Nach Genre filtern
Tạp chí khoa học

- 38 - Sự cộng sinh của hệ miễn dịch và vi sinh vật: Kiệt tác thiên nhiên trong mỗi con người chúng ta
Giải Nobel y học 2025 vinh danh các nhà khoa học đã phát hiện ra tế bào « T điều hòa » (Tregs) và cơ chế phân tử của tế bào này, giúp tìm ra phương pháp giải quyết tận gốc các căn bệnh tự miễn bí hiểm - khi đội quân miễn dịch hùng mạnh quay súng bắn vào chính mình. Tuy nhiên, ý nghĩa của phát hiện về Tregs không dừng ở đó.
Từ đầu thế kỉ 20, ngành miễn dịch học tập trung vào hệ thống phòng vệ của cơ thể, phát triển vaccin chống các đại dịch… Ngành vi sinh vật chủ yếu nghiên cứu về vi khuẩn/vi trùng, virus, ký sinh trùng..., tức các tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên từ khoảng 20 năm gần đây, dưới ánh sáng của các phát hiện mới, trong đó đặc biệt có phát hiện về tế bào T điều hòa, giới y khoa ngày càng phát hiện rõ hơn vai trò to lớn của thế giới các vi sinh vật với sức khỏe con người.
***
Hệ miễn dịch: Sức mạnh phi thường của sựkìm chế
Sau khi giải Nobel y học 2025 được công bố, nhà miễn dịch học hàng đầu người Pháp Alain Fischer, trong bài trả lời phỏng vấntạp chí La Recherche (ngày 07/10/2025), nhấn mạnh : « Từ lâu, hệ miễn dịch được mô tả như một đội quân sẵn sàng tấn công bất cứ thứ gì lạ. Những khám phá này buộc chúng ta phải thay đổi quan điểm. Đó là, hệ miễn dịch không chỉ là một cỗ máy chiến tranh, mà còn là một hệ thống cân bằng và kiềm chế. Sức khỏe không chỉ phụ thuộc vào khả năng loại bỏ những mối đe dọa, mà còn phụ thuộc vào khả năng bảo vệ những gì cấu thành nên chúng ta. Tế bào lympho T điều hòa thể hiện sự minh triết sinh học này. Chúng nhắc nhở chúng ta rằng sức mạnh của sự sống không nằm ở sự quyết liệt của phản ứng, mà nằm ở sự tinh tế của khả năng kiểm soát. Nói cách khác, giải Nobel này vinh danh một ý tưởng đơn giản, nhưng mạnh mẽ : kiềm chế chính là một hình thức tự vệ (la retenue est une forme de défense). »
Thông cáo báo chí của Ủy ban Nobel ghi nhận, những khám phá của các nhà khoa học đoạt giải năm 2025 đã « thúc đẩy sự phát triển các phương pháp điều trị y tế cho bệnh ung thư và các bệnh tự miễn. Điều này cũng có thể dẫn đến các ca cấy ghép thành công hơn ». Tuy nhiên, các đánh giá nói trên chưa làm bật lên được đầy đủ tầm vóc của các phát hiện đột phá về tế bào T điều hòa.
Thiếu Tregs khiến viêm nhiễm, dị ứng gia tăng: Vấn đề lớn bị Ủy ban Nobel bỏ qua
Nhà miễn dịch học Alain Fischer lưu ý : « Có một điểm quan trọng, nhưng lại bị Ủy ban Nobel đánh giá thấp một cách kỳ lạ(un point important, étrangement peu mis en avant par le comité Nobel), đó là sự thiếu hụt tế bào Tregs cũng gây ra tình trạng viêm ruột nặng – tức một phản ứng miễn dịch quá mức chống lại hệ vi sinh vật.Thông thường, hệ miễn dịch của chúng ta nhận biết hệ vi sinh vật trên da và đường ruột, nhưng không gây phản ứng viêm : quá trình ‘‘dung nạp’’ chủ độngnày được duy trì bởi các tiểu loại tế bào Tregs có mặt ở vùng ruột và da. Nếu thiếu tế bào Tregs, thế cân bằng này sẽ bị phá vỡ… Những người mắc những căn bệnh này thường cũng bị các chứng dị ứng thực phẩm hết sức nghiêm trọng. »
Sự phát triển của vi khuẩn có lợi, như Faecalibacterium prausnitzii, giúp lên men chất xơ thành axit béo chuỗi ngắn (AGCC) như butyrate, tạo điều kiện cho việc tăng sản sinh tế bào Tregs, giảm viêm. Trong chiều ngược lại, nếu Tregs bị thiếu hụt, cơ thể có thể phản ứng quá mức, với việc hệ miễn dịch tấn công ồ ạt một số loại vi khuẩn Escherichia coli (vốn tồn tại vô hại ở người khoẻ), dẫn đến bệnh viêm ruột mãn tính Crohn (MICI) (Nature, 2020).
Cái thế giới kì diệu ấy ngày càng được nhìn nhận như là sản phẩm của sự cộng sinh kỳ diệu của cơ thể với thế giới vi sinh vật trong đường ruột. Với tổng diện tích niêm mạc ước tính 300 m2, đường ruột có thể chứa đến hàng chục nghìn tỷ vi sinh vật (vi khuẩn, vi trùng, nấm, archaea [tức vi sinh vật cổ] …),cao hơn nhiều so với số tế bào trong cơ thể. Một hệ vi sinh vật cân bằng, khỏe mạnh trong đường ruột, giúp tế bào T điều hòa phát triển và vận hành tốt, là điều kiện cho một hệ miễn dịch khoẻ mạnh, cân bằng. Miễn dịch học và vi sinh vật học đang hội tụ nỗ lực để khám phá kiệt tác ấy của thiên nhiên trong mỗi con người chúng ta.
Điều gì giúp Tế bào « T điều hoà » được hài hoà ?
Thực phẩmnhiềuchất xơ, men đầy đủ,giúphệ vi sinh vật đường ruột phát triển…Trả lời RFI tiếng Việt, nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân (TP Hồ Chí Minh) giải thích: « Thực phẩm nhiều chất xơ, vi sinh vật đường ruột chuyển hóa có lợi cho sự kích thích tạo thành Tregs, thu hút Tregs. Nếu thực phẩm không thích hợp, sự cân bằng vi sinh và hoạt động của vi sinh bị tổn thương, thì từ đó sự điều hòa miễn dịch cũng bị phá vỡ, con người mệt mỏi, dễ sinh bệnh.
Chế độ ăn giàu chất xơ hỗ trợ sự phát triển của vi khuẩn có lợi trong đường ruột. Vi khuẩn này lên men chất xơ thành các axit béo chuỗi ngắn (như butyrate, propionate và acetate) giúp tăng cường chức năng của tế bào Tregsvà duy trì sức khỏe đường ruột… Ngoài ra, tryptophan – một axit amin được tìm thấy trong các thực phẩm như thịt gia cầm, trứng, đậu phụ và nhiều loại hạt – được chuyển hóa thành các hợp chất kích hoạt thụ thể aryl hydrocarbon, tiếp tục thúc đẩy hoạt động của tế bào Tregs và bảo vệ cơ thể chống lại viêm đường ruột.Ngược lại, chế độ ăn phương Tây nhiều chất béo, đường và thực phẩm chế biến sẵn làm mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột. Điều này, đến lượt nó, làm giảm số lượng vi sinh vật hỗ trợ tế bào Tregs và thúc đẩy môi trường viêm nhiễm nhiều hơn trong đường ruột. »
Nhiều căn bệnh phổ biến của xã hội hiện nay, như béo phì, các bệnh tim mạch, dị ứng, rối loạn thoái hóa thần kinh và ung thư có liên hệ với tình trạng mất cân bằng hệ vi sinh vật (dysbiosis), hoặc là nguyên nhân, hoặc là hệ quả. Do đó, các biện pháp gần với tự nhiên - như có chế độ ăn uống lành mạnh (với thực phẩm nhiều chất xơ, tryptophan,thực phẩm lên men, men vi sinh - probiotics…), tránh thực phẩm độc hại, thay đổi lối sống (cân bằng, điều hoà), môi trường sống (gần thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm), để giúp khôi phục các chức năng của hệ vi sinh vật đường ruột, được kỳ vọng sẽ sớm trở nên phổ biến (Les pouvoirs méconnus du microbiote, peuple de nos intestins, CNRS, 2022).
· Đầu đời trẻ nhỏ : Hệ vi sinh đường ruột huấn luyện hệ miễn dịchTrong cuộc đời một con người, hệ miễn dịch ngoại vi bắt đầu được hình thành như thế nào? Các nghiên cứu gần đây cho thấy, hệ miễn dịch ngoại vi của trẻ sơ sinh được hệ vi sinh vật trong đường ruột huấn luyện, đặc biệt trong giai đoạn cai sữa và bắt đầu ăn dặm. Tiến trình này nếu diễn ra không tốt, đứa trẻ sẽ mắc các bệnh viêm nhiễm dai dẳng, và có thể kéo dài cả đời. Tại Viện Pasteur (Paris), nhóm nghiên cứu của nhà miễn dịch học Gérard Eberl, chủ trì bộ phận Microenvironnement & Immunité, có dự án về vấn đề này :
« Giai đoạn phát triển sau khi sinh là thời điểm quan trọng mà hệ vi sinh vật đường ruột "đào luyện" hệ miễn dịch, dạy nó không phản ứng quá mức. Gérard Eberl và nhóm của ông đã chỉ ra rằng, trong quá trình cai sữa, hệ vi sinh vật đường ruột phát triển và "định hình" khả năng phản ứng lâu dài của hệ miễn dịch. Do đó, có thể thấy rằng tổn thương hệ vi sinh vật trong giai đoạn này, ví dụ như do vệ sinh quá mức hoặc tiếp xúc với kháng sinh, có thể ảnh hưởng đến phản ứng cai sữa. Những rối loạn này sau đó có thể dẫn đến phản ứng quá mức của hệ miễn dịch, làm tăng khả năng mắc các bệnh viêm nhiễm như dị ứng, hoặc ngược lại, làm giảm phản ứng miễn dịch và khiến cơ thể dễ bị nhiễm trùng hơn. »
Giai đoạn 1.000 ngày đầu đời, từ khi người mẹ mang thai đến khi trẻ 2 tuổi, được coi là « cửa sổ vàng », khi diễn ra các tương tác hai chiều giữa hệ miễn dịch và hệ vi sinh vật đang hình thành, giúp duy trì trạng thái cân bằng vi sinh và hệ miễn dịch cân bằng, khoẻ mạnh (tạp chí nhi khoa Front. Pediatr., 2026). Tại phương Tây, gần đây có một số nghiên cứu về « Hiệu ứng trang trại », tức khi trẻ em được tiếp xúc với môi trường giàu vi sinh vật (chuồng trại, cỏ khô, sữa tươi) sẽ ít bị hen suyễn, chàm và viêm mũi dị ứng hơn.
Tregs ở đường ruột : Sản phẩm cộng sinh của hệ miễn dịch – hệ tiêu hóa – hệ vi sinh
Để thấm thía về ý nghĩa của tế bào T điều hòa và hệ miễn dịch đối với sức khỏe và sự sống của con người, đặc biệt là hệ miễn dịch thích ứng, hãy ngược dòng lịch sử để nhìn lại đôi nét về quá trình tiến hóa lâu dài của sinh giới qua hàng trăm triệu năm cùng nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân:
« Sự tiến hóa của hệ miễn dịch phản ánh nguyên tắc cân bằng động kỳ diệu trong thế giới sinh vật. Sự cân bằng động bảo tồn tính đa dạng của hoạt động sống khiến cho hệ thống linh hoạt và bền vững. Khi hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch phức tạp hơn, nó cần điều hòa miễn dịch ngoại vi để chống bệnh đường ruột.
