nhắm vào các cơ sở năng lượng. Sự từ chối không phải là dứt khoát, nhưng nó thậm chí còn tệ hơn.
Người phát ngôn điện Kremlin nói rằng cuộc đàm phán có « tiến bộ lớn », đôi bên có « sự hiểu biết chung về các thông số chính » của dự án, trước khi thừa nhận « vẫn cần phải thống nhất một số chi tiết » và nhất là chưa có « thời hạn thực hiện » nào được đề cập. Nói cách khác, Tập Cận Bình chưa chấp thuận dự án. Ông Putin trở về Matxcơva tay không. Bà Theresa Fallon lưu ý, Trung Quốc luôn là một nhà đàm phán cứng rắn, « thực sự hiểu họ đang nắm giữ Nga trong tay và họ sẽ không dễ dàng nhượng bộ Putin ».
Với Trump, cùng một thái độ và sự lạnh lùng mang tính chủ quyền. Tổng thống Mỹ đã đến đề nghị « người bạn lớn » của mình giúp ông mở khóa eo biển Hormuz. Bắc Kinh, một đồng minh của Teheran và là khách hàng lớn của dầu khí Iran, có đủ đòn bẩy cần thiết. Nhưng Tập Cận Bình đã không sử dụng nó. Trump ra về với một số hợp đồng, lời hứa và những lời nói suông. Tại eo biển Hormuz, mọi thứ vẫn không thay đổi. Nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh không vội vàng. Ông có đủ khả năng để chờ đợi – và quan sát đối thủ của mình ngày càng mất kiên nhẫn. Chính điều này cho thấy ông ta đã vươn lên một đẳng cấp khác, theo quan sát của Le Point.
Nga, một cạnh của tam giác, một quân cờ của Trung Quốc
Nhìn chung, theo quan điểm của chuyên gia Theresa Fallon, Trung Quốc hiện nay là đối thủ cạnh tranh hàng đầu của Mỹ, đặc biệt là trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo. Trong cuộc đua này, ai thắng cuộc sẽ trở thành lãnh đạo thế giới và đây là điều Trung Quốc cũng như Mỹ đang nỗ lực hướng đến.
Dù vậy, vị giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Nga, châu Âu và châu Á, nhìn nhận hiện tại có một tam giác chiến lược giữa Nga, Trung Quốc và Mỹ. « Ít nhất đó là cảm nhận của tôi từ những cuộc gặp này. Nhưng rõ ràng, Nga là phần ngắn nhất của tam giác đó và Trung Quốc sẽ sử dụng Nga để thực sự tiến quân vì Nga chống phương Tây, vì vậy Trung Quốc và Nga cùng nhau có chung mục tiêu chống phương Tây, và điều đó là có lợi cho cả hai bên vì họ có chung đường biên giới dài.
Như một học giả Trung Quốc nói với tôi: "Lý do chúng ta phải tiếp tục ôm Nga là vì chúng ta đang chuẩn bị cho chiến tranh. Vì vậy, chúng ta cần Nga trong trại của mình chứ không phải ở ngoài trại." Vì vậy, bất kể điều gì xảy ra, tôi nghĩ Trung Quốc muốn thấy nước Nga yếu hơn vì khi đó họ có thể nhận được nhiều thứ hơn từ Nga, nhiều công nghệ hơn, nhiều quyền tiếp cận với Bắc Cực, có thể là các thỏa thuận năng lượng tốt hơn. Điều đó phù hợp với mục tiêu của Trung Quốc trong thế giới mà Mỹ đang dồn hết năng lượng, sự chú ý và tên lửa vào Iran ».
Chuyên gia Therese Fallon kết luận, khi tập trung vào các khu vực khác trên thế giới, Trung Quốc đang tiếp tục đà tiến và tỏ ra điềm tĩnh hơn bao giờ hết : « Giờ không phải là lúc Bắc Kinh đến các thủ đô khác. Trung Quốc đã đảo ngược tình thế và việc khiến mọi người đổ xô đến gặp Tập Cận Bình dường như thực sự có lợi cho Trung Quốc ! »
Thu, 21 May 2026 - 200 - Thượng đỉnh Mỹ - Trung : Leo thang hay hạ nhiệt căng thẳng thương mại ?
Ngày 14/05/2026, tổng thống Mỹ Donald Trump bắt đầu chuyến thăm Bắc Kinh. Sau những màn đón tiếp long trọng, nguyên thủ Mỹ cùng đồng cấp Trung Quốc Tập Cận Bình bước vào những vòng đàm phán, được dự báo là căng thẳng, về nhiều chủ đề. Tuy nhiên, theo nhận định từ giới quan sát, hồ sơ thương mại chắc chắn là ưu tiên thảo luận hàng đầu giữa hai nguyên thủ. Liệu rằng đôi bên có hóa giải được những căng thẳng, hay lại tiếp tục leo thang đối đầu ?
Điều đầu tiên được hầu hết giới chuyên gia chia sẻ là, khác với cuộc gặp thượng đỉnh năm 2017, ông Donald Trump đến Bắc Kinh lần này trong một vị thế yếu. Cuộc chiến chống Iran do Mỹ và Israel phát động rơi vào bế tắc, trong khi cuộc chiến thuế quan mà tổng thống Trump khởi xướng vào năm 2025 không đem lại kết quả như ông muốn.
Hoa Kỳ không những không chặn được đà tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc bất chấp các nỗ lực của chính quyền Trump, mà còn phải hứng chịu các đòn trả đũa thương mại, công nghệ nặng nề từ Bắc Kinh. Theo nhật báo kinh tế Pháp Les Echos ngày 13/05/2026, hàng Made in China xuất sang Mỹ đã giảm mạnh trong vòng hai năm, từ mức gần 109 tỷ đô la (trong quý I/2024) xuống còn trên 67 tỷ trong quý I/2026.
Nếu tính riêng trong vòng 12 tháng qua, với mức thuế từ 25-30%, nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ đã giảm 38%, một con số to lớn. Tuy nhiên, những con số này làm lu mờ một hiện tượng khác. Khi nhìn kỹ các dòng chảy thương mại, người ta sẽ thấy rằng, trong năm 2025, tỷ trọng hàng nhập khẩu từ Đài Loan vào Mỹ tăng vọt đến 94%, từ Việt Nam là 50%.
Trên báo kinh tế Les Echos, Maxime Darmet, chuyên gia kinh tế tại Allianz Trade, nhận định « điều đó có nghĩa là ngành xuất khẩu Trung Quốc đang sử dụng các kênh gián tiếp. Các nhà công nghiệp Trung Quốc xuất khẩu những bán thành phẩm của họ sang các nước thứ ba, đặc biệt là Đông Nam Á, những nước này sử dụng chúng trong các dây chuyền sản xuất của mình để rồi sau đó bán thành phẩm sang Hoa Kỳ. »
Hiện tượng này phản ảnh rõ năng lực thích ứng với tốc độ kỷ lục của ngành xuất khẩu Trung Quốc. Bất chấp những rào cản thuế quan, hàng hóa của Trung Quốc vẫn đến được tay người tiêu dùng Mỹ. Các số liệu thống kê của Trung Quốc thể hiện rõ nét xu hướng này : Xuất khẩu của Trung Quốc sang Đông Nam Á tăng vọt, gần như tỷ lệ thuận với mức tăng xuất khẩu của Đài Loan hay Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Cán cân thương mại vẫn nghiêng về phía Trung Quốc khi mà mức thuế nhập khẩu áp đặt cho hàng hóa của Đài Loan chỉ ở mức 3% và Việt Nam là 12% vào cuối năm 2025, trước khi có phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ cấm các mức thuế quan « đối ứng » do tổng thống Trump ban hành. Hệ quả là trong quý I/2026, Hoa Kỳ ghi nhận mức thâm hụt thương mại là 251 tỷ đô la, so với 274 tỷ cùng kỳ vào năm 2024.