Hệ miễn dịch là kết quả của sự tiến hóa được cân chỉnh bởi chọn lọc tự nhiên qua hàng trăm triệu năm. Nó có hai hệ thống phòng thủ, hệ thống miễn dịch bẩm sinh sinh ra là đã có và hệ thống miễn dịch thích ứng khi cơ thể đã tiếp xúc với mầm bệnh.Những động vật như sứa, san hô, cơ thể đơn giản xuất hiện cách nay khoảng 700 triệu năm chỉ có miễn dịch bẩm sinh.Còn với động vật có xương sống, cơ thể phức tạp hơn xuất hiện trễ cách nay khoảng 550 triệu năm thì có miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch thích ứng. Trong nhóm động vật có xương sống, nhóm cá miệng tròn(Cyclostomata) rất xưa, xưa nhất ấy thì chưa có Tregs.
Còn các nhóm sinh vật như cá chép có Tregs sơ khai và nó được hoàn thiện lần lần cho tới động vật có vú thì nó mới có hoàn chỉnh để điều hòa ‘‘miễn dịch ngoại vi’’. Tại sao cần phải có điều hòa miễn dịch ngoại vi ? Vì khi cơ thể phức tạp hơn, hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch phức tạp hơn. Chúng ta nhớ rằng khoảng 70% cho tới 80% tổng số tế bào Tregs của con người là ở trong ruột. Nếu không được điều hòa miễn dịch ngoại vi thì dễ mắc bệnh viêm đường ruột cùng nhiều bệnh khác.»
Ý thức về “kiệt tác của thiên nhiên” trong mỗi con người: Phòng bệnh hơn chữa bệnh
Tế bào T điều hòa không chỉ là một phát hiện y khoa lớn giúp mở ra khả năng trị liệu tận gốc nhiều căn bệnh nan y, mà còn là cánh cửa giúp khám phá trở lại sự hài hòa của hệ miễn dịch, kết quả của quá trình tiến hoá của sinh giới qua hàng trăm triệu năm. Trong lúc Uỷ Ban Nobel chỉ nhấn mạnh đến giá trị trị liệu với một số căn bệnh (như tự miễn, ung thư), một số ít khoa học gia, như nhà miễn dịch học Pháp Alain Fischer, đã đặc biệt lưu ý đến vai trò to lớn hơn nhiều của Tregs trong việc điều hoà các phản ứng viêm, dị ứng ở đường ruột, vốn là điều gặp phải ở đông đảo dân cư, và đặc biệt là mối quan hệ giữa miễn dịch ngoại vi với hệ vi sinh đường ruột.
Dưới ánh sáng của các hiểu biết mới về Tế bào T điều hòa và hệ vi sinh đường ruột, vấn đề sức khoẻ của con người và tương tác với môi trường sống, các tác động tinh vi của những độc hại từ môi trường, cùng các tập quán ăn uống có hại, lối sống có hại, đang ngày càng trở thành chủ đề trung tâm của nền y học đương đại. Nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân chia sẻ :
« Cuộc sống là một dòng chảy liên tục của vô số cuộc đời nối tiếp nhau mà mỗi cá thể cần giữ được sự điều hòa tạm thời của chọn lọc tự nhiên. Thí dụ, nếu cá thể biết chọn phần tử thích hợp với hệ vi sinh đường ruột để kích thích tạo ra và để nuôi dưỡng hoạt động điều hòa miễn dịch, con người sẽ khỏe mạnh dẻo dai, cuộc sống an nhiên thư thái.
Y học cổ truyền phương Đông rất chú ý tới cân bằng âm dương, cân bằng khí huyết, sống gần gũi với thiên nhiên, mùa nào thức nấy, cân bằng hoạt động giữa làm việc và nghỉ ngơi, luyện tính tình điềm tĩnh. Tất cả những điều này góp phần tạo nên hệ vi sinh đường ruột lành mạnh, tạo sự thoải mái tinh thần, tạo nên cân bằng nội tiết và tất cả những điều đó góp phần điều hòa hệ miễn dịch và cả điều hòa hoạt động của gien trong cơ thể nữa. »
***
Hiểu biết về tế bào T điều hòa nhắc nhở ta về sự hài hòa kỳ diệu của sinh giới trải qua hàng trăm triệu năm tiến hóa. Kiệt tác kỳ diệu ấy tuy nhiên cũng rất mong manh, có thể dễ dàng bị tổn thương do các tác động như chế độ ăn uống sai, ô nhiễm, stress. Trong nền y học thế giới đương đại, chủ trương One Health / Một sức khoẻ duy nhất (tức sức khoẻ con người với sức khoẻ động vật, sức khoẻ của các hệ sinh thái liên kết mật thiết), đang ngày càng tìm thấy được chỗ dựa vững chắc trong sự phát triển tri thức về hệ vi sinh vật bên trong và bên ngoài cơ thể - những trợ thủ đắc lực cho một hệ miễn dịch khoẻ mạnh, cân bằng ở con người. Tháng 4/2026, lần đầu tiên một thượng đỉnh toàn cầu về « One Health » được tổ chức (Lyon - Pháp), với trọng tâm là các hệ vi sinh vật (*).
Đọc thêm - Tiếp cận ‘‘Một Sức khoẻ Duy nhất’’: Công cụ tối ưu ngăn ngừa dịch bệnhMột số chương trình nghiên cứu lớn về hệ vi sinh vật đường ruột và miễn dịch đang được triển khai tại một số quốc gia, trong đó có Pháp, có thể mở đường cho việc xác lập các chính sách y tế - bảo vệ môi trường mới, lấy thay đổi lối sống, tập quán ăn uống, bảo vệ môi trường là hướng đi chủ đạo trong việc chăm sóc sức khoẻ con người, hướng đến lấy dự phòng làm trụ cột, thay vì bị động để có bệnh mới tìm thầy, tìm thuốc.
Ghi chú
(*) Ngày 20/06/2025, Hội nghị Đối tác Toàn cầu về Hệ vi sinh vật theo tiếp cận « Một Sức khỏe » (One Health) được tổ chức tại Paris dưới sự bảo trợ của tổng thống Pháp Emmanuel Macron, nhằm xây dựng lộ trình chung để lồng ghép vấn đề hệ vi sinh vật vào các chính sách bền vững liên quan đến sức khỏe con người - sức khỏe động vật - nông nghiệp - môi trường và khí hậu, « một giai đoạn mang tính nền tảng để đưa hệ vi sinh vật trở thành ưu tiên toàn cầu». Tháng 4/2026, lần đầu tiên một thượng đỉnh toàn cầu về « One Health » được tổ chức (Lyon - Pháp), với trọng tâm là các hệ vi sinh vật.
Tại thượng đỉnh này, một Đài quan sát các Hệ vi sinh vật Toàn cầu theo tiếp cận Một Sức khỏe / Observatoire mondial inter-santés (One Health) des microbiomes được thành lập, bao gồm trước hết 50 nhóm nghiên cứu, thuộc 25 quốc gia từ 5 châu lục. Viện Nghiên cứu Nông học, Môi trường và Thực phẩm Pháp (INREA) và Viện Quốc gia về Y tế và Nghiên cứu Y khoa - INSERM là các bên chủ trì chính. Theo ông Philippe Mauguin, tổng giám đốc INREA, « Hệ vi sinh vật vừa là tác nhânkích phát, vừa là giải pháp cho các thách thức lớn của xã hội: sự gia tăng các bệnh mãn tính, tình trạng kháng kháng sinh, sự suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi các hệ thống nông nghiệp và thực phẩm. »
Wed, 09 Sep 2026 - 37 - Nobel Y học 2025: Phát hiện tế bào ‘‘T điều hòa’’, người hùng thầm lặng của hệ miễn dịch
Giải Nobel y học năm 2025 vinh danh các nhà khoa học phát hiện và khám phá cơ chế của tế bào T điều hòa (regulatory T cells), cho phép lý giải các căn bệnh tự miễn vô cùng bí hiểm. Phát hiện về người hùng thầm lặng này cho phép mở ra cánh cửa cho việc trị liệu từ gốc.
Bệnh tự miễn cho đến gần đây vốn được coi là bí ẩn không có lời giải, ảnh hưởng đến từ 5 đến 10% dân số thế giới, trong đó phụ nữ mắc bệnh (80%) nhiều gấp khoảng bốn lần nam giới (theo Viện Y tế và Nghiên cứu Y học Quốc gia - INSERM). Phát hiện về Tế bào T điều hoà mở ra cơ hội cho nhiều thay đổi cách mạng không chỉ trong trị liệu, mà có thể cả trong việc thay đổi lối sống và xây dựng những chính sách y tế, bảo vệ môi trường, là điều kiện thiết yếu cho một hệ miễn dịch khỏe mạnh ở con người.
***
Bệnh tự miễn: Khi « đội quân » miễn dịch hùng mạnh quay súng bắn vào chính mình
Hệ thống miễn dịch trong cơ thể con người thường được so sánh với một đội quân thường trực cảnh giác, sẵn sàng loại bỏ các loại virus, vi khuẩn hoặc các tế bào bất thường. Nhưng điều gì khiến cho trong nhiều trường hợp, đội quân miễn dịch hùng mạnh ấy nhầm lẫn, tấn công vào các tế bào của chính cơ thể mình ?
Trả lời phỏng vấn RFI tiếng Việt, giáo sư Đinh Xuân Anh Tuấn, trưởng khoa Nội hô hấp Bệnh viên Cochin (Paris), giải thích về ý nghĩa của phát hiện này: « Chúng ta biết rằng hệ miễn dịch của mỗi con người trong chúng ta rất cần thiết để giúp cho chúng ta có thể chống lại tất cả những vi khuẩn, có nghĩa là tất cả những cái tế bào mà nó không thuộc của chúng ta. Tế bào bình thường của chúng ta trở thành tế bào ung thư thì lúc đó cơ thể của chúng ta cũng sẽ xem cái tế bào đó như là một cái tế bào ngoại lai, có nghĩa là đến từ cái thế giới bên ngoài. Và lúc đó thì cái hệ miễn dịch của chúng ta sẽ giúp chúng ta có thể phát hiện và loại trừ những tế bào đó.
Nói tóm gọn, hệ miễn dịch rất là cần thiết cho chúng ta. Từ đó, các nhà y học cảm thấy khó hiểu và khó xử, khi mà có một số những tình huống chúng ta gọi là những cái bệnh tự miễn, tức là khi mà hệ miễn dịch của chúng ta nhầm lẫn những tế bào bình thường như là những cái tế bào đến từ bên ngoài. Những kháng thể của chúng ta trong cái hệ miễn dịch đó sẽ tấn công những tế bào của mình. Nếu mà chúng ta hiểu được cái chuyện đó thì chúng ta sẽ thấy cái tầm quan trọng của sự khám phá cái mà chúng ta gọi là ‘‘tế bào T điều hòa’’ hoặc regulatory T cells (gọi tắt là Tregs). »
Điều trị bằng cách làm suy yếu hệ miễn dịch: Phương pháp con dao hai lưỡi
Các bệnh tự miễn, với khoảng 80 bệnh được công nhận rộng rãi, thường được phân loại thành nhóm các bệnh tự miễn đặc hiệu cơ quan, như bệnh tự miễn với da, với tuyến giáp (Basedow), hay với phổi, với ruột, tiêu biểu như bệnh tiểu đường loại 1 (khoảng 23.000 người ở Việt Nam, theo số liệu của International Diabetes Federation - IDF), bệnh đa xơ cứng (tức rối loạn thần kinh não và tủy sống), và nhóm các bệnh tự miễn dạng toàn thân, như lupus ban đỏ hệ thống (có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể như da, khớp, thận, tim, phổi và hệ thần kinh, đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện sớm. Ở Việt Nam chỉ có khoảng 10% người bệnh được chẩn đoán sớm) … Tỉ lệ người mắc bệnh các tự miễn gia tăng trong những thập niên gần đây đi kèm với xu thế tuổi thọ tăng cao. Đối với nhiều xã hội công nghiệp, như Pháp, đây được coi là nhóm bệnh nhiều người mắc thứ ba, chỉ đứng sau ung thư và tim mạch.
Hiện tại nhìn chung « chưa có cách chữa khỏi hoàn toàn bệnh tự miễn... Các loại thuốc kiểm soát hoặc ức chế quá trình tự miễn có thể giúp hạn chế các triệu chứng và sự tiến triển của các tổn thương. Tuy nhiên, bệnh vẫn là mãn tính và hiếm khi có thể ngừng điều trị trong thời gian dài », theo Viện Y tế và Nghiên cứu Y học Quốc gia Pháp (INSERM).
Bác sĩ Đinh Xuân Anh Tuấn giải thích về tính chất con dao hai lưỡi của điều trị theo hướng này: « Với sự suy yếu của hệ miễn dịch thì dĩ nhiên bệnh tự miễn sẽ đỡ đi. Nhưng mà lúc đó người bệnh sẽ có cơ nguy khác. Đó là rất là dễ bị nhiễm trùng. Chúng ta cũng biết rằng, khi một người mà vừa mới bị ghép tạng, chúng ta cũng phải dùng những loại thuốc để làm tê liệt hệ miễn dịch, nhưng mà thoát khỏi việc cái tạng bị thải loại thì người bệnh đó lại gặp cái nguy cơ rất là dễ bị nhiễm trùng. »
« T điều hòa » kiềm chế « T sát thủ » : Cơ chế tự nhiên ngăn chặn bệnh tự miễn
Phát hiện tế bào T điều hòa giúp hiểu được cơ chế tự nhiên cho phép ngăn chặn các bệnh tự miễn như thế nào ? Nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân (từ TP Hồ Chí Minh), cho biết cụ thể:
« Các tế bào của hệ miễn dịch gọi là bạch cầu với khoảng 15 loại tế bào. Trong các bạch cầu có một nhóm tế bào gọi là tế bào lympho. Tế bào T thuộc nhóm tế bào lympho. Hai loại tế bào T thông thường là tế bào T hỗ trợ (Helper T cells) và tế bào T Sát thủ (Cytotoxic T cells), tế bào T hỗ trợ nhận dạng vùng vi trùng xâm nhập rồi phát tín hiệu cho tế bào T sát thủ giết vi trùng đó. Các tế bào T đều được tạo ra từ tủy xương. Những tế bào này đi qua tuyến ức, có tên khoa học là Thymus. Do đó người ta mới đặt tên nó với chữ cái đầu của Thymus.
Nhóm tế bào T mới được ông Shimon Sakaguchi khám phá ra năm 1995, gọi là ‘‘T điều hòa’’ (Tregs), cũng sinh ra từ tuyến ức. Nhưng khác với các tế bào T hỗ trợ và T sát thủ, các tế bào này có vai trò chủ yếu trong việc điều hòa hệ miễn dịch.
Tế bào T hỗ trợ chiếm khoảng 60%, T sát thủ chiếm khoảng 30% và T điều hòa trung bình khoảng 3%. Trong số các tế bào T được tạo ra từ tủy xương rồi di chuyển sang tuyến ức, có rất nhiều tế bào T sát thủ có khả năng tấn công vào tế bào của cơ thể và con số này tới hơn 90%. Nhưng mà tại tuyến ức, những tế bào T có khả năng tấn công tế bào cơ thể tuyệt đại đa số bị loại bỏ, chỉ khoảng 5% rời khỏi tuyến ức đi ra được vùng ngoại vi (tức ngoài tuyến ức). Đây là các tế bào có khả năng gây bệnh tự miễn. Về nguyên tắc, nơi nào chúng gây phản ứng tự miễn thì tế bào T điều hòa tới đó để dập tắt, tác dụng giảm viêm của Tregs rất hiệu quả. »
Tình trạng tế bào T điều hòa kém về số lượng và chất lượng là nguồn gốc gây bệnh tự miễn. Phát hiện này đã mở đường cho hàng trăm hướng nghiên cứu. Ít năm gần đây, bắt đầu đã xuất hiện một số dược phẩm giúp tăng cường số tế bàoTregs, như Anifrolumab hay Interleukin-2, điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống… Teplizumab là một trong số dược phẩm hiếm hoi gần đây được công nhận rộng rãi trên thế giới trong việc trị tiểu đường type 1, một loại bệnh tự miễn khá phổ biến khác (đầu 2026, Liên Âu phê chuẩn cho dùng thiếu này điều trị tiểu đường type 1 giai đoạn hai, Les Echos).
Tuy nhiên 30 năm kể từ khi Tregs được phát hiện, vẫn còn nhiều cản trở to lớn đối với việc phát triển các trị liệu hiệu quả. Chẳng hạn như với bệnh lupus ban đỏ hệ thống SLE, khó cả khả năng tạo được một lượng lớn tế bào Tregs cần thiết, thiếu các tế bào có khả năng nhắm đích đặc hiệu tại các mô, cũng như khả năng duy trì sự tồn tại đủ lâu dài của các Tregs cần thiết trong cơ thể (« Regulatory T cell therapy in autoimmune and immune-mediated diseases: from basic research to clinical practice and future perspectives », tạp chí Front. Immunol., 07/05/2026). Những hạn chế với bệnh SLE này cũng có thể chung cho nhiều bệnh tự miễn khác. Bên cạnh đó, việc sử dụng Tregs cũng cần phải được kiểm soát để tránh nguy cơ tạo môi trường cho ung thư phát triển do tác động gây ức chế quá mức đối với hệ miễn dịch.
Tồn tại một cơ chế « dung nạp miễn dịch » tự nhiên hoàn toàn khác : Quá trình phát hiện ra sao ?
Câu hỏi vì đâu mà các tế bào của hệ thống miễn dịch không tấn công vào cơ thể của mình đã ám ảnh giới khoa học trong nhiều thập niên. Tuyến ức có một vị trí chủ chốt trong nghiên cứu về cơ chế « dung nạp miễn dịch » (tiếng Pháp là tolérance immunitaire),tức cơ chế không cho phép các tế bào miễn dịch tấn công vào tế bào của cơ thể mình.Trước khi nhà nghiên cứu Nhật Bản Shimon Sakaguchi công bố phát hiện với bài báo gây chấn động về các tế bào « T điều hòa » năm 1995, đông đảo các nhà nghiên cứu đã từng tin tưởng tuyệt đối rằng khả năng dung nạp miễn dịch có được là do các tế bào miễn dịch có khả năng gây hại cho cơ thể đã bị loại bỏ hoàn toàn ngay trong tuyến ức, thông qua một quá trình được gọi là « dung nạp miễn dịch trung tâm ».
Thí nghiệm chuột bị cắt tuyến ức : Hình thành giả thuyết về một cơ chế « dung nạp miễn dịch » khác nằm ngoài tuyến ứcMột số thí nghiệm khác thường của các đồng nghiệp về tuyến ức, trong những năm 1980, đã giúp nhà miễn dịch học Shimon Sakaguchi nhận ra có khả năng tồn tại một cơ chế dung nạp hoàn toàn khác vớicơ chế dung nạp trung tâmđã được biết này. Trong bài trả lời phỏng vấn trang mạng The Conversation, sau khi được trao giải Nobel, nhà nghiên cứu Nhật Bản giải thích:
« Thí nghiệm mà họ thực hiện rất thú vị. Nếu bạn loại bỏ tuyến ức của những con chuột bình thường trong giai đoạn sơ sinh, bạn sẽ nghĩ rằng chúng sẽ bị suy giảm miễn dịch, vì chúng không còn tế bào lympho nữa. Thế nhưng điều ngược lại đã xảy ra: ở chúng phát triển các bệnh tự miễn (tức là các tế bào miễn dịch hoạt động dữ dội hơn). Những bệnh rất giống với những gì chúng ta quan sát thấy ở con người. Vì vậy, có điều gì đó thú vị đang diễn ra ở đây. Tất nhiên, ở bệnh nhân là người mắc các bệnh tự miễn, tuyến ức không bị loại bỏ. Như vậy, ắt hẳn phải tồn tại một cơ chế chung có thể giải thích kết quả quan sát được ở những con chuột bị cắt bỏ tuyến ức và các bệnh tự miễn tự phát ở người. »
Thí nghiệm « truyền máu » chữa được bệnh : Bằng chứng tồn tại của TregsThông qua một thí nghiệm mới, Shimon Sakaguchi đã tìm cách ngăn chặn hệ miễn dịch hoạt động quá mức ở những con chuột thiếu tuyến ức. Để làm được điều này, ông đã chiết xuất tế bào lympho T từ những con chuột có cấu trúc gen giống hệt với những con chuột đã được phẫu thuật cắt tuyến ức và truyền vào những con chuột mất tuyến ức đó. Được điều trị theo cách này, bệnh tự miễn không còn phát triển ở chúng nữa. Nhà nghiên cứu Nhật Bản kết luận: « Điều này cho thấy rằng rõ ràng phải có một quần thể tế bào lympho T có khả năng ngăn ngừa sự phát triển của những căn bệnh này. » Đây là điểm khởi đầu cho việc khám phá cơ chế « dung nạp ngoại vi ».
Shimon Sakaguchi đã rất « phấn khích » và « cảm nhận thấy đây là một hướng đi quan trọng. Rằng nếu phân tích sâu hơn hiện tượng này, nó có thể giúp chúng ta hiểu được nguyên lý cơ bản của cơ chế dung nạp miễn dịch. Tôi nghĩ rằng nếu mình có thể khám phá ra được điều này, chẳng hạn trong vòng mười năm nữa thì thật tuyệt vời. Đó là tất cả những gì mà tôi hy vọng vào thời điểm đó. »
Khám phá của Sakaguchi, được công bố 10 năm sau (trên tạp chí Journal of Immunology), đã ngay lập tức thuyết phục được giới chuyên môn. Nhà nghiên cứu người Mỹ Ethan Shevach, thuộc Viện Y tế Quốc gia (NIH) Mỹ, cũng là một người đi đầu trong nghiên cứu về Tregs, xác nhận : « Dữ liệu rất chắc chắn, không thể bác bỏ », « chúng đã thuyết phục mọi người rằng những tế bào như vậy thực sự tồn tại ».
Gen FOXP3 điều khiển tế bào T điều hòa
Đầu những năm 2000, khám phá về tế bào T điều hòa của Sakaguchi đã có thêm một bước tiến mới, có ý nghĩa quyết định. Hai nhóm nghiên cứu, một của Mary Brunkow và một của Fred Ramsdell, đã xác định được một loại gen duy nhất quyết định sự vận hành bình thường của tế bào T điều hòa, nhờ tập trung nghiên cứu hai bí ẩn y học.
Thứ nhất là bệnh xảy ở giống chuột « scurfy », nạn nhân của chứng viêm nhiễm gây tử vong và tự miễn toàn thân, và thứ hai một căn bệnh rất hiếm gặp ở người, gọi là hội chứng IPEX, khi hệ thống miễn dịch phá hủy nội tạng ở trẻ em. Đột biến của gen FOXP3 được phát hiện là nguồn gốc chung của cả hai căn bệnh hiếm nhưng khủng khiếp này. Thiếu gen này, tế bào T điều hòa không thể phát triển, và cơ thể sẽ tự hủy hoại. Khi gen này hoạt động tốt, hệ thống miễn dịch sẽ được sự cân bằng. Khoa học gia Ethan Shevach nhấn mạnh, « việc phát hiện ra genFOXP3 đã làm thay đổi mọi thứ », « nó chứng minh rằng những tế bào Tregs tạo thành một nhóm riêng biệt, thiết yếu với sự sống. »
***
Giải Nobel y học 2025 vinh danh nhà khoa học Nhật Bản cùng hai đồng nghiệp Mỹ và Anh, Mary Brunkow và Fred Ramsdell, về các phát hiện về tế bào T điều hòa và gen FOXP3 cho thấy nền tảng tế bào và phân tử của cơ chế « dung nạp miễn dịch ngoại vi », những phát hiện giúp soi rọi cõi bí ẩn bao trùm các căn bệnh tự miễn, từng được coi là bất khả tri đối với y giới.
Từ một bí ẩn đối với y học, bệnh tự miễn đang dần trở thành căn bệnh có thể kiểm soát, có thể chữa trị tận gốc. Tuy nhiên tác dụng của việc phát hiện tế bào T điều hòa không dừng ở bệnh tự miễn, mà còn giúp đi xa hơn rất nhiều trong việc khám phá cái thế giới kỳ diệu của hệ miễn dịch, kiệt tác của thiên nhiên, sản phẩm của quá trình tiến hóa hàng trăm triệu năm của sinh giới, với những ứng dụng tiềm năng lớn hơn gấp bội phần. Đây sẽ là chủ đề của tạp chí Y học một dịp tới.