Ba mục tiêu của Donald Trump
Làm thế nào điều chỉnh cán cân thương mại Mỹ - Trung vào lúc lạm phát tại Mỹ tăng cao, uy tín của ông ngày càng suy giảm khi chỉ còn vài tháng nữa là diễn ra cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ ? Trong toàn cảnh này, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Trung Quốc với ba mục tiêu chính, theo đánh giá từ nhà phân tích về chính sách kinh tế, Agatha Kratz, thuộc nhóm tư vấn độc lập Rhodium Group, trong chương trình Affaires Etrangères, đài phát thanh France Culture, ngày 09/05/2026.
Đầu tiên hết, Donald Trump muốn chuyển hướng công luận về cuộc chiến ở Iran và mang về Mỹ một số thành công như các hứa hẹn mua thêm hàng hóa Mỹ như dầu khí, nông sản, máy bay Boeing, hay những tin tốt lành cho chip bán dẫn… từ Trung Quốc.
Khía cạnh thứ hai có một vị trí quan trọng : Hoa Kỳ muốn bảo đảm nguồn cung ứng đất hiếm liên tục từ Trung Quốc.
Trên đài France Culture, chuyên gia kinh tế giải thích : « Rõ ràng Bắc Kinh đang nắm giữ quyền kiểm soát chặt chẽ sản xuất cũng như chế biến đất hiếm và sản xuất nam châm vĩnh cửu, những thứ cực kỳ quan trọng trong tất cả các ngành công nghiệp như công nghiệp ô tô, công nghiệp điện tử, và đặc biệt quan trọng là công nghiệp quân sự, trong bối cảnh Hoa Kỳ đã sử dụng hết một phần lớn kho vũ khí của mình và cần phải xây dựng lại, nên cần các nguyên tố đất hiếm. Do đó, nếu họ muốn chế tạo tên lửa và phục hồi năng lực quân sự và nếu muốn tiếp tục cuộc chiến ở Iran, họ cần Bắc Kinh tiếp tục cung cấp các loại đất hiếm đó. Điều này vô cùng quan trọng, và tôi nghĩ nó sẽ là một phần của cuộc thảo luận. »
Vẫn theo bà Agatha Kratz, điểm thứ ba có liên quan đến cuộc chiến thuế quan của Mỹ và hiện đang vấp phải hai trở ngại :
« Đầu tiên là phán quyết của Tòa án Tối cao liên quan đến thuế quan IEEPA (Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế), phán quyết hồi tháng 2/2026 tuyên bố các loại thuế quan "đối ứng" này là bất hợp pháp. Sau đó, Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ (Court of International Trade - CIT) hôm 07/05, lại tuyên bố các thuế quan mới 10% theo Điều 122, được áp dụng lại sau phán quyết của Tòa án Tối cao, là bất hợp pháp.
Vì vậy, hiện tại thuế quan của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc chỉ ở mức trung bình 11%. Mức thuế này cực kỳ hạn chế nếu so sánh với mức thuế 15% đối với Liên Hiệp Châu Âu theo thỏa thuận song phương, mức thuế 18% đối với Ấn Độ, mức thuế 19% đối với Indonesia, v.v.
Trung Quốc rõ ràng đang ở một vị thế cực kỳ thuận lợi, và điều đó khiến Hoa Kỳ cảm thấy rất khó chịu bởi vì, mục tiêu sau cùng của họ là giảm thiểu rủi ro trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc, cố gắng đưa một số chuỗi giá trị trở lại Hoa Kỳ nếu có thể, hoặc ít nhất là đến các quốc gia thân thiện hơn. Và trong bối cảnh này, nếu thuế quan đối với Trung Quốc quá thấp, điều đó là không thể.
Tôi nghĩ rằng đã có những công tác chuẩn bị và đàm phán sơ bộ cho việc tăng thuế quan đối với Trung Quốc, điều mà Bắc Kinh rõ ràng đã cố gắng chống lại bằng mọi cách. Đặc biệt là với Jamieson Lee Greer, người đang dẫn đầu tất cả các cuộc đàm phán thương mại, Hoa Kỳ đang cố gắng đàm phán và thúc đẩy việc tăng thuế quan hàng hóa Trung Quốc với Bắc Kinh. Tôi không chắc Mỹ sẽ thành công hay không, nhưng dù sao đi nữa, đó cũng là một trong những mục tiêu. »
Bốn đòi hỏi của Tập Cận Bình
Theo báo Pháp Les Echos, thặng dư thương mại Trung Quốc trong năm 2025 đạt mức kỷ lục 1.200 tỷ đô la, tức chiếm 1% GDP của toàn cầu. Theo kinh tế gia Maxime Darmet, hiện tượng này cho thấy « Trung Quốc vẫn đang dư thừa hàng hóa do tiêu thụ chưa đủ, còn Mỹ vẫn thâm hụt do tiêu thụ quá mức. Vì vậy, thuế quan không tác động đến những mất cân bằng lớn trên toàn cầu. Chúng chỉ làm chuyển hướng dòng chảy thương mại. »
Nhưng cuộc chiến tranh chống Iran do Mỹ và Israel tiến hành đang bắt đầu có những tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc. Vốn đã trì trệ một phần do cuộc chiến thuế quan, căng thẳng xung quanh eo biển Hormuz khiến giá năng lượng tăng cao, gây khó khăn cho xuất khẩu của nền kinh tế thứ hai thế giới. Hơn nữa, việc Quốc Hội Mỹ siết chặt các luật lệ kiểm soát xuất khẩu linh kiện bán dẫn gây cản trở cho nhiều lĩnh vực công nghệ chủ chốt của Trung Quốc.
Đối với chuyên gia Agatha Kratz, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có bốn điều muốn đàm phán trong thượng đỉnh lần này :
« Đầu tiên hết là ổn định tình hình Iran. Trong ngắn hạn, tình hình kinh tế Trung Quốc khá tích cực, bởi vì Bắc Kinh có nhiều nguồn lực để kiểm soát lạm phát do giá năng lượng cao. Bởi vì nước này ít phụ thuộc vào dầu mỏ hơn so với nhiều nước châu Á, thậm chí so với cả nhiều nước châu Âu. Vì vậy trong ngắn hạn, tình hình là khá dễ quản lý.
Nhưng trong dài hạn, điều này là đáng lo, bởi vì tình trạng đó có nguy cơ đẩy châu Âu và Đông Nam Á rơi vào suy thoái. Đây là hai thị trường xuất khẩu quan trọng nhất, chiếm đến 50% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc, mà xuất khẩu chiếm đến 50% tăng trưởng kinh tế. Để dễ hình dung, việc ổn định tình hình ở Iran là vô cùng cần thiết.
Thứ hai là vấn đề thuế quan như tôi đã trình bày ở trên : Trung Quốc làm mọi cách để duy trì ở mức thuế 11% hay gần với 11% như hiện tại.
Thứ ba là kiểm soát công nghệ. Trên thực tế, các chu kỳ leo thang căng thẳng khác nhau trong năm 2025 đã được kích hoạt bởi những biện pháp của Mỹ đặc biệt nhắm vào xuất khẩu linh kiện bán dẫn và nhất là các loại vật liệu và thiết bị dùng để sản xuất chất bán dẫn, và Trung Quốc thì áp đặt các hạn chế xuất khẩu đáng kể đối với đất hiếm vào ngày 09/10/2025 để trả đũa các biện pháp của Mỹ.
Vì vậy, tôi nghĩ Bắc Kinh chắc chắn sẽ cố gắng bóp chết ngay từ "trong trứng nước" mọi ý định của Quốc Hội Mỹ nhằm áp đặt các biện pháp xuất khẩu và đây sẽ là một trong số các thông điệp mạnh mẽ nhất. Và Trung Quốc cũng cố gắng vận động sao cho cả Quốc Hội lẫn chính quyền cũng như bộ Thương Mại, cơ quan thực thi kiểm soát xuất khẩu, sẽ không tăng cường kiểm soát đối với chất bán dẫn, vật liệu và thiết bị sản xuất linh kiện bán dẫn ».
Nhiều bình luận trước ngày họp thượng đỉnh Mỹ-Trung cho rằng cả hai bên dường như sẵn sàng có những nhượng bộ. Tuy nhiên, chuyên gia Lizzi Lee, thuộc trung tâm tư vấn Asia Society Policy Institute, trụ sở tại Hoa Kỳ, trả lời phỏng vấn AFP, lưu ý : « Ngay cả khi cuộc họp thượng đỉnh này diễn ra tốt đẹp, điều đó sẽ không làm thay đổi quỹ đạo của Trung Quốc cũng như quyết tâm của nước này đưa nền kinh tế ít phụ thuộc hơn vào Hoa Kỳ ».
Thu, 14 May 2026 - 199 - Dầu mỏ, « vũ khí » chủ lực trong cuộc xung đột Mỹ - Iran
Cuộc chiến Mỹ - Israel chống Iran không chỉ là một cuộc đối đầu quân sự. Dầu mỏ là mặt trận khác. Đối với chính quyền Donald Trump, mục tiêu chính thức là để ngăn chặn tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân của Teheran, nhưng nhiên liệu dầu khí nói chung và dầu lửa nói riêng ngay lập tức trở thành « vũ khí » mà Iran sử dụng để đáp trả Mỹ.
Iran phong tỏa eo biển Hormuz và tấn công nhắm nhiều cơ sở dầu khí của các đồng minh của Hoa Kỳ tại vùng Vịnh. Về phần mình, Washington sử dụng dầu mỏ như một phương tiện chủ yếu để gây áp lực buộc Iran phải nhân nhượng. Vì sao dầu mỏ trở thành « vũ khí » chủ lực trong cuộc xung đột Mỹ - Iran ?
Chuyên gia Pierre Razoux, giám đốc khoa học của Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Quỹ Địa Trung Hải (FMES), trả lời đài Radio France, nhận định : « Trên thực tế, dầu mỏ đãlà nguồn tài nguyên chính của Iran trong ít nhất 60 hoặc 70 năm, kểtừ thời đế quốc Iran đến thời cách mạng Iran. Giờ đây, khi Iran hoàn toàn bị cô lập, nếu thực sự muốn kiếm ngoại tệ để hoạt động, nước này phải dựa vào xuất khẩu dầu mỏ, vốn chịu lệnh trừng phạt rất mạnh từ cộng đồng quốc tế. Vì vậy, toàn bộ vấn đề là làm thế nào để vượt qua những lệnh trừng phạt này. »
Đóng cửa eo biển Hormuz: Đòn trả đũa làm rung chuyển thế giới
Kinh tế Iran vốn đã bị kiềm tỏa nghiêm trọng do lệnh cấm vận dầu mỏ để ngăn chặn tham vọng hạt nhân của Teheran. Cuộc tấn công chớp nhoáng của liên quân Mỹ - Israel hạ sát lãnh đạo tối cao Iran, giáo chủ Ali Khamenei, và tiếp theo đó là các cuộc tấn công ồ ạt nhắm vào các cơ quan đầu não, các đơn vị vũ trang Iran, đẩy chế độ Cộng hòa Hồi giáo vào chân tường.
Hai ngày sau, ngày 2/3/2026, Iran chính thức đóng cửa eo biển Hormuz, một tuyến đường thủy chiến lược của vận tải dầu mỏ toàn cầu. Giá dầu thô Brent đã vượt mốc 100 đôla/thùng vào ngày 8/3, lần đầu tiên kể từ bốn năm. Eo biển Hormuz là tuyến đường vận chuyển khoảng 20 triệu thùng dầu và sản phẩm dầu mỏ mỗi ngày, chiếm từ 20 đến 30% lượng dầu thô toàn cầu. Các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn trong vùng Vịnh phải cắt giảm sản lượng khoảng 11 triệu thùng/ngày. Thế giới bên bờ vực đại khủng hoảng năng lượng, khiến nhiều người nghĩ đến bóng ma khủng hoảng dầu lửa thập niên 1970.
Mỹ không tấn công cơ sở dầu khí Iran: Vì sao ?
Trong chiến dịch Epic Fury tấn công Iran, quân đội Mỹ đã tấn công hàng nghìn mục tiêu, trong đó có các cơ sở quân sự, nhà máy hạt nhân, trụ sở chính quyền Iran, nhưng có một điểm được nhiều nhà quan sát lưu ý là chính quyền Trump về mặt chính thức khẳng định không đụng đến các các cơ sở dầu mỏ của Iran. Chuyên gia Pierre Razoux, giám đốc khoa học của Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Quỹ Địa Trung Hải (FMES), trên đài Radio France nhận định :
« Hoa Kỳcoi cuộc chiến chống Iran như một phần của cuộc cạnh tranh toàn cầu với Trung Quốc. Washington về cơ bản muốn nói với Bắc Kinh rằng chúng tôi đã vô hiệu hóa dầu mỏ của Venezuela, chiếm 5% lượng nhập khẩu của Trung Quốc. Giờ đây, chúng tôi đang tiếp tụcvô hiệu hóa dầu mỏ của Iran, chiếm 15% lượng nhập khẩu của Trung Quốc.Vì vậy, kể từ khi Donald Trump dự kiến đến Bắc Kinh vào cuối tháng 3, ngay cả khi cuộc gặp này có thể bị trì hoãn một chút, ông vẫn có đòn bẩy đối với Trung Quốc. Chính vì vậy,mục tiêu của Hoa Kỳ không phải là phá hủy cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Iran, mà là làm tê liệt trong một khoảng thời gian nhất định, đủ lâu để đàm phán với Trung Quốc. Trong khi đó, ngược lại,Israelcó thể có lợi ích trong việc phá hủy, hoặc ít nhất là làm suy yếu đáng kể, năng lực sản xuất của Iran. Mục tiêu chính xác của Israellà gây thiệt hại nghiêm trọng và, có thể nói, phá vỡ hệ thống dầu lửacủa Iran. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta thực sự cần nhìn nhận vấn đề theo cách đó ở cấp độ toàn cầu. »
Nhận định của chuyên gia Pierre Razoux được đưa ra ít ngày sau cuộc tấn công của Israel ngày 18/03, nhắm vào một mỏ khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới South Pars/North Dome, của Iran và Qatar tại vùng Vịnh. Iran cáo buộc Mỹ - Israel và đã trả đũa ngay lập tức về vụ oanh kích này với cuộc tấn công vào một cơ sở khí đốt chính của nước láng giềng Qatar, đồng thời đe dọa tiếp tục tấn công trả đũa cơ sở dầu khí của các đồng minh khác của Mỹ, như Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất.
Tổng thống Donald Trump ngay lập tức khẳng định cuộc tấn công do Israel tiến hành và yêu cầu Tel Aviv đình chỉ mọi cuộc tấn công tương tự trong tương lai, có nguy cơ làm khủng hoảng nhiên liệu thêm trầm trọng.
Mỹ phong toả eo biểnsau khi can thiệp quân sự không đạt mục tiêu
Tiếp theo việc Iran phong tỏa gần như toàn bộ việc đi lại qua eo biển Hormuz, ngoại trừ một số tàu thuyền của các quốc gia thân hữu như Trung Quốc, đến lượt Washington ngăn chặn tàu đến và rời các cảng biển của Iran, kể từ ngày 13/04. Quyết định được đưa ra ngay sau khi cuộc đàm phán trực tiếp đầu tiên giữa Mỹ và Iran tại Islamabad ngày 12/04 thất bại. Vì sao Washington đưa ra biện pháp này, một tháng rưỡi sau khi mở màn cuộc tấn công Iran ?