Wed, 02 Sep 2026 - 36 - Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chăm sóc sức khỏe tâm thần
Hãy thử tưởng tượng một máy nhỏ đặt trong phòng khách hoặc trong phòng ngủ của một người già. Nhờ camera và micro gắn trên máy, giọng nói và các biểu cảm gương mặt của người này được ghi và được phân tích bởi một ứng dụng trí tuệ nhân tạo và qua đó phát hiện những dấu hiệu báo trước tâm trạng lo lắng hay thờ ơ và giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm.
Chiếc máy đó chính là Emobot, do ba kỹ sư trẻ người Pháp phát triển và hiện đã được trang bị cho các viện dưỡng lão hoặc đặt tại nhà của những bệnh nhân đang được theo dõi về chứng trầm cảm.
Hiện nay, tại Pháp nói riêng và trên thế giới nói chung số ca trầm cảm không ngừng gia tăng, nhưng các phương tiện y tế vẫn không đủ để chăm sóc số ca ngày càng tăng đó. Tại Pháp có đến 12,5% dân số bị trầm cảm và trên toàn thế giới số người bị trầm cảm lên tới hơn 320 triệu. Ở Pháp hiện chỉ có tổng cộng 15.000 bác sĩ tâm thần, tức là 1 bác sĩ tâm thần cho 600 bệnh nhân. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ này là 1 bác sĩ tâm thần trên 1.000 bệnh nhân. Thành ra thường phải chờ nhiều tháng mới được khám bác sĩ tâm thần và các bác sĩ không thể nào dành đủ thời gian cần thiết cho mỗi bệnh nhân, cho nên không thể chăm sóc đầy đủ cho bệnh nhân.
Theo dõi liên tục bệnh nhân
Hiện nay, các bác sĩ tâm thần chỉ có thể dựa vào những quan sát lâm sàng và dựa trên bảng câu hỏi thẩm định tâm thần để đề ra phương pháp điều trị và chẩn đoán. Giải pháp mà công ty khởi nghiệp Emobot mang lại cho các bác sĩ tâm thần đó là giúp họ theo dõi liên tục tâm trạng của bệnh nhân, hoặc của người lớn tuổi qua các biểu cảm gương mặt và giọng nói của họ được máy ghi lại và được ứng dụng trí tuệ nhân tạo phân tích.
Sau khi được trình làng tại triển lãm công nghệ lớn nhất thế giới Consumer Electronics Show (CES) tại Las Vegas, Hoa Kỳ năm 2023, Emobot đã được giới thiệu tại triển lãm công nghệ lớn nhất châu Âu Vivatech 2025.
Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ tại triển lãm Vivatech, ông Samuel Lerman, một trong ba sáng lập viên của công ty Emobot, cho biết:
“Emobot được thành lập cách đây ba năm, từ một phòng thí nghiệm tại trường CentraleSupélec và chuyên về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tâm thần học. Sản phẩm đầu tiên của công ty là ứng dụng phân tích cảm xúc thụ động, nghĩa là chúng tôi sẽ liên tục phân tích cảm xúc của những bệnh nhân mắc chứng trầm cảm hoặc rối loạn lưỡng cực. Chúng tôi sẽ có thể theo dõi họ liên tục giữa các lần khám với bác sĩ tâm thần. Mục tiêu là ngăn ngừa khả năng tái phát và xem liệu phương pháp điều trị có phù hợp và hiệu quả đối với bệnh nhân đó hay không.
Cụ thể là bệnh nhân tải xuống một ứng dụng, trên điện thoại di động hoặc máy tính và chúng tôi sẽ thu thập một số lượng dữ liệu về bệnh nhân, tất nhiên là phải có sự đồng ý của họ, liên quan đến biểu cảm khuôn mặt. Như vậy chúng tôi sẽ có thể sử dụng camera selfie của điện thoại và camera máy tính để phân tích các biểu cảm nhỏ mỗi giây trên khuôn mặt của bệnh nhân. Chúng tôi cũng sẽ lắng nghe giọng nói của bệnh nhân và thu thập dữ liệu điện thoại, như số bước đã đi, các hoạt động trong ngày và giấc ngủ, những dữ liệu rất quan trọng trong tâm thần học.
Bệnh nhân tải xuống ứng dụng và sau đó tự chụp ảnh hoặc tự quay video để giúp phát hiện những thay đổi tâm trạng. Đối với bệnh nhân, đó là nguyên tắc thụ động. Nói chung là bệnh nhân sử dụng điện thoại của họ một cách bình thường: gởi tin nhắn, sử dụng các mạng xã hội, truy cập các trang web và ứng dụng sẽ phân tích hành vi và biểu cảm khuôn mặt của bệnh nhân.”
Cung cấp dữ liệu bổ sung
Ông Samuel Lerman nhấn mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo Emobot không thay thế bác sĩ tâm thần, mà là cung cấp những dữ liệu bổ sung cho bác sĩ:
“Thu hình một bệnh nhân là một vấn đề rất nhạy cảm về tính riêng tư. Ở đây trí tuệ nhân tạo cho phép chúng ta phân tích trực tiếp mà không cần phải lưu trữ hình ảnh hoặc video. Trí tuệ nhân tạo sẽ phân tích các biểu hiện nhỏ của bệnh nhân mỗi giây và cho phép chúng ta biết cảm giác đó tích cực hơn hay tiêu cực hơn và mức năng lượng cao hơn hay thấp hơn. Và dựa trên điều đó, trong vài nghìn giờ, chúng ta có thể phát hiện ra những lúc bệnh nhân có tâm trạng buồn chán và những lúc có tâm trạng vui vẻ hơn, đây là hai tiêu chí chính để xác định chứng trầm cảm.
Bác sĩ đã có tất cả dữ liệu cá nhân của bệnh nhân và tiền sử bệnh án của bệnh nhân. Những gì chúng tôi làm là cung cấp các dữ liệu bổ sung tâm thần học đang rất thiếu. Chúng tôi sử dụng máy ảnh để có thể liên tục quay phim bệnh nhân và chúng tôi không nhất thiết phải nắm rõ hồ sơ y khoa của bệnh nhân.
Đây thực sự là một vấn đề cơ bản, vì tâm thần học là một chuyên khoa có rất ít hình ảnh, rất ít dữ liệu cụ thể. Dữ liệu duy nhất mà bác sĩ thường có là các bảng câu hỏi mà bệnh nhân điền các câu trả lời mỗi hai tuần và hiện giờ bác sĩ chỉ có thể dựa trên đó để đề ra các phương pháp điều trị, v.v.
Sử dụng trí tuệ nhân tạo trong sức khỏe tâm thần sẽ cho phép chúng tôi cung cấp những dữ liệu bổ sung, không phải để thay thế bác sĩ, mà là để giúp họ đưa ra quyết định tốt hơn. Tâm thần của bệnh nhân có ổn định hay đang dao động? Nếu tâm trạng bệnh nhân dao động, thì giải pháp của chúng tôi có thể cung cấp tín hiệu đó. Dựa trên đó, nếu cần, bác sĩ sẽ thay đổi phương pháp điều trị và nói chung là chẩn đoán tốt hơn.
Ứng dụng sẽ được sử dụng trong các phòng khám tâm thần, dù là phòng khám tư hay phòng khám trong các khoa tâm thần của bệnh viện. Ứng dụng sẽ miễn phí trong vòng một năm, chúng tôi sẽ chỉ tính phí theo dõi từ xa. Đây là mức phí cố định được bảo hiểm y tế hoàn trả.”
Trí tuệ nhân tạo còn giúp xác định những bệnh nhân có khả năng cần theo dõi bằng cách phân tích dữ liệu từ hồ sơ bệnh án. Công cụ hỗ trợ chẩn đoán này mang lại rất nhiều lợi ích: phát hiện sớm các rối loạn và hỗ trợ đắc lực cho những người chăm sóc sức khỏe tâm thần. Trong tương lai, các mô hình ngôn ngữ rộng được tích hợp vào các tác nhân đàm thoại sẽ có thể mô phỏng một buổi tư vấn tâm thần, sau đó giới thiệu bệnh nhân đến các chuyên gia sức khỏe tâm thần.
Chẳng hạn như phòng thí nghiệm Sanpsy của đại học Bordeaux, Pháp, đang phát triển một tác nhân đàm thoại với mục tiêu thực hiện một cuộc phỏng vấn y tế với bệnh nhân. Các công cụ được kết nối thì rất hữu ích để theo dõi hành vi hàng ngày của những người mắc các rối loạn sức khỏe tâm thần. Chúng thu thập dữ liệu như hoạt động thể chất, chất lượng giấc ngủ và nhịp tim. Việc theo dõi này cung cấp cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe thông tin giá trị để theo dõi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và ngăn ngừa khủng hoảng, theo dõi hiệu quả điều trị hoặc giúp cá nhân hóa các biện pháp can thiệp. Ví dụ như nhịp tim có thể cung cấp cho bác sĩ thông tin về các giai đoạn căng thẳng và kiệt sức của bệnh nhân.
Một hình thức tích hợp AI khác trong sức khỏe tâm thần là tính toán cảm xúc. Chatbot, hay còn gọi là các tác nhân đàm thoại, có khả năng diễn giải và phản hồi một cách đồng cảm với cảm xúc của người dùng, giúp tương tác trở nên gần gũi và mang tính cá nhân hơn. Một ví dụ là ứng dụng Kanopee, giúp mỗi người tự quản lý các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần như căng thẳng, lo âu và rối loạn giấc ngủ.
Trí tuệ nhân tạo cũng đóng vai trò phòng ngừa bằng cách phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe tâm thần. Sử dụng các mẫu sinh học, chụp MRI não và phân tích hành vi và ngôn ngữ, nền tảng PsyCHARE có thể xác định những người trẻ có nguy cơ mắc chứng loạn thần như tâm thần phân liệt.. Sau đó, nền tảng này giúp xác định liệu pháp điều trị phù hợp nhất cho bệnh nhân.
Theo giáo sư Pierre Philip, một chuyên gia sức khỏe tâm thần của Pháp, tương lai của AI trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần có vẻ đầy hứa hẹn, với tiềm năng to lớn trong việc theo dõi chủ động và ngăn ngừa các hành vi nguy cơ. Giáo sư Philip tin rằng công nghệ này có thể đóng vai trò trung tâm trong việc phát hiện sớm các dấu hiệu của các triệu chứng trở nặng và hỗ trợ bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính. Nếu vượt qua những thách thức liên quan đến bảo vệ dữ liệu và độ tin cậy của mô hình, AI có thể giải quyết tình trạng thiếu hụt bác sĩ tâm thần và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong ngành tâm thần học.
Với sự hỗ trợ liên tục, giá cả phải chăng và được cá nhân hóa, AI dường như là một giải pháp sáng tạo cho tương lai của sức khỏe tâm thần. Cũng theo giáo sư Philip, AI tạo sinh và các tác nhân đàm thoại sẽ giúp ích rất nhiều, tức là dạy cho mỗi người cách xác định những hành vi nguy cơ và những triệu chứng đầu tiên để khắc phục tình trạng. Đặc biệt là trong việc theo dõi các bệnh tâm thần mãn tính, AI tạo sinh có một tương lai to lớn, vì có thể cung cấp hỗ trợ liên tục phù hợp với nhu cầu cụ thể của từng bệnh nhân.
Wed, 24 Jun 2026 - 35 - Thám hiểm Mặt trăng: Tham vọng của châu Âu qua hai dự án MONA LUNA và Argonaut
Bảo đảm sự độc lập của châu Âu trong các chương trình thám hiểm Mặt Trăng là một thách thức chiến lược lớn đối với ngành không gian của châu lục này. Chính là nhắm đến mục tiêu đó mà công ty Venturi Space của Monaco đang phát triển MONA LUNA, một xe tự hành Mặt Trăng 100% của châu Âu. Một nguyên mẫu của chiếc xe tự hành này đã được giới thiệu tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget, ngoại ô Paris vào ngày 16/06/2025.