Trong cuộc tọa đàm do đài France 24 tổ chức, ông Adel Bakawan, giám đốc Viện nghiên cứu châu Âu về Trung Đông và Bắc Phi (European Institute for Studies on the Middle East and North Africa), nhận định: « Donald Trump quả thực có một chiến lược. Chiến lược của ônglà buộc chế độ này đầu hàng thông qua đàm phán. Ôngđã không thành công. Trumpbắt đầu ném bom để buộc chế độ này đầu hàng. Ôngcũng đãkhông thành công. Trumplại thử con đườngngoại giao. Ông vẫn không thành công. Giờ đây Trumpnghĩ ông đã tìm ra phương pháp đúng đắn. Đó là cố gắngbóp nghẹt nền kinh tế của chế độCộng hòa Hồi giáo cho đến khi Lực lượng Vệ binh Cộng hòa phảicầu xin Donald Trump. Tôi xin phép nói hình ảnh một chút. Họ sẽ cầu xin, Donald Trump hãy trở lại bàn đàm phán đi, chúng tôi chắc chắn sẽ đầu hàng. »
Buộc Iran đóng cửa giếng dầu để huỷ diệt tiềm lực kinh tế: Kỳ vọng của Trump
Dựa trên những gì Nhà Trắng tính toán có thể bóp nghẹt nền kinh tế Iran với lệnh phong tỏa ngày 13/04 ? Chuyên gia David Rigoulet-Roze, tổng biên tập tạp chí « Orients Stratégiques », trên đài France 24, cho biết :
« Tổng thống Mỹ chính thứcnói rằng điều đó sẽ mất ít nhất hai tháng. Các cố vấn của ông nói rằng họ đang thảo luận về thời gian tối thiểu hai tháng để biện pháp nàycó hiệu quả, bởi vì có vấn đề về kho chứa dầu. Việc không còn nơi chứa sẽdẫn đến việc các giếng dầu phải đóng cửa. Vàmột khigiếng dầu bị đóng,sẽ có vấn đề về ngập nước,có nghĩa là không thể khai thác được dầu nữa. Điều này đặc biệt đúng nếu có những giếng dầu cũ. Họkhông thể làm chúnghồi sinh. Điều nàygây áp lực rất lớn đối vớihệ thống sản xuất dầu của Iran.»
Trump tin tưởng là phong tỏa hiệu quả hơn ném bom
Homayoun Falakshahi, chuyên gia phân tích về dầu mỏ của công ty dữ liệu hàng hải Kpler, có trụ sở tại Paris (France 24), cho rằng Iran có thể khôi phục được các mỏ, nhưng ngược lại sẽ mất thu nhập do dầu không thể được chuyển ra ngoài. Hai tháng là thời gian mà chính quyền Trump dự kiến sẽ chặn đứng được nguồn thu của Teheran, vốn đã bị siết chặt do các trừng phạt:
« Iran đãcó rất nhiều kinh nghiệm trong việc này. Vì vậy, tôi nghĩ họ sẽ có thể đưa sản lượng trở lại bình thường khi có thể. Nhưng điều đó tốn tiền. Việc mất thời gian đồng nghĩa với việc tốn tiền. Trên thực tế, chúng ta đang ở trong tình huống mà, theo ước tính của chúng tôi, Irancó thể cầm cự được hai tháng. Nếu lệnh phong tỏa kéo dài hai tháng, doanh thu của Iran sẽ giảm xuống bằng không. Vìsao? Bởi vì họ có dầu ở ngoài khơi, được lưu trữ gần Singapore và Trung Quốc. Tổng cộng là 120 triệu thùng, tương đương với khoảng hai tháng xuất khẩu. Không kểlượng dầu xuất khẩu hiện tại từ Iran không thể vượt qua được lệnh phong tỏa. Vậy là trong hai tháng nữa, doanh thu sẽ giảm xuống bằng không. Canh bạc ở đây là nếu lệnh phong tỏa kéo dài hai tháng, chúng ta có thểsẽ chứng kiến việc Iran phảiđầu hàng, hoặc ít nhất chính quyền Trump tin tưởng như vậy. »
Hai tuần sau khi áp đặt lệnh phong tỏa, tổng thống Trump tỏ ra hài lòng. Lãnh đạo Mỹ hào hứng với nhận định : Việc phong tỏa có hiệu quả hơn một chút so với việc ném bom. Iranđang nghẹt thở. Và tình hình sẽ còn tồi tệ hơn đối với họ. Họ sẽkhông thể sở hữu đượcvũ khí hạt nhân.
Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, những đối thủ đáng gờm về kinh tế
Cuộc tấn công của Mỹ chống Iran diễn ra chỉ trước một tháng ngày tổng thống Trump dự kiến đi Trung Quốc. Ngày 17/03, đúng vào lúc xung đột tiếp diễn dữ dội, thế giới bên bờ vực đại khủng hoảng năng lượng, ông Trump đề nghị Bắc Kinh hoãn chuyến công du một tháng rưỡi, thời gian để Nhà Trắng giải quyết xong xuôi cuộc chiến chống Iran. Trên thực tế, cuộc chiến quân sự và kinh tế của Washington chống chế độ Hồi giáo không dễ xuôi chèo mát mái. Các lực lượng Iran không chỉ đã tìm ra phương cách để kháng cự, không cho phép chính quyền Trump đạt được mục tiêu bắt chế độ phải quy hàng, mà họ còn là các đối thủ đáng gờm về mặt kinh tế.
Trả lời France 24, ông Adel Bakawan, giám đốc Viện nghiên cứu châu Âu về Trung Đông và Bắc Phi nhận định : « Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Pasdaran trên thực tế đã tư sản hóa. Tư sản hóa là gì ? Tôi đã nghiên cứu chi tiết về hồ sơ của tất cả các tướng lĩnh ở trung tâm của những cuộctranh giànhquyền lực. Họ vừa là tướng lĩnh nhưng cũngvừa là doanh nhân. Các tướng lĩnh -doanh nhân, và lànhững người có bằng tiến sĩ về địa - chính trị hoặc kinh tế. Nói cách khác, tôi nghĩ rằng tầng lớp nắm quyền ở Teheran có thể hiểu ngôn ngữ của bom đạn, nhưng trước ngôn ngữ của bom đạn, họ cũng nắm đượcngôn ngữ của kinh tế. »
Trong cuộc chiến Mỹ chống Iran, bùng lên từ ngày 28/02/2026, tạm lắng từ đầu tháng 4 với quyết định hưu chiến mong manh, năng lượng dầu khí đã trở thành một trường đấu chính. Tấn công vào các cơ sở dầu khí hay phong toả các tuyến đường hàng hải vận tải năng lượng được sử dụng như các phương tiện gây áp lực chủ chốt. Trong lịch sử thế giới đương đại, có lẽ chưa khi nào vũ khí dầu mỏ lại được sử dụng theo cách toàn diện như vậy.
« Thượng sách » và « trung sách » thất bại, Mỹ phải chuyển qua « hạ sách » ?
Khác với cuộc khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1970, lần này việc kiểm soát vận chuyển và đe doạ gián đoạn nguồn cung đóng vai trò trung tâm. Về phía Iran, quyết định phong toả eo biển Hormuz đã được đưa ra như biện pháp bất khả kháng, buộc đối phương phải trả giá rất lớn trong tình thế chế độ đứng trước nguy cơ tồn vong. Về phía Mỹ, việc trả đũa với các hoạt động phong toả hàng hải nhắm vào Iran cũng có thể xem như là biện pháp bắt buộc sau khi áp lực đe doạ huỷ diệt để Teheran nhận nhượng không đạt kết quả (thượng sách), rồi hơn ba tuần lễ tấn công dữ dội (trung sách) đã không buộc được chế độ Teheran đầu hàng.
Cho đến nay, chưa có gì cho thấy can thiệp quân sự và áp lực về dầu mỏ có thể giúp chính quyền Trump đạt được một thoả thuận về hạt nhân với Iran tốt hơn cái mà tổng thống Mỹ đã xé bỏ trong nhiệm kỳ thứ nhất. Cuộc đấu chưa kết thúc. Việc Mỹ hy vọng chặn đứng hoạt động vận tải dầu mỏ lâu dài có thể dẫn đến việc huỷ diệt năng lực sản xuất của Iran, buộc Teheran phải nhân nhượng, là điều đang diễn ra.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, để hiểu đúng hơn về vũ khí dầu mỏ trong cuộc chiến giữa Mỹ và Iran, cũng cần đặt câu chuyện này trong thế đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Cuộc chiến Mỹ chống Teheran diễn ra ngay trước chuyến đi Bắc Kinh dự kiến của tổng thống Trump dường như cho thấy Iran và dầu mỏ có thể là các biến số quan trọng trong quan hệ giữa hai đại cường.