Được thành lập vào năm 2000 tại Monaco, kể từ năm 2021, Venturi Space đã mở rộng kỹ năng của họ sang lĩnh vực thám hiểm không gian qua việc thiết kế các xe tự hành sẽ hoạt động trên Mặt Trăng và sau này trên Sao Hỏa.
Là đối tác chiến lược của công ty Bắc Mỹ Venturi Astrolab, công ty Monaco này phát triển các công nghệ quan trọng - bánh xe có tính năng biến dạng rất lớn và pin hiệu suất cao - cho các xe tự hành Mặt Trăng FLIP và FLEX. FLIP sẽ được triển khai trên Mặt Trăng vào tháng 02/2026. FLEX được NASA lựa chọn trước cho các sứ mệnh có người lái trong chương trình Artemis.
MONA LUNA, xe tự hành Mặt trăng 100% châu Âu
MONA LUNA, xe tự hành Mặt Trăng hoàn toàn châu Âu, được thiết kế để đáp ứng tham vọng của Cơ quan Không gian Châu Âu ESA và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Không gian CNES của Pháp, sẽ được lắp ráp tại các cơ sở của Venturi Space Pháp ở Toulouse.
Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget, ông David Olsommer, đồng sáng lập viên công ty Venturi Space, cho biết:
“Đây là một xe tự hành nặng 750kg mà chúng tôi đang phát triển 100% tại châu Âu, với sự hợp tác, đặc biệt là của Cơ quan Không gian châu Âu, và dự kiến sẽ được sử dụng trên Mặt Trăng, không phải để vận chuyển phi hành gia, mà để vận chuyển thiết bị cho các sứ mệnh tương lai, thậm chí bắt đầu từ những năm 2030.
Hiện giờ đây chỉ là một nguyên mẫu, nhưng một số công nghệ đã được hoàn thiện, đặc biệt là pin, được sản xuất tại Monaco, bánh xe, được sản xuất tại Thụy Sĩ. Các bộ phận khác, hệ thống điện tử sẽ được sản xuất, chủ yếu tại Pháp, tại cơ sở của Venturi Space ở Toulouse.
Thách thức lớn nhất là đối với xe tự hành trên Mặt Trăng đó là Mặt Trăng không có bầu khí quyển. Đêm ở đây cực kỳ lạnh, kéo dài không phải 12 tiếng, mà là 14 ngày. Một ngày trên Mặt Trăng tương đương với 28 ngày trên Trái Đất. Nhiệt độ thực sự xuống mức cực thấp, khoảng -200°C, có nghĩa là hầu hết các công nghệ được sử dụng trên Trái Đất không thể được sử dụng trên Mặt Trăng. Vì vậy, các công nghệ đặc biệt đã được phát triển để chịu được những môi trường này. Mặt Trăng còn có một đặc điểm nữa là do không có tầng khí quyển nên mức độ bức xạ cực kỳ cao, cao hơn rất nhiều so với Trái Đất. Các thiết bị cũng phải chịu được mức độ bức xạ cao như thế.”
Theo lời ông Olsommer, xe tự hành MONA LUNA được điều khiển từ xa. Có một số hệ thống liên lạc với Trái Đất, và cả hệ thống camera quan sát để nhận diện chướng ngại vật, một hệ thống nhận dạng địa hình để xe tự hành có thể tự định hướng trên Mặt Trăng.
Dự án MONA LUNA được xây dựng dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ các xe tự hành FLIP và FLEX, được phát triển cùng với đối tác chiến lược của Mỹ là Venturi Astrolab, Inc. Ông Olsommer giải thích:
“Sứ mệnh FLIP, dự kiến phóng vào tháng 2 năm 2026, đang được thực hiện với sự hợp tác của một sứ mệnh NASA. Công ty Venturi Astrolab, có trụ sở tại California, Hoa Kỳ, đã ký hợp đồng với NASA để đưa xe tự hành này lên Mặt Trăng cùng với các tên lửa SpaceX, Falcon Heavy và tàu đổ bộ Astrobotic Griffin.
Nhiệm vụ của xe tự hành này sẽ là thử nghiệm các công nghệ đã được phát triển để hoạt động trên Mặt Trăng. Khi tôi nói về công nghệ, tôi đang nói đến công nghệ tấm pin mặt trời, hệ thống dẫn đường, định vị, chuyển động và lực kéo điện với động cơ, bánh xe và pin. Tôi cũng đang xác minh rằng tất cả các công nghệ chủ chốt đều có thể tồn tại trong môi trường Mặt Trăng. Điều này sẽ hỗ trợ các sứ mệnh trong tương lai bằng cách sử dụng các công nghệ đã được chứng minh trên các nền tảng tiên tiến hơn.
Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên vào năm tới sẽ đặt mục tiêu "sống sót" qua một hoặc hai đêm trên Mặt Trăng. Ít nhất đó là những gì chúng tôi mong đợi, và nếu kéo dài hơn được thì càng tốt. Tuy nhiên, các sứ mệnh trong tương lai sẽ phải hoạt động được trong một thời gian không còn được tính bằng đêm nữa, mà bằng tháng hoặc năm. “
MONA LUNA chủ yếu sẽ được sử dụng để vận chuyển các thiết bị, nhưng trong trường hợp khẩn cấp có thể chở theo một phi hành gia đang gặp khó khăn, theo kịch bản được Cơ quan Không gian châu Âu và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Không gian của Pháp dự trù trong các nghiên cứu về tính khả thi
Hướng tới Sao Hỏa
Không chỉ trên Mặt Trăng, công ty Venturi Space còn đang phát triển xe tự hành trên Sao Hỏa, một hành tinh cũng có môi trường rất khắc nghiệt. Xe tự hành Sao Hỏa khác gì so với xe tự hành Mặt Trăng, ông Olsommer cho biết:
“Trái ngược với những gì người ta thường nghĩ, môi trường Sao Hỏa không khắc nghiệt như môi trường xung quanh. Điều này có hai lý do. Thứ nhất là về nhiệt độ. Nhiệt độ trên Sao Hỏa dễ chịu hơn nhiều, ít khắc nghiệt hơn nhiều so với nhiệt độ trên Mặt Trăng. Và thứ hai, trên Sao Hỏa, có một bầu khí quyển CO2 nhẹ cho phép làm mát tất cả các bộ phận của xe tự hành dễ dàng hơn một chút.
Có thể có những lựa chọn ít khắc nghiệt hơn về mặt vật liệu, chính là bởi vì nhiệt độ trên Sao Hỏa không quá khắc nghiệt. Nhưng mặt khác, hành trình đến Sao Hỏa dài hơn nhiều và về mặt lý thuyết, chi phí sẽ tốn kém hơn nhiều. Điều này có nghĩa là hành trình đến Sao Hỏa đòi hỏi một xe tự hành thậm chí còn đáng tin cậy hơn cả xe tự hành sẽ đến Mặt Trăng.
Dự án xe tự hành lên Mặt Trăng là một dự án hoàn toàn do châu Âu thực hiện. Còn dự án xe tự hành lên Sao Hỏa sẽ là một dự án hợp tác với các công ty Mỹ. Hiện chưa có hợp đồng nào được ký kết, không giống như đối với các xe tự hành sẽ đến Mặt Trăng, vốn đã có các hợp đồng cụ thể được ký kết. Nhưng những gì đang được chuẩn bị là cho thời kỳ trước những năm 2030, tức là trong tương lai gần, điều này sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của một số tên lửa đẩy của Mỹ, mà tôi chưa thể tiết lộ tên, dự kiến sẽ bay lên Sao Hỏa trong những năm tới.”
Ngoài MONA LUNA, còn có một xe tự hành Mặt Trăng khác coi như 100% châu Âu, đó là xe tự hành cở rất nhỏ mang tên Tenacious. Được phát triển bởi ispace-Europe, công ty con tại Luxembourg của công ty tư nhân Nhật Bản ispace, xe tự hành này chỉ cao khoảng 26 cm, dài hơn 50 cm và chỉ nặng 5 kg. Việc phát triển Tenacious nhận được tài trợ từ Cơ quan Không gian Luxembourg thông qua hợp đồng với Cơ quan Không gian Châu Âu.
Theo dự kiến, sau khi được triển khai từ tàu đổ bộ, Tenacious sẽ sử dụng camera HD phía trước để ghi lại hình ảnh bề mặt Mặt Trăng. Xe tự hành sẽ liên lạc với các trạm mặt đất thông qua tàu đổ bộ. Nhiệm vụ của Tenacious bao gồm thu thập bụi Mặt Trăng, một phần của hợp đồng đã ký với NASA vào năm 2020, một sáng kiến nhằm chứng minh tính khả thi của việc khai thác tài nguyên Mặt Trăng.
Tenacious đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu lớp đất Mặt Trăng trong khuôn khổ chuyến bay của phi thuyền Resilience của công ty Nhật Bản trong tháng 6/2025. Nhưng chuyến bay đã thất bại, vì sau khi đáp thành công xuống Mặt Trăng, Resilience đã mất liên lạc với Trái Đất và như vậy là xe tự hành Tenacious đã không thể thực hiện nhiệm vụ được giao.
Argonaut, tàu đổ bộ Mặt Trăng của châu Âu
Trong lĩnh vực thám hiểm không gian, châu Âu cũng có một công ty lớn, đó là Thales Alenia Space, liên doanh giữa tập đoàn công nghiệp quốc phòng Pháp Thales (67%) và tập đoàn công nghiệp quốc phòng Ý Leonardo (33%). Thales Alenia Space đã ký hợp đồng trị giá 862 triệu euro với Cơ quan Không gian Châu Âu (ESA) để thiết kế và phát triển Bộ phận Hạ cánh Mặt Trăng (LDE) của phi thuyền Argonaut. Dự án này, đóng vai trò thiết yếu trong chương trình Artemis, cũng đánh dấu một bước tiến có tính chất quyết định để đảm bảo khả năng của Châu Âu trong công cuộc chinh phục Mặt Trăng kể từ những năm 2030.
Argonaut là một tàu đổ bộ Mặt Trăng đa năng, có khả năng vận chuyển tải trọng, xe tự hành và thiết bị khoa học lên bề mặt Mặt Trăng. Dự án này nhằm mục đích hỗ trợ các sứ mệnh khoa học tự động hoặc tham gia vào các sứ mệnh có người lái của chương trình Artemis. Chuyến bay đầu tiên của phi thuyền này sẽ được dành riêng cho việc vận chuyển tải trọng nhằm mục đích định vị, viễn thông và phát điện, như một phần của các sứ mệnh của Châu Âu đến phía Nam Mặt Trăng.
Tàu đổ bộ Argonaut bao gồm ba thành phần chính: bộ phận hạ cánh Mặt Trăng, bệ đỡ tải trọng và các thiết bị được gửi lên Mặt Trăng. Một trong những điểm mạnh chính của tàu vũ trụ này là linh hoạt, có thể thích ứng với nhiều loại nhiệm vụ khác nhau, từ vận chuyển thiết bị cho phi hành gia, xe tự hành, trình diễn công nghệ đến các trạm sản xuất sử dụng tài nguyên Mặt Trăng.
Là nhà thầu chính, Thales Alenia Space sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng bộ phận hạ cánh xuống Mặt Trăng. Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget 2025, ông Roberto Provera, giám đốc đặc trách các sáng chế của công ty Thales Alenia Space cho biết:
“Dự án này đã ra đời cách đây 3 năm với một số nghiên cứu ban đầu cho tàu đổ bộ cỡ trung hoàn toàn do Châu Âu phát triển. Chúng tôi đã tiến hành một số nghiên cứu với Cơ quan Không gian Châu Âu. Sau đó, năm ngoái, khi họ tổ chức đấu thầu lần cuối, chúng tôi đã tham gia đấu thầu và đã được giao thực hiện dự án này.
Đây là một tàu đổ bộ. Về cơ bản, đó là một tàu có một hệ thống đẩy rất mạnh và một hệ thống dẫn đường, định hướng và điều khiển. Đó là hai công nghệ chính. Công nghệ quan trọng thứ ba là hệ thống hạ cánh bằng chân. Đó là một cấu trúc hoàn toàn mới mà chúng tôi phải phát triển, từ hệ thống đẩy, dẫn đường, định hướng, điều khiển cho đến hệ thống chân.