Thu, 07 May 2026 - 198 - Khủng hoảng hậu Brexit, Trump, Hormuz : Anh Quốc tìm cách xích lại gần Liên Hiệp Châu Âu
Chính phủ Anh đang chuẩn bị một dự luật quan trọng nhằm thúc đẩy chương trình « reset » (khởi động lại) quan hệ với Liên Hiệp Châu Âu (EU), mười năm sau Trưng cầu dân ý Brexit, đưa Anh ra khỏi EU. Dự luật được đưa ra trong bối cảnh thế giới đối mặt với chính sách thuế quan bất nhất của chính quyền Trump và cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz giữa Mỹ và Iran có nguy cơ làm tê liệt nền kinh tế thế giới.
Điểm đáng chú ý nhất của dự luật này, nếu được thông qua sớm, là cho phép chính phủ Anh tự động phối hợp và cập nhật các quy định trong nước tương thích với quy chế của Thị trường chung EU (dynamic alignment), mà không cần phải thông qua các cuộc bỏ phiếu chi tiết tại Quốc Hội cho mỗi lần thay đổi.
Thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn giải thích những khó khăn mà nước Anh đang đối mặt, cũng như những điểm chính trong dự luật mới của chính phủ Keir Starmer.
RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Giang.Đầu tiên, xin anh nhắc lại cho khán thính giả của RFI biết về những gì xảy ra sau khi Hiệp định Brexit chính thức có hiệu lực vào năm 2020. Nền kinh tế Anh Quốc vận hành ra sau bên ngoài LiênHiệpChâu Âu? Giao thương giữa Anh Quốc và EU được thực hiện như thế nào?
TTV. Nguyễn Giang : Kể từ năm 2020, Anh Quốc không còn là thành viên Liên Hiệp Châu Âu và thị trường chung châu Âu nữa nên Luân Đôn phải nỗ lực ký kết các hiệp định tự do thương mại với các nước ở xa như Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam. Đây là cách bù lại thiệt hại do việc mất quy chế thành viên EU. Anh cũng đặt nhiều hy vọng vào việc ký được Hiệp định mậu dịch tự do với Hoa Kỳ, nên trên thực tế thì thời của tổng thống Donald Trump đem lại khá nhiều bất ổn cho Anh, với các mức thuế quan lúc thì nói là cắt giảm khá nhiều (xuống 10% cho hàng xuất khẩu của Anh sang Mỹ, tùy quota ngành nghề), có lúc lại ở vào cảnh bị Hoa Kỳ đe dọa thay đổi.
Xin nhắc là thỏa thuận thương mại Anh-Mỹ đã được ký vào tháng 5/2025, nhưng mới giữa tháng 4 năm nay (2026), Tổng thống Trump lại đe dọa “có thể thay đổi bất cứ lúc nào” vì lý do địa chính trị và vì yêu sách của Mỹ. Như thế, nhìn quanh thì Anh thấy EU vẫn là bạn hàng lớn, gần nhất. Brexit cũng khiến tăng trưởng kinh tế Anh giảm đáng kể. Một bài đăng tháng 2/2026 của nhóm tác giả Nicholas Bloom, Paul Mizen và Gregory Thwaites từ các đại học Stanford University (Mỹ), King’s College London và ĐH Nottingham (Anh) nêu ra con số ước tính khủng khiếp. Theo họ thì Brexit làm thiệt hại của Anh trong những năm qua là 6-8% GDP. Nhìn vào tương lai, thiệt hại tiếp tục sẽ làm sụt giảm chừng 4% GDP mỗi năm, theo nhóm nghiên cứu này, nếu quan hệ Anh-EU vẫn như hiện nay về kinh tế - thương mại. Chính phủ Lao động hiện nay thì coi tăng trưởng là ưu tiên số 1 cho mọi chính sách, nên việc tạo môi trường tương thích về kinh tế với EU là cách họ chọn để khởi động kinh tế Anh vốn tăng trưởng rất yếu, chỉ còn 0,1% trong quý 4 năm 2025.
Mười năm sau ngày trưng cầu dân ý vàsáunăm thực hiện Brexit, thủ tướng Anh gần đây tuyên bố muốn đảo ngược một số điều khoản của Brexit. Đó là những điều khoản gì ?Liên quan đến những lĩnh vực nào ?
TTV. Nguyễn Giang : Tôi xin khẳng định rằng về ngôn từ chính thức, từ thủ tướng Keir Starmer và các thông báo của chính phủ Anh, đây không phải là tiến trình đảo ngược một số điều khoản của Brexit, mặc dù phe đối lập nói như vậy.
Cụ thể là thì Anh chỉ muốn, vào những năm tới, kết nối lại gần hơn với EU và tuân theo các tiêu chuẩn EU trong 4 lĩnh vực.
Một là nông nghiệp và thực phẩm. Đây là ưu tiên hàng đầu. Anh muốn ký kết một thỏa thuận về tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ để giảm bớt việc kiểm tra biên giới đối với thực phẩm, đồ uống và các sản phẩm động thực vật.
Hai là công nghiệp xe hơi. Anh muốn phối hợp các tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo xe sản xuất tại Anh có thể lưu thông thuận tiện sang thị trường EU, mà không gặp trở ngại về quy định mới.
Ba là lĩnh vực năng lượng và biến đổi khí hậu: Hai bên sẽ kết nối lại hệ thống giao dịch khí thải (Emissions Trading Scheme) và hợp tác chặt chẽ trong thị trường điện năng để giảm chi phí năng lượng.
Lĩnh vực thứ tư, có vẻ dễ hơn cả vì không mang tính kinh tế, là Anh và EU sẽ tiếp tục phối hợp công tác an ninh biên giới và di trú. Hai bên đã và đang trao đổi thông tin và phối hợp các quy trình kiểm soát biên giới, chia sẻ dữ liệu tội phạm.
Anh có thể giải thích kỹ hơn quy chế« tương thích chủ động »của luật Anh với luật EU ?
TTV. Nguyễn Giang : Đây là quy chế thực ra đã áp dụng ở phạm vi hẹp giữa Anh và EU ở Bắc Ireland. Ví dụ trong xuất nhập khẩu nông sản. Quy định về tỷ lệ thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp với một số loại cây trồng tạo ra hàng xuất khẩu trao đổi thương mại Bắc Ireland thuộc Anh và CH Ireland thuộc EU đã được áp dụng như sau: Phía Anh đồng ý tự tuân theo quy định về tỷ lệ thuốc trừ sâu trong trồng cấy cây xanh, chẳng hạn ở Bắc Ireland, theo tiêu chuẩn EU, việc xuất nhập khẩu cây giữa hai miền Nam-Bắc Ireland không cần kiểm tra thêm.
Nay thì Anh sẵn sàng để từng ngành nghề, do các bộ khác nhau phụ trách, tự động điều chỉnh quy định của mình theo tiêu chuẩn của EU, mỗi khi EU chỉnh sửa các tiêu chuẩn của họ.
Lấy ví dụ, nếu EU quy định pin cho xe ô-tô động cơ điện phải có tới 55% thành phần kỹ thuật, công nghệ bản địa chứ không phải hàng Trung Quốc, hay của nước thứ ba nào khác, Anh sẽ tự làm đúng như vậy khi ban hành quy định về pin cho xe chạy điện. Như thế thì hai bên có thể bán pin xe sang thị trường của nhau mà không cần đàm phán về thuế quan nữa.
Cơ chế này, nếu được thông qua bằng một đạo luật vào dịp hè năm nay, sẽ được áp dụng cho các ngành kinh tế khác trên toàn Vương quốc Anh trong quan hệ với EU.
Trên thực tế thì hai bên đã thảo luận về tiêu chuẩn sản phẩm (Hóa chất và hàng tiêu dùng). Anh có xu hướng bám sát các tiêu chuẩn an toàn hóa chất (REACH) và bảo vệ người tiêu dùng của EU, để tránh tình trạng hàng hóa Anh bị từ chối tại biên giới do khác biệt về tiêu chuẩn. Việc mở rộng theo từng khu vực kinh tế (sector by sector) là những bước đi thận trọng để triển khai chiến lược “tương thích hóa” kinh tế hai bên. Hôm 15/04/2026, EU đã nhận lại Anh vào chương trình giáo dục Erasmus, nay được gọi là Erasmus +, sẽ được triển khai từ 2027. Theo chính phủ Anh thì ít nhất 100 nghìn sinh viên, thanh niên sẽ được hưởng lợi chỉ trong năm đầu tiên từ việc Anh quay lại chương trình đào tạo, trao đổi giáo dục, văn hóa này.
Tôi muốn nói thêm là EU đã ký mở rộng hợp tác tương tự với Thụy Sĩ, nước nằm giữa châu Âu nhưng không phải là thành viên Liên Hiệp Châu Âu, tuy không dùng ngôn từ như các dự tính ký với Anh. Tháng 2 năm nay, EU và Thụy Sĩ đã ký thỏa thuận tăng cường hợp tác trong bốn lĩnh vực: thực phẩm, điện, bảo vệ biên giới và khai thác không gian vũ trụ. Có thể thấy là ba lĩnh vực đầu gần như giống hệt với những gì EU có thể sẽ ký với Anh.
Vì sao thủ tướng Anh, Kier Starmer muốn thực hiện dự luật đó vào lúc này ?Thực trạng nền kinh tế Anh hiện nay ra sao ?
TTV. Nguyễn Giang : Đầu tiên là bối cảnh quốc tế ngày một khó khăn, về an ninh năng lượng, về chuỗi cung ứng, do chiến sự Trung Đông, do cuộc chiến thuế quan Hoa Kỳ-Trung Quốc, chiến tranh ở Ukraina, đã khiến việc sáp lại gần với láng giềng lớn nhất, và đối tác thương mại quan trọng là EU, trở nên cấp bách với Anh.
Như chính lời Thủ tướng Keir Starmer nói với BBC hôm 13/04, thì 10 năm sau Trưng cầu dân ý Brexit, Anh Quốc “cần nhìn về phía trước, không nhìn lại quá khứ”, và khi mà “xung đột lớn, bất ổn lớn (massive conflict, great uncertainty) đang xảy ra trên thế giới thì “vì quyền lợi của mình, Vương quốc Anh cần có một quan hệ gần gũi hơn, mạnh mẽ hơn với châu Âu”. Ông cho rằng nhu cầu đó đến từ thực tiễn hiện nay, và đúng với cả quốc phòng, an ninh, năng lượng và kinh tế.
Thứ hai là nhu cầu kích hoạt tăng trưởng kinh tế. Đầu năm nay, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nêu dự báo tăng trưởng kinh tế ở Anh năm 2026 là 1,5%, nhưng trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới (World Economic Outlook) trong tháng 4 năm nay, IMF hạ dự báo về tăng trưởng kinh tế Anh xuống chỉ còn 0,8% năm nay. Tức là thực trạng nền kinh tế Anh đang ở điểm rất dễ rơi vào suy thoái.
Nghị trình chủ đạo của Chính phủ Anh hiện nay là phải thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế. Quan điểm của Đảng Lao Động cầm quyền là tạo quan hệ gần gũi hơn trong giao thương với EU qua chính sách tạo sự “tương thích hóa” ở các ngành then chốt, thì doanh nghiệp sẽ giảm bớt được rào cản kỹ thuật và chi phí, từ đó kinh tế Anh có thêm cơ hội tăng trưởng.
Lãnh đạo chính phủ Anh muốn thay đổi những điều khoản trên mà không cần đưa ra Nghị Viện thảo luận. Đâu là những công cụ pháp lý cho phép ông thực hiện các thay đổi mà không qua Nghị Viện ?
TTV. Nguyễn Giang : Dự kiến một dự luật (bill) sẽ được giới thiệu trong Diễn văn của Nhà vua (The King’s Speech) vào tháng 5/2026 và được thông qua trước kỳ nghỉ hè năm nay, đánh dấu bước chuyển biến lớn nhất trong quan hệ Luân Đôn - Bruxelles sau khi Anh chính thức rời EU. Khi được thông qua rồi thì luật này cho phép chính phủ, từ nay tới 2028-2029, có thể ra các nghị định hoặc hướng dẫn để điều chỉnh các chính sách từng ngành nghề cụ thể của nền kinh tế, tạo sự tương thích với quy định của EU mà không cần Quốc Hội thông qua chi tiết nữa.
Ý định này củathủ tướng Keir Starmer gây tranh cãi ra sao và lập luận của phe chống và ủng hộ là gì ? Liệu đây có là nước cờ mạo hiểm cho thủ tướng Anh khi mà các đảng đối lập chỉ trích ông« phản bội » ý nguyện của người dân ?
TTV. Nguyễn Giang : Ngay lập tức kế hoạch này đã bị các đảng đối lập như Bảo thủ và Reform chỉ trích. Họ coi mọi thay đổi hiệp định Brexit đều phải được Nghị viện thông qua.
Phe phê phán chính phủ nói đây chẳng khác gì luật thời vua Henry VIII- năm 1539 triều đình Anh ra một luật cho phép ông vua đó điều hành vương quốc bằng các sắc lệnh (to rule by decree) mà không cần Nghị viện bỏ phiếu cho mỗi lần cụ thể để chuẩn thuận hoặc bác bỏ thay đổi.
Hiện nay, phe đối lập và những người ủng hộ Brexit cứng rắn lo ngại đây là hành động “hội nhập lại EU bằng cửa sau”, làm mất đi quyền tự chủ về luật pháp của Anh khi phải chạy theo các quy tắc mà họ không còn quyền bỏ phiếu quyết định tại Bruxelles. Trong ngày 13/04/2026, lãnh đạo đảng Bảo thủ Kemi Badenoch đã phát biểu công khai phản đối ý tưởng về dự luật này. Theo bà thì đây là “cách làm tệ nhất ở cả hai đầu”: Anh mất quyền tham gia quyết định về các tiêu chuẩn hàng hóa của EU, mà phải chạy theo, tuân thủ quy định EU. Mặt khác, quy chế tương thích này khiến Anh không còn ký hiệp ước thương mại một cách thoải mái với các nước khác ngoài EU nữa.
Trên thực tế thì cả hai đảng Bảo thủ và Reform đều thừa nhận kinh tế đang rất yếu. Nhưng giải thích của Reform là các đời thủ tướng Bảo thủ đã qua và Lao động hiện nay đã “không biết tận dụng cơ hội Brexit đem lại” và đã làm uổng phí sự độc lập tự chủ khỏi EU để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đảng Bảo thủ cầm quyền từ khi Brexit 2016 đến giữa năm 2024 thì nay có ban lãnh đạo mới và ban lãnh đạo này cũng nói họ đang đưa ra các chính sách (mang tính đề xuất) để thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng nói một cách khách quan thì chính sách của đảng nào nêu ra cũng vấp phải thực tiễn rất khắc nghiệt.
Dư luận Anh nay nghĩ gì về Brexit và về quan hệ với EU ?
TTV. Nguyễn Giang : Về dư luận thì tính đến tháng 1/2026, theo Statista, có tới 58% người dân Anh coi quyết định Brexit là sai, và chỉ có 30% coi là đúng. Tuy thế, người ta không nghĩ việc quay trở lại EU là khả thi. Trước mắt, việc xích lại gần EU để kinh tế đỡ khó khăn là bước đi mà nhiều người coi là hợp lý nhất. Tôi thấy bên cạnh chuyện kinh tế thì nhìn chung, người dân chấp nhận Anh ở bên ngoài EU và họ chỉ có thể than phiền về thủ tục kiểm tra biên giới, về hàng không khi sang EU đi du lịch. Rất nhiều vấn đề thực tiễn này vẫn chưa có giải pháp chung gì cả.