Ngoài ra, còn có một thách thức là khả năng sống sót vào ban đêm trên Mặt Trăng, cho nên phải có một hệ thống năng lượng bổ sung.
Nhiệm vụ đầu tiên được lên kế hoạch vào năm 2031. Vì vậy, chúng tôi sẽ giao tàu đổ bộ cho Cơ quan Không gian Châu Âu vào năm 2030. Tàu sẽ bay cùng hỏa tiễn Ariane 6 vào năm 2031. Tàu đổ bộ này là một trong những đóng góp của châu Âu cho dự án Artemis, một chương trình đa quốc gia của Mỹ, Canada, Nhật Bản, Châu Âu. Vì vậy, thành phần này là của châu Âu nhưng nó được tích hợp vào một dự án chung quy tụ những nước muốn tham gia thám hiểm Mặt trăng.”
Wed, 08 Oct 2025 - 34 - Robot và AI, hai yếu tố giúp tăng cường sức mạnh quân sự của Pháp
Trong bối cảnh bất ổn của thế giới ngày nay, với nguy cơ xung đột quân sự leo thang và nhất là trước mối đe dọa từ Nga, Pháp đang nỗ lực tăng cường khả năng phòng thủ, trang bị cho quân đội những công nghệ tiên tiến, trong có có công nghệ robot kết hợp với trí tuệ nhân tạo.
Trí tuệ nhân tạo vẫn là một công nghệ tương đối mới, nhưng ứng dụng quân sự của nó đã trở thành hiện thực ở nhiều quốc gia. Quân đội Pháp cũng đang sử dụng công nghệ này, ví dụ như các xe bọc thép, bao gồm cả xe tăng Leclerc XLR, mới được tăng cường trí tuệ nhân tạo. Việc tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo mang lại hiệu suất quan sát và phát hiện tốt hơn. Ngay cả trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, xe tăng vẫn có thể cung cấp hình ảnh chất lượng cao. Nói chung là robot được sử dụng đặc biệt cho mục đích giám sát, sửa chữa, hậu cần và cho bất kỳ nhiệm vụ lặp đi lặp lại và rủi ro cao nào khác.
Trước đây, 2040 là năm được ấn định cho việc đưa các robot đó vào hoạt động trong quân đội Pháp, nhưng cuộc chiến Ukraina và những cuộc xung đột vũ trang khác đã làm thay đổi các ưu tiên quân sự. Bên cạnh việc đào tạo nhân sự, vũ khí cũng đang trở nên thông minh hơn và thích nghi hơn. Robot hóa hiện là trọng tâm của các chiến thuật quân sự. Thật ra thì robot sẽ không thay thế người lính, mà trở thành phương án dự phòng, đặc biệt là ở những khu vực dễ bị tấn công. Do đó, chính công nghệ này thích ứng với người lính, chứ không phải ngược lại.
Gần đây, tướng Bruno Baratz, tư lệnh đặc trách Chương trình Chiến đấu Tương lai của Quân đội Pháp, đã công bố ý định triển khai robot sẵn sàng chiến đấu. Phát biểu trong một cuộc tập trận robot quân sự gần Paris, tướng Baratz cho biết: "Chúng tôi hy vọng sẽ có một hệ thống robot tiên tiến trong vòng ba năm tới, với những robot mặt đất đầu tiên sẵn sàng trang bị cho lực lượng của chúng tôi. Chính phủ Pháp có kế hoạch triển khai các hệ thống tiên tiến, có tính ứng dụng thực tế cho các đơn vị chiến đấu của chúng tôi trước năm 2040."
Trong các cuộc thử nghiệm robot quân sự, các đơn vị không người lái, được trang bị chân, xích và bánh xe, đã di chuyển qua các chướng ngại vật và tránh các bẫy được thiết kế để mô phỏng điều kiện chiến trường. Quân đội Pháp có kế hoạch triển khai những robot này cho nhiều nhiệm vụ khác nhau, từ giám sát, sửa chữa từ xa, đến rà phá bom mìn. Tướng Tony Maffeis, giám đốc bộ phận kỹ thuật của lục quân (STAT), nhấn mạnh: "Giờ đây, chúng ta cần chứng minh rằng robot có thể hiệu quả hơn khi tiếp xúc gần với kẻ thù. Robot phải hỗ trợ chiến đấu, chứ không phải cản trở chiến đấu."
Dự án Pendragon: Kết hợp trí tuệ nhân tạo với robot
Triển lãm công nghệ Vivatech 2025 tại Paris đã là dịp để bộ Quân Lực Pháp giới thiệu với công chúng những ứng dụng của công nghệ trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực quốc phòng, chẳng hạn như dự án Pendragon.
Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm VIvatech 2025, ông Théo Pierre, một chuyên viên về trí tuệ nhân tạo của Cơ quan đặc trách trí tuệ nhân tạo quốc phòng ( MIAD ), trực thuộc bộ Quân Lực Pháp, cho biết:
“Pendragon là dự án trí tuệ nhân tạo AI và robot do Cơ quan đặc trách trí tuệ nhân tạo quốc phòng và Bộ Tư lệnh Tác chiến Tương lai, tức là lục quân, thực hiện. Dự án này trước hết là nhằm thiết lập đơn vị robot chiến đấu đầu tiên tích hợp trí tuệ nhân tạo và sau đó là tập hợp các nền tảng robot trên mặt đất và nền tảng bay, bao gồm cả drone, giúp các nền tảng này tương tác với nhau để thực hiện nhiệm vụ do một chỉ huy quân sự đề ra. Nhiệm vụ này sẽ được diễn giải tự động bằng trí tuệ nhân tạo. Công nghệ trí tuệ nhân tạo cũng sẽ được sử dụng ở một cấp độ khác, thống nhất trong mỗi nền tảng, để thực hiện các nhiệm vụ như trinh sát, phát hiện bằng quang điện tử, mà còn cả bằng tần số vô tuyến, radar, v.v.
Mục tiêu là có một đơn vị chỉ gồm robot, nhưng chúng được điều khiển bởi một chỉ huy quân sự đã được đào tạo cho việc này và sẽ có thể quyết định các hành động cần thực hiện.
Chúng tôi sử dụng các mô hình mà chúng tôi đã đào tạo và khai thác, đồng thời dựa vào các nhà sản xuất để sử dụng dữ liệu của họ. Ngay cả khi chúng được chỉ huy bởi một sĩ quan, những robot này có ít nhiều tự chủ. Mức độ tự chủ của robot cũng có thể do người điều khiển quyết định tùy thuộc vào nhiệm vụ và mức độ nguy hiểm dự kiến của nhiệm vụ. Hiện giờ chúng tôi đang mở trung tâm Pendragon, để tập hợp tất cả các bên có liên quan và có hứng thú với dự án. Về mốc thời gian, đơn vị robot sẽ có buổi biểu diễn thử nghiệm đầu tiên vào mùa hè năm 2026."
Nói chung, theo ông Théo Pierre, trí tuệ nhân tạo AI đang ngày càng được sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng của Pháp:
“Việc thành lập cơ quan MIAD chứng minh điều đó. Bây giờ, phải chuyển từ giai đoạn nghiên cứu và phát triển AI sang sản xuất. Điều đó có nghĩa là chúng tôi đang cố gắng đẩy nhanh quá trình tích hợp AI vào các hệ thống vũ khí nói chung. Một trong những mục tiêu của dự án Pengragon là tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ huy và kiểm soát hệ thống. Chính xác hơn là để giảm tải cho chỉ huy quân đội, để viên chỉ huy này sau đó sẽ có thể vận hành nhiều drone cùng một lúc, chứ không chỉ một hoặc hai drone như hiện nay."
Theo hãng tin AFP, trong nhiều tuần vào tháng 5 vừa qua, lục quân Pháp đã tổ chức cuộc thi CoHoMa, một cuộc thi về sự hợp tác giữa người và máy, với sự tham gia của mười đội đến từ các ngành công nghiệp, phòng thí nghiệm nghiên cứu và trường kỹ thuật, thực hiện một nhiệm vụ chung: chứng minh khả năng của robot trong việc giữ vững vị trí trước kẻ thù.
Tướng Tony Maffeis, giám đốc bộ phận kỹ thuật của lục quân (STAT), giải thích với AFP: Từ drone quan sát đến xe rà phá bom mìn, robot đã "rất hữu ích trong việc bảo vệ các đơn vị của chúng ta, nhưng giờ đây chúng ta cần chứng minh robot có thể tăng hiệu quả khi tiếp xúc với kẻ thù."
AFP trích lời ông Baptiste Lepelletier, thuộc một nhóm quy tụ các trường Enac, Isae-Supaero và trung tâm nghiên cứu hàng không vũ trụ Onera của Pháp, cho biết, với cuộc thi này, "chúng tôi bước ra khỏi phòng thí nghiệm và giải quyết một nhiệm vụ thực tế".
Robot mặt đất không thể thiếu sự phối hợp của các drone. Lục quân Pháp đã nghiên cứu vấn đề này từ năm 2021 với dự án Vulcain và bộ phận robot thử nghiệm, đã trình diễn một cuộc tấn công được hỗ trợ bởi một nền tảng robot được trang bị súng máy 12,7 mm.
Không cần chờ đến mục tiêu năm 2040, một số thành tựu từ hai phiên bản trước của cuộc thi CoHoMa đã được tích hợp vào thiết bị. Marc Dehondt, đứng đầu bộ phận đổi mới hệ thống mặt đất của tập đoàn Thales, cho biết họ đã "tích hợp một số thành tựu vào hệ thống chiến đấu Scorpion",hệ thống kết nối các xe bọc thép thế hệ tiếp theo. Nhưng trước khi tham gia chiến đấu, những ứng dụng đầu tiên sẽ là trong hậu cần, với các đoàn xe vận tải chạy bằng drone hoặc robot chở hàng hóa thay cho binh lính.
SERAA: Nhận dạng bằng trí tuệ nhân tạo
Cũng tại triển lãm Vivatech 2025, bộ Quân Lực Pháp đã giới thiệu dự án SERAA, một hệ thống nhận dạng bằng trí tuệ nhân tạo. Đây là hệ thống đầu tiên được sử dụng để nhận dạng và xác định những đặc tính của các xe tăng đối phương.
Trả lời RFI Việt ngữ, ông Frédéric Ponsavady, trưởng dự án, cho biết:
“Đây là một dự án trong số rất nhiều dự án của bộ Quân Lực, tương tự như những gì chúng ta thấy với hệ thống nhận dạng khuôn mặt, ngoại trừ việc nó thực sự được áp dụng cho bất kỳ loại phương tiện chiến đấu nào. Vì vậy, dù là trên bộ, trên biển, hay thậm chí trên không, nó đều có thể được điều chỉnh. Đây là những hệ thống đồng thời tập trung, phi tập trung, tự vận hành, tự động hóa, v.v. Và nó dựa vào trí tuệ nhân tạo.
Như với bất kỳ hệ thống thông minh nào, nó phải được huấn luyện để nhận dạng các mục tiêu khác nhau. Do đó, có một thách thức đối với tất cả những người làm việc trên những dự án đó: làm sao nâng cao chất lượng nguồn cung cấp dữ liệu cho các hệ thống thông minh này."
Nhưng ông Frédéric Ponsavady nhấn mạnh yếu tố con người vẫn là có tính chất quyết định trong các hệ thống đó:
"Đối với bộ Quân Lực, điều quan trọng là duy trì chủ quyền của mình dựa trên các công nghệ mới. Các lực lượng vũ trang của chúng ta bằng mọi giá phải duy trì khả năng hoạt động trực tiếp, cũng như khả năng về trí tuệ con người, chứ không phải trí tuệ nhân tạo. Nghĩa là thông qua những dự án đa dạng này, chúng ta duy trì và phát triển các kỹ năng và năng lực tương lai của các kỹ sư và quân nhân để có thể ứng phó với các tình huống xung đột quốc tế.