Thu, 30 Apr 2026 - 197 - Cuộc chiến ''bất cân xứng'' chống Mỹ: Phe Houthi ở Yemen, chỗ dựa đắc lực của Iran
Trong cuộc chiến Mỹ-Israel chống Iran, bùng lên từ cuối tháng 2/2026, có một ẩn số quan trọng : Phản ứng của lực lượng Houthi. Theo nhiều nhà quan sát, cho dù Houthi chỉ là một cộng đồng thiểu số tại Yemen, nhưng nếu lực lượng này quyết định tham chiến, tác động sẽ rất lớn đến khu vực. Vì sao ?
Chiến tranh Iran : Houthi nhập cuộc ngày 28/03/2026
Sau gần một tháng kể từ đầu cuộc chiến, ngày 28/03, lực lượng Houthi tấn công Israel bằng tên lửa. Cuộc tấn công đã được thông báo vào hôm trước : Mục tiêu là để ngăn ngừa Israel và Mỹ leo thang quân sự chống Iran. Trên đài France 24, cựu đại sứ Pháp tại Qatar và Ả Rập Xê Út, Bertrand Besancenot, nhận định:
« Đây là một tín hiệuquan trọng, theo tôi.Tín hiệu nàycho thấy,thật không may, Teheranmuốn khẳng địnhchúng ta đang ở trong giai đoạn leo thangxung đột. Do đó, việclực lượng Houthi bắt đầutham gia vào cuộc xung đột,bất chấp thỏa thuận ngừng bắnvới Mỹ trước đó,rõ ràng có nghĩa là Teheran trên thực tế đã yêu cầulực lượng Houthican thiệp. »
Từ thời điểm đó đến nay, quân Houthi dùng tên lửa đạn đạo oanh kích Israel ít nhất bốn lần vào các vị trí chiến lược, trong đó đáng chú ý có đợt tấn công ngày 02/04 cùng ngày với đợt oanh kích lớn nhất của Iran nhắm vào Israel từ đầu chiến tranh.
Tấn công Israel và cản trở giao thông ở Hồng Hải để phản đối chiến tranh của Israel tại Gaza
Đây không phải là lần đầu quân Houthi tham chiến. Kể từ khi bùng nổ cuộc chiến tranh của Israel chống Hamas tại Gaza từ cuối năm 2023, để trả đũa vụ tấn công khủng bố của Hamas trên đất Israel, cái tên Houthi đã được thế giới biết đến rộng rãi. Tính đến đầu năm 2024, Houthi dùng ít nhất 40 tên lửa đạn đạo và hàng trăm drone tấn công Isarel, và khoảng 30 tàu thuyền trên biển Hồng Hải, nối liền Địa Trung Hải với Ấn Độ Dương. Ông David Rigoulet-Roze, nhà nghiên cứu tại Viện Phân tích chiến lược Pháp (Institut Français d’Analyse stratégique - IFAS), chuyên gia về Trung Đông và bán đảo Ả Rập, nhận định:
« Sau ngày 7/10/2023, lực lượng Houthilà một trongcácbênđầu tiên thể hiện ủng hộ về mặt quân sự đối với Hamastrong cuộc chiến ở Gaza. Đã cómột kho vũ khítồn tại dưới thời cựutổng thống Saleh trước khibị lật đổ, nhưngrõ rànghệ thống vũ khí của lực lượng Houthiđã phát triển, nhờsự hỗ trợ của người Iran, đặc biệt là Lực lượng Vệ binh Cách mạng, và của Hezbollah,giúp Houthităng cường khả năng tên lửa đạn đạo. »(Chương trình Arte Les Houthis : l’engrenage continue au Moyen-Orient ? / Lực lượng Houthi: Vòng xoáy bạo lực ở Trung Đông có tiếp tục?).
Houthi là ai ?
Lực lượng Houthi có tên gọi chính thức là Ansar Allah, tức « những người trung thành với Thượng Đế », được thành lập trong thập niên 1990, sau khi hai miền Yemen thống nhất dưới quyền lãnh đạo của gia tộc Saleh. Houthi là tên của nhà sáng lập phong trào Hussein Badreddin al-Houthi, thuộc bộ tộc Houthi, thành viên một trong ba liên minh bộ tộc lớn nhất ở vùng núi miền bắc Yemen. Nhà sáng lập Houthi thuộc tiểu nhánh Hồi giáo Zaydism, hệ phái Hồi giáo Shia. Zaydism là nhánh tôn giáo chiếm khoảng 20 đến 30% dân số Yemen (tiểu nhánh này có rất nhiều khác biệt so với nhánh imam thứ 12 / Twelver Shi'ism, cũng thuộc hệ phái Shia, là nhánh tôn giáo chủ lưu tại Iran). Phong trào vũ trang của Houthi chống chế độ bị cáo buộc tham nhũng và tàn bạo của gia tộc Saleh thân Ả Rập Xê Út bùng lên vào năm 2003 khi Mỹ tấn công Irak.
Năm 2011, cách mạng bùng nổ tại Yemen trong bối cảnh phong trào Mùa Xuân Ả Rập. Tổng thống Saleh bị lật đổ. Nội chiến bùng lên năm 2014, với ba lực lượng chính : (1) phong trào ly khai muốn tái lập nước Nam Yemen, được Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất hậu thuẫn, (2) chính phủ Saleh lưu vong, được quốc tế công nhận, và (3) người Houthi.
Cách mạng, nội chiến và can thiệp nước ngoài: Houthi tìm hậu thuẫn của Iran
Cuộc can thiệp quân sự của liên quân quốc tế do Ả Rập Xê Út đứng đầu, với hậu thuẫn của Mỹ nhằm tái lập chính phủ Saleh, kết thúc với thỏa thuận ngừng bắn năm 2022 dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Gần 400.000 người thiệt mạng tại Yemen, trong 7 năm chiến tranh. Yemen hiện tại được coi là một trong những xứ sở khốn khổ nhất thế giới, với 18 triệu trong số hơn 40 triệu dân bị thiếu ăn trầm trọng, thiếu nước sạch và phương tiện y tế.
Lực lượng Houthi hiện kiểm soát khoảng 30% lãnh thổ Yemen, tại các vùng rừng núi hiểm trở, và các địa bàn chiến lược chủ yếu, như các vùng ven biển và vùng giáp biên với Ả Rập Xê Út. Chính trong bối cảnh cách mạng, nội chiến và can thiệp nước ngoài này, quan hệ giữa Houthi và Iran được siết chặt. Bà Agnès Levallois, chủ tịch Viện Nghiên cứu Trung Đông Địa Trung Hải (IReMMO), chuyên về vùng Cận Đông, nhận định (chương trình của Arte) :
« Chúng ta hãy trở lạinăm 2015,khi Ả Rập Xê Út quyết định phát động chiến tranh chống lực lượng Houthi,nổi lên sau các cuộc biểu tình năm 2011buộc tổng thốngSalehphải ra đi. Phong trào phản kháng Mùa Xuân Ả Rập 2011cũng đã lan đến Yemen.Saukhitổng thốngSaleh ra đi, đã có những cuộc đối đầu giữa các lực lượng khác nhau cấu thành nênxã hộiYemen.Lực lượng Houthilàmột thành phần của xã hội Yemen,chủ yếu là ngườiHồi giáo theo hệ pháiShia,đã tìm đến Iran để nhận được các hỗ trợ. Đây làchiến lượcđược xác lậptrong bối cảnh các cuộc nổi dậy sauphong trào Mùa Xuân Ả Rậpnăm 2011. »
Eo biển Bab el-Mandeb, một huyết mạch hàng hải Á – Âu
Theo một báo cáo của Liên Hiệp Quốc, lực lượng Houthi vào năm 2024 có khoảng 350.000 binh sĩ. Một lá chủ bài của Houthi là eo biển Bab el-Mandeb, tuyến hàng hải gần nhất nối liền châu Á với châu Âu, nơi trung chuyển của khoảng 10% thương mại hàng hải quốc tế (xem thêm về eo biển Bal el-Mandeb trên trang CNES - Trung tâm nghiên cứu Không gian Quốc gia Pháp). Tướng Dominique Trinquand, cựu lãnh đạo phái bộ quân sự của Pháp tại Liên Hiệp Quốc, nhấn mạnh đến nguy cơ Houthi phong tỏa eo biển:
« Điều này có thể dẫn đếnhệ quả gì?Có thể nói một cách đơn giản là xung độtsẽ được mở rộng. Ngoài eo biển Hormuz, còn có một eo biển cực kỳ quan trọng khác là eo biểnBab el-MandebởHồng Hải.Lực lượng Houthi đã từnggây thiệt hại và làmgián đoạn đáng kểkhu vực nàytrong nhiều năm. Có mộtlực lượng hải quâncủachâu Âuđược triển khai đểbảo vệHồng Hải. Nhưngnếu lực lượng Houthi quyết định nhập cuộc và nếunhư họvẫncó đủtên lửađể ngăn chặn tuyến đườnghàng hải đó, thì xung đột sẽmở rộngvàtình hình sẽtrở nên ngày càng phức tạphơn,bởi với việc haieo biển Hormuz vàBab el-MandebởHồng Hải bị ngăn chặn,không một con tàu nào có thể đi quatạikhu vực này. »
Sẵn sàng tham gia cuộc chiến « bất cân xứng » chống đại cường
Cho đến nay, lực lượng Houthi mới tấn công Israel và chưa có hành động ngăn cản tự do hàng hải tại eo biển Bab el-Mandeb, thỏa thuận hưu chiến với Mỹ vẫn được duy trì theo nhiều nhà quan sát, trái ngược với nhận định của cựu đại sứ Pháp tại Ả Rập Xê Út. Chuyên gia Viện Phân tích chiến lược Pháp David Rigoulet-Roze lưu ý, với cuộc tấn công này, lực lượng Houthi muốn bắn tín hiệu đến Mỹ và Ả Rập Xê Út (chương trình Arte) :
« Ẩndướihành độngnày,phe Houthi đã ngầm gửi đi mộtthông điệpđếnMỹ vàẢ Rập Xê Út. Cụ thể là lực lượng Houthi có khả năng lập mộtliên minh với Teheranđểphản công. Điều quan trọng cần nhớ là kể từ năm 2015,lực lượng Houthi đã liên tục oanh kích Ả Rập Xê Út bằngtên lửa.Sân bay củaCác Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất cũng từng bị tấn công. Ả Rập Xê Út sẽ phải đối đầu với hai địch thủ. Đây là điều không thể bỏ qua, cho dù khả năng hoạt động của lực lượng Houthi vẫn còn bị hạn chế.Việc có thêm mối đe dọa tiềm tàng ởsau lưng,bên cạnh mối đe dọa trực tiếp từ Iran, quả thực làkhiến Ả Rập Xê Út lâm vào thế khó.Vì vậy,lực lượng Houthikhông chỉgây khó choriêng Israel, mà toàn bộ cấu trúcan ninhkhu vực đang bị xáo trộn, với những hậu quả rất, rất khó lường. »
Một số nhà quan sát, như chính trị gia Pháp Thierry Breton, cựu ủy viên Châu Âu, xem cuộc chiến Iran chống Mỹ là cuộc chiến tranh « bất cân xứng » chống lại đại cường, mang tầm vóc thế giới « đầu tiên » trong kỉ nguyên đương đại (bài « Cuộc chiến tranh thế giới bất cân xứng đầu tiên », Le Grand Continent, ngày 27/03/2026). Một bên với vũ khí tối tân, chi phí lớn, muốn tập trung kết thúc trong thời gian ngắn, bên kia chủ trương kéo dài chiến tranh với cường độ thấp.
Trong chiến lược chiến tranh « bất cân xứng », lực lượng Houthi có thể đóng vai trò đắc lực khi đe dọa eo biển ở Hồng Hải, có thể tác động mạnh đến các nước trong khu vực, đặc biệt là Ai Cập, mà một phần lớn nền kinh tế dựa vào kênh đào Suez, buộc các nước gây áp lực với Mỹ chấm dứt chiến tranh.
Houthi : « Proxy » của Iran hay tự chủ về chiến lược ?
Lực lượng Houthi rõ ràng là chỗ dựa đắc lực của chế độ Hồi giáo Iran trong cuộc đối đầu với đại cường Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong vấn đề này, giới quan sát có hai luồng quan điểm đối nghịch. Nếu như nhiều người, như chuyên gia David Rigoulet-Roze cho rằng Houthi là « lực lượng ủy nhiệm » (proxy) hay thế lực thừa hành mệnh lệnh từ Iran (cho dù tác giả có ghi nhận đây là một proxy không giống như các proxy khác), thì ông Élie Tenenbaum, Viện Quan hệ Quốc tế của Pháp (IFRI), phê phán việc lạm dụng khái niệm « proxy », và khẳng định tính chất tự chủ cao về chiến lược của người Houthi (chương trình Arte) :
« Houthi và Iran làcác tác nhâncó quyền tự chủ chiến lược riêng. Họ xích lại gần nhau vì nhu cầuhợp tác. Ngược lại với trường hợp của lực lượngHezbollahở Liban, Houthi không phải do Iran lập ra. Chế độ Teherankhông có chỗ đứng nàotrong giai đoạn khởi nguồn của phong trào Houthi. Mốiliên hệvớiIranchỉ dần dần gia tăngtừ năm 2015.Ban đầu,hỗ trợ của Iran rất hạn chế. Có sự hỗ trợ về vũ khí và tài chính, và có cả việc chuyển giao công nghệ,nhưngcác tên lửa của Yemen chẳng hạn không hoàn toàn là tên lửa của Iran, màlà những tên lửa sử dụng công nghệ của Iran,đã đượcYemen chế tạo theo cách của mình ».
Houthi, tuy tham gia « Trục kháng chiến », chống bá quyền của Mỹ và chủ nghĩa dân tộc Do Thái cực đoan (Sionism), do Iran đứng đầu, nhưng chủ động về chiến lược. Đó cũng là quan điểm của chuyên gia hàng đầu về Yemen, ông Bruce Riedel, nhà phân tích của cơ quan tình báo Mỹ CIA đã nghỉ hưu, cố vấn cấp cao bốn đời tổng thống Mỹ, tác giả cuốn « Nước Mỹ và người Yemen » (Tọa đàm trực tuyến do viện tư vấn Quincy Institute for Responsible Statecraft, có trụ sở tại Washington, tổ chức đầu năm 2024). Hòa bình cho người Palestine, hòa bình và độc lập cho dân tộc Yemen là những mục tiêu chủ chốt mà lực lượng Houthi theo đuổi cho đến nay, theo nhiều chuyên gia về Yemen.
Thu, 23 Apr 2026
Podcast simili a <nome>
Tin nhanh mỗi ngày Báo Tuổi Trẻ
Closing Bell CNBC
CNBC's "Fast Money" CNBC
Power Lunch CNBC
El Partidazo de COPE COPE
Herrera en COPE COPE
Es la Mañana de Federico esRadio
La noche de Cuesta esRadio
Affaires sensibles France Inter
Nghien cuu Quoc te Lê Hồng Hiệp
El colegio invisible OndaCero
La Rosa de los Vientos OndaCero
Les grands dossiers de l'Histoire par Franck Ferrand Radio Classique
Espacio en blanco Radio Nacional
Chương trình 60' RFI Tiếng Việt
Tạp chí khoa học RFI Tiếng Việt
L'Heure Du Crime RTL
El Larguero SER Podcast
SER Historia SER Podcast
Un Libro Una Hora SER Podcast
Les Grosses Têtes RTL
Hondelatte Raconte Europe 1
Entrez dans l'Histoire RTL
LEGEND Guillaume Pley
C dans l'air France Télévisions
Enquêtes criminelles RTL
L'After Foot RMC
L'œil de Philippe Caverivière RTL
Au Cœur de l'Histoire Europe 1
Laurent Gerra RTL
L’heure du crime : les archives de Jacques Pradel RTL
Super Moscato Show RMC
La dernière Radio Nova
CRIMES • Histoires Vraies Minuit
Les récits de Stéphane Bern Europe 1
Les Grandes Gueules RMC
Hondelatte Raconte - Cote B Europe 1
Rothen s'enflamme RMC
Pascal Praud et vous Europe 1
La riposte Radio Nova