Khó khăn ở đây là chúng ta đụng đến một lĩnh vực hơi phức tạp, nghĩa là chúng ta vẫn cần con người can thiệp. Chúng ta có thể có các hệ thống hoàn toàn tự động mà qua đó có thể gửi mệnh lệnh đến những người lính của tương lai, những robot của tương lai: " Hãy chiếm lĩnh vị trí này." Nhưng chúng ta cũng phải nói rõ là hệ thống nên cẩn thận ở những điểm nào. Tính tự động của hệ thống cũng phải được kiểm soát tốt, bất kể tình huống, phải có các biện pháp bảo vệ. Đây là mối quan tâm đặc biệt của chúng tôi, vì dù sao đi nữa, con người vẫn là mối quan tâm chính của chúng tôi, ít ra là trong một nền dân chủ."
Wed, 10 Sep 2025 - 33 - Công nghệ : Dùng trí tuệ nhân tạo để phát hiện hàng giả
Nạn hàng giả không phải là mới, nhưng tác động kinh tế của tệ nạn rất lớn, chiếm khoảng 2,5% thương mại toàn cầu và gây thiệt hại mỗi năm hàng tỷ đô la cho các doanh nghiệp trên thế giới. Hàng giả không chỉ gây hại cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến người tiêu dùng, vì họ mua phải những sản phẩm kém chất lượng, thậm chí nguy hiểm. Chỉ riêng tại Pháp, 37% người tiêu dùng đã vô tình mua phải hàng giả.
Vrai Ai: Trợ thủ của Lacoste
Nhưng làm sao phân biệt được sự khác biệt giữa một chiếc áo phông Lacoste và một chiếc áo phông giả có logo cá sấu nổi tiếng? Thật sự thì với mức độ tinh xảo ngày càng cao của những cơ sở sản xuất hàng giả, mắt thường thật khó mà phân biệt, trừ phi chúng ta là một chuyên viên sành sõi. Việc phân biệt hàng thật với hàng giả trong ngành dược phẩm lại càng quan trọng vì nó liên quan đến sức khỏe, đến mạng sống con người.
Rất may là hiện nay trí tuệ nhân tạo (AI) đang được sử dụng ngày càng nhiều trong việc phát hiện hàng giả, chẳng hạn như ứng dụng trí tuệ nhân tạo do công ty khởi nghiệp Vrai AI của Pháp phát triển. Ứng dụng này, có thể nhận diện hàng giả dựa trên phân tích ảnh, đã được giới thiệu tại triển lãm công nghệ Vivatech 2025 (17-20/06/2025). Vrai AI hiện đang cộng tác với hãng Lacoste, thương hiệu mà các sản phẩm, nhất là áo phông, rất thường bị làm giả. Có những chiếc áo phông Lacoste nhìn qua là biết ngay là hàng giả, nhưng có những chiếc áo được làm giả một cách tinh vi hơn, mắt thường không thể phát hiện được, mà phải cần đến ứng dụng Vrai AI, với độ chính xác gần như tuyệt đối, 99,7%.
Độ chính xác này không chỉ giúp thương hiệu Lacoste bảo vệ hình ảnh và sản phẩm của họ, mà còn tiết kiệm đáng kể chi phí liên quan đến gian lận khi trả hàng (mua hàng thật nhưng gởi trả hàng giả). Nhân viên Lacoste sử dụng ứng dụng Vrai AI để chụp ảnh các sản phẩm được trả lại và có thể xác định ngay đó là hàng giả hay thật.
Trả lời RFI Việt ngữ tại Vivatech, ông Hugo Garcia-Cotte, đồng sáng lập công ty khởi nghiệp Vrai AI, cho biết:
“Chúng tôi có một hệ thống trí tuệ nhân tạo được huấn luyện trên hàng trăm nghìn bức ảnh sản phẩm thật và siêu giả, từ đó ứng dụng có thể suy ra những lỗi vi mô do kẻ làm giả gây ra so với những lỗi vi mô trên sản phẩm thật. Vì vậy, chúng tôi có thể xác định một sản phẩm thật, như quần áo, thuốc chống sốt rét, nước hoa, cả thẻ căn cước. Ứng dụng Vrai AI có thể phát hiện hàng giả chỉ từ một bức ảnh chụp bằng điện thoại thông minh. Chúng tôi thậm chí đã thử nghiệm ứng dụng này trên những tờ tiền euro giả đẹp nhất và đã có thể phát hiện những tờ tiền giả đẹp nhất từ ảnh chụp bằng điện thoại thông minh. Đối với mỗi loại sản phẩm, chúng tôi huấn luyện ứng dụng trí tuệ nhân tạo trên loại sản phẩm đó bằng cách sử dụng một số lượng sản phẩm thật và sau đó chúng tôi suy ra rằng những sản phẩm không giống hàng thật là hàng giả.
Ứng dụng của chúng tôi đã được huấn luyện trên mọi thứ được in hoặc thêu. Nghĩa là có một số loại lỗi là lỗi in ấn điển hình. Ví dụ, nếu màu sắc không chính xác thì đó có thể là lỗi in trên sản phẩm thật. Nhưng cũng có những lỗi khác chỉ có thể đến từ kẻ làm giả. Ví dụ, nếu phông chữ không đúng thì chắc chắn đó là hàng giả. Và đó là những gì Vrai IA đã tự học được từ hàng ngàn ví dụ mà chúng tôi cung cấp - chính xác là 180.000 ví dụ - nó có thể xác định được loại lỗi nào được chấp nhận và loại lỗi nào là bằng chứng của hàng giả.”
Ngoài việc cộng tác với hãng Lacoste, công ty Vrai AI hiện chủ chủ yếu giúp các nước ở châu Phi phát hiện các dược phẩm làm giả, theo lời ông Hugo Garcia-Cotte:
“Điều mà hầu hết mọi người không nhận ra là nạn làm hàng giả thực sự rất nghiêm trọng. Năm ngoái, cứ 10 người trên thế giới thì có 7 người vô tình mua phải hàng giả. Tôi không nói đến những người mua đồng hồ giả cho vui, mà nói đến thuốc giả giết chết 100 người mỗi giờ trên thế giới, một con số quá lớn. Ngay cả phương Tây cũng gặp tình trạng này, ví dụ như ở Hoa Kỳ, 11,4% thuốc là thuốc giả. Vì vậy, đối với thuốc giả, chúng tôi chụp ảnh hộp hoặc vỉ thuốc, mục đích là để có thể làm việc với hải quan.
Ví dụ, chúng tôi có một thỏa thuận với Cameroun để giúp phát hiện thuốc giả nhập khẩu, bởi vì, chẳng hạn như theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, ở Nigeria có đến 64% thuốc chống sốt rét là thuốc giả, mà tại cửa khẩu, các nhân viên hải quan không có cách nào biết được. Vì vậy, công cụ này có thể cứu sống hàng ngàn người. Hiện giờ ứng dụng chúng tôi đang được triển khai cho các chính phủ ở Cameroun, Eswatini, Senegal, và nhiều nước khác. Vrai AI cũng đang sử dụng trên các loại thuốc chống ung thư được bán ở Trung Quốc, nơi chúng tôi đã cứu sống ít nhất 6.000 người nhờ việc giảm đáng kể tình trạng làm giả loại thuốc này.
Chắc chắn là các quan chức hải quan ở nhiều quốc gia sẽ quan tâm đến loại ứng dụng này. Đây là một vấn đề sức khỏe cộng đồng. Hàng giả giết chết nhiều người hơn cả bệnh sốt rét.
Trong những tuần tới, hoặc ít nhất là trong vài tháng tới, ứng dụng VRAI AI sẽ được trang bị, ít nhất là cho Senegal, để phát hiện các loại thuốc giả có thể gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Và đó thực sự là mục tiêu của chúng tôi. Đúng là chúng tôi có thể tập trung vào việc phát hiện túi xách hoặc đồng hồ giả, thu được nhiều tiền hơn, nhưng mục tiêu của chúng tôi thực sự là cứu sống người bằng ứng dụng đó. Vì vậy, đối tượng số một của chúng tôi là các nước đang phát triển, giúp hải quan các nước đó phát hiện thuốc giả, mặc dù đối với hải quan Pháp, chúng tôi cũng có thể giúp phát hiện rất nhiều sản phẩm khác nữa, bất cứ thứ gì miễn là nó được in hoặc được thêu. Không có vấn đề gì.”
Navee: Chống hàng giả trực tuyến
Một công ty khởi nghiệp khác của Pháp cũng đang cung cấp một giải pháp sáng tạo dựa trên trí tuệ nhân tạo, đó là Navee. Navee vừa được Hiệp hội Nhãn hiệu Quốc tế (INTA) bình chọn là giải pháp sáng tạo nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, ghi nhận tất cả những nỗ lực mà công ty khởi nghiệp của Pháp đã thực hiện trong hơn bốn năm qua. Công nghệ dựa trên AI của Navee để chống hàng giả trực tuyến đã xử lý hơn 50 triệu hình ảnh và giúp khoảng 100 thương hiệu toàn cầu tiết kiệm hơn 500 triệu đô la.
Matteo Amerio, đồng sáng lập Navee (cùng với Matthieu Daviet), cho biết hành trình Navee thực sự chỉ bắt đầu khi anh học tại Stanford, nơi anh cùng cộng sự viên tìm chỗ ở và phát hiện ra rằng các danh sách trực tuyến thực sự tràn ngập hàng giả. Sau đó, cặp bài trùng này quyết định sử dụng công nghệ thị giác máy tính mà họ đang phát triển trong một công ty khởi nghiệp do họ thành lập để phát hiện các sản phẩm gian lận trực tuyến. Họ đã mất hơn bốn năm để phát triển công nghệ này, tự động hóa việc tìm kiếm và phân tích các danh sách gian lận trên toàn bộ mạng Internet.
Trí tuệ nhân tạo (AI) của Navee giải mã các yếu tố hình ảnh, đồ họa và văn bản cụ thể của từng khách hàng trên internet một cách cực kỳ chính xác, giúp nhanh chóng định vị và kiểm soát nội dung trực tuyến, cũng như tự động xóa nội dung, thậm chí xác định các mạng lưới ẩn sau nội dung đó. Để luôn dẫn đầu về công nghệ, công ty khởi nghiệp này cũng đã hợp tác với các đối tác chủ chốt trong ngành như Liên minh các nhà sản xuất bảo vệ sở hữu trí tuệ quốc tế (UNIFAB) và Google. Navee cũng vừa gia nhập ủy ban chống hàng giả của INTA, một hiệp hội toàn cầu quy tụ hơn 31.000 chủ sở hữu thương hiệu và chuyên gia về các dịch vụ liên quan đến thương hiệu và sở hữu trí tuệ.
Amazon cũng nhập cuộc
Các công ty thương mại điện tử lớn cũng đã triển khai những công cụ mới để chống tệ nạn hàng giả, đi đầu là Amazon. Theo một nghiên cứu năm 2023 của Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Liên Hiệp Châu Âu (EUIPO), hàng giả gây thiệt hại 16 tỷ euro mỗi năm cho khối này. Các quan chức hải quan Pháp xác định thương mại trực tuyến, đặc biệt là các nền tảng bán hàng trực tuyến, là một trong những phương tiện chính cho buôn bán hàng giả. Tại Pháp, một nghiên cứu do Liên minh các nhà sản xuất công bố vào tháng 9 năm 2023 cho thấy vào năm 2023, 9% sản phẩm giả được mua trên Internet là thông qua Amazon.
Trước tình hình đó, Amazon đã phát triển các công cụ sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để xác minh tài khoản người bán và phân tích các sản phẩm được bán trên nền tảng của mình. Kể từ ngày 17/02/2024, theo Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số (DSA), các nghĩa vụ mới nhằm chống lại việc phát tán nội dung giả mạo đã được áp dụng đối với các nền tảng bán hàng trực tuyến. Các nền tảng này nay phải cung cấp cho người dùng Internet một công cụ đơn giản để báo cáo nội dung giả mạo và sau khi được báo cáo, họ phải nhanh chóng xóa hoặc chặn quyền truy cập vào nội dung này.
Hơn nữa, Điều 30 của DSA yêu cầu các nền tảng bán hàng trực tuyến phải thu thập thông tin chính xác về người bán (thông tin liên hệ, mã số nhận dạng chuyên môn, thông tin thanh toán, v.v.) trước khi cho phép họ bán hàng. Độ tin cậy của thông tin này phải được xác minh.
Amazon đã tạo ra một dịch vụ có tên là "Brand Registry", qua đó các công ty đã đăng ký cung cấp dữ liệu chính xác liên quan đến thương hiệu, sản phẩm và sở hữu trí tuệ của họ. Từ đó Amazon sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo để triển khai các giải pháp tự động xác định nội dung có khả năng vi phạm. Sau đó, một danh mục chứa các vi phạm tiềm ẩn này sẽ được cung cấp cho thương hiệu đối tác để cho phép họ nhanh chóng báo cáo trong trường hợp thực sự vi phạm.
Amazon cũng đã triển khai một quy trình xác minh danh tính tiên tiến dựa trên công nghệ thị giác máy tính, đảm bảo tính xác thực của các tài liệu nhận dạng và tài liệu do người bán tiềm năng cung cấp. Quy trình xác minh này được kết hợp với trao đổi video riêng với từng người bán tiềm năng và được cho là đã ngăn chặn hơn 800.000 nỗ lực của những cá nhân có ý đồ xấu tạo tài khoản người bán mới.
Wed, 13 Aug 2025 - 32 - 50 năm ESA: Vệ tinh Sentinel-1, trợ thủ đắc lực giúp Việt Nam đối phó với lũ
Từ nhiều năm nay, vệ tinh Sentinel-1 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) đã hỗ trợ Việt Nam trong việc đối phó hiệu quả với lũ lụt và nhiều thảm họa lớn khác. Nhân dịp kỉ niệm 50 năm thành lập Cơ quan Vũ trụ châu Âu, RFI tiếng Việt đặt câu hỏi với chuyên gia về vệ tinh quan sát Trái đất, Philippe Bally, về loại vệ tinh đặc biệt này.
Chuyên gia Philippe Bally làm việc tại trung tâm quan sát Trái đất ESRIN, trực thuộc Cơ quan vũ trụ châu Âu ESA. Ông cũng là đại diện của Cơ quan Vũ trụ Châu Âu tại Hội đồng của Hiến chương Không gian Quốc tế và các Thảm họa Lớn (International Charter Space and Major Disasters/Charte Espace et Catastrophes Majeures). Hiến chương Không gian Quốc tế và các Thảm họa Lớn, thành lập từ năm 1999, là cơ chế điều phối các hợp tác quốc tế nhằm cung cấp miễn phí các bản đồ hình ảnh vệ tinh.
RFI : Xin ông giải thích khái quát về phương thức hoạt động của vệ tinh Sentinel-1 và điều gì khiến vệ tinh này khác biệt so với các vệ tinh khác ?
Chuyên gia Philippe Bally: Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) hợp tác với 16 cơ quan vũ trụ khác trên toàn thế giới để vận hành một hệ thống ứng phó với các thảm họa thiên nhiên phục vụ mục tiêu nhân đạo. Hệ thống này giám sát toàn bộ các khu vực trên hành tinh và kích hoạt việc lập trình hoạt động của các vệ tinh ở chế độ khẩn cấp để cung cấp hình ảnh miễn phí, bất kể với quốc gia nào. Sông Mêkông, cũng như Việt Nam nói chung, đều nằm trong vùng phủ sóng của hệ thống này.
Vệ tinh Sentinel-1 đặc biệt vì hai lý do. Thứ nhất, đây là một vệ tinh radar. Nhiều vệ tinh khác có thể ví như máy ảnh, chụp hình dựa vào bức xạ hay ánh sáng mặt trời, tức là các hệ thống tiếp nhận ánh sáng một cách thụ động. Nhưng Sentinel-1 có cảm biến radar, nghĩa là vệ tinh này tự phát ra sóng ở băng tần C và tiếp nhận phản xạ từ các vật thể trên Trái Đất. Có nghĩa đây là một hệ thống chủ động. Nếu so sánh với máy ảnh, thì nó giống như chụp ảnh ban đêm bằng đèn flash – tức một hệ thống chủ động. Đây là điểm độc đáo của vệ tinh này.
Thứ hai, Sentinel-1 có khả năng bao phủ toàn cầu một cách hệ thống và liên tục chụp ảnh mà không cần người dùng yêu cầu. Vệ tinh hoạt động theo chế độ thu nhận dữ liệu định kỳ. Ví dụ, vệ tinh bay qua Paris 6 ngày một lần. Như vậy từ khi đi vào hoạt động đến cuối vòng đời của mìnhn, cứ mỗi 6 ngày vệ tinh lại cung cấp một ảnh chụp Paris mới và ảnh được cung cấp miễn phí. Hoạt động này tạo ra một hệ thống thu thập dữ liệu khổng lồ và liên tục. Đây là một lợi thế lớn, vì phần lớn người dùng dữ liệu vệ tinh đều cần được tiếp cận liên tục và ổn định với dữ liệu, chứ không phải chỉ là vài hình ảnh rời rạc.
Vì sử dụng radar chủ động nên « nhìn » được cả vào lúc ban đêm, và vì hoạt động liên tục nên vệ tinh thường xuyên cung cấp hình ảnh về mọi khu vực. Sentinel-1 là vệ tinh radar duy nhất cung cấp dữ liệu toàn cầu thường xuyên và miễn phí.
RFI : Vệ tinh Sentinel-1 cung cấp loại dữ liệu nào trong bối cảnh thiên tai như lũ lụt ? Sentinel-1 đã đóng vai trò gì trong việc theo dõi lũ lụt sông Mêkông tại Việt Nam ? Những thông tin cụ thể nào đã được rút ra từ ảnh vệ tinh ?
Chuyên gia Philippe Bally: Radar vệ tinh rất nhạy cảm với sự hiện diện của nước, như sông, hồ, vùng bị ngập hoặc cả ruộng lúa nước. Khi chụp ảnh định kỳ và so sánh các ảnh để phát hiện thay đổi, ta có thể thấy tín hiệu radar giảm mạnh khi một bề mặt bị ngập nước, vì radar phản xạ giống như ánh sáng với gương. Trong trường hợp đất ngập nước, tín hiệu không quay lại vệ tinh, hệ quả là ảnh trở nên rất tối. Chính nhờ đó, ta có thể lập được bản đồ phạm vi ngập nước, gọi theo thuật ngữ chuyên môn là « dấu vết quan sát lũ lụt » (traces observées d’inondation), được cập nhật từ 3 đến 6 ngày một lần. Các bản đồ này giúp theo dõi phạm vi và sự biến đổi của các vùng bị ngập, dĩ nhiên phải được bổ sung thêm với các nguồn dữ liệu khác. Người dùng có thể kết hợp các bản đồ kiểu này với các dữ liệu khác, được thu thập với tần suất cao hơn, nhưng xét về độ phân giải thì lại không bằng.
Về mặt không gian, Sentinel-1 cung cấp thông tin chi tiết với độ phân giải chính xác đến khoảng 20m x 20m mỗi pixel, có nghĩa là rất chính xác để theo dõi lũ lụt ở vùng đồng bằng. Còn về mặt thời gian, hệ thống phụ thuộc vào chu kỳ quay lại của vệ tinh – khi Sentinel-1A và Sentinel-1C hoạt động cùng nhau, có thể đạt chu kỳ 3 ngày một lần, cả trong giai đoạn vệ tinh bay lên cũng như hạ xuống.
Các mô hình thủy văn của trung tâm khí tượng có thể mô phỏng với nhịp độ dày đặc xét về thời gian, nhưng về độ chính xác thì không bằng, vì dựa vào mô hình. Trong khi đó, Sentinel-1 cung cấp các quan sát trực tiếp thực tế. Do đó, điều mang lại lợi thế ở đây nằm ở chỗ kết hợp dữ liệu vệ tinh với mô hình thủy văn, với lợi thế liên tục về thời gian của mô hình và lợi thế về độ chính xác cao của ảnh vệ tinh.
RFI : Trong việc giám sát bằng vệ tinh các khu vực có rủi ro cao như lũ lụt sông Mêkông ở Việt Nam, đâu là những cách tân được kỳ vọng trong tương lai ?
Chuyên gia Philippe Bally: Những đổi mới được kỳ vọng trong công nghệ không gian đối với rủi ro thiên tai là phương pháp tích hợp thường được gọi là « virtual constellation », tạm dịch là « kết nối các vệ tinh » (hay « chòm sao ảo »). Đây là các hệ thống hoạt động với số lượng lớn cảm biến rất khác nhau (bao gồm cảm biến quang học lẫn cảm biến radar), nhưng được kết nối một cách thống nhất ngay cả khi chúng thuộc về các tổ chức riêng biệt.
Cơ chế « Hiến chương quốc tế / International Charter », tên đầy đủ là International Charter Space and Major Disasters/Hiến chương quốc tế về Không gian và những thảm họa lớn) cho phép kết hợp các cảm biến đến từ Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Achentina, châu Âu... và chúng tôi đã thống nhất về cách thông báo và cung cấp dữ liệu, cũng như kết hợp các dữ liệu này với « các nền tảng đám mây » (plateformes cloud) – tức các nền tảng trực tuyến cho phép xem và phân tích ảnh một cách nhanh chóng, bất kể nguồn gốc ảnh hay loại cảm biến nào.
Chúng ta đang thực sự tiến tới những hệ thống đa cảm biến không đồng nhất, nhưng có thể vận hành rất nhanh và rất nhịp nhàng. Các hệ thống ứng phó thiên tai toàn cầu như Copernicus EMS (Emergency Mapping System) ở châu Âu hoặc cơ chế Hiến chương quốc tế về các thảm họa lớn đều sử dụng nguyên tắc gọi là « kết nối các vệ tinh » (chòm sao ảo) vì mục tiêu chung như vậy.
Điều này có nghĩa là chúng tôi vận hành các vệ tinh thuộc nhiều cơ quan khác nhau theo một cách thống nhất, với một cách thu thập dữ liệu duy nhất, xây dựng hình ảnh và chuyển đổi dữ liệu thành thông tin theo cách thức thống nhất.
RFI : Dữ liệu vệ tinh đã được các cơ quan chức năng tại Việt Nam sử dụng như thế nào ?
Chuyên gia Philippe Bally : Liên quan đến Việt Nam, kể từ năm 2015, đã có tổng cộng 10 lần kích hoạt dịch vụ bản đồ vệ tinh bởi UNOSAT – Trung tâm bản đồ vệ tinh của Liên Hiệp Quốc, được đặt tại trụ sở của UNITAR (United Nations Institute for Training and Research), một cơ quan khác của Liên Hiệp Quốc, ở Genève, Thụy Sĩ, và một trung tâm khác tại Thái Lan. Trong số đó, 6 lần được kích hoạt trên cơ sở cơ chế Hiến chương quốc tế về không gian và các thảm họa lớn, mà Cơ quan Vũ trụ Châu Âu ESA cùng 16 cơ quan không gian khác tham gia. Mỗi lần như vậy, chúng tôi đều cung cấp bản đồ lũ dựa trên hình ảnh từ nhiều vệ tinh, đặc biệt là vệ tinh Sentinel-1.
Các lần kích hoạt thường do Liên Hiệp Quốc yêu cầu, nhưng thường với sự phối hợp cùng các cơ quan sử dụng dữ liệu tại chỗ, ở cấp quốc gia hay địa phương, như bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (MONRE), nơi có cục Viễn thám Quốc gia – đơn vị trực tiếp tiếp nhận và phân tích dữ liệu ảnh vệ tinh.
Một ví dụ tiêu biểu cho việc kích hoạt cơ chế này cụ thể là đợt bão Yagi vào tháng 9/2024, gây lũ nghiêm trọng ở Việt Nam phía bắc Hà Nội. Cơ chế Hiến chương quốc tế này (International Charter Space and Major Disasters) đã nhận được yêu cầu kích hoạt từ bộ Tài nguyên Môi trường Việt Nam vào ngày 10/09/2024. Ngay sau đó, hệ thống Cơ chế Hiến chương quốc tế được kích hoạt, và các bản đồ hình ảnh vệ tinh khẩn cấp các vùng bị ngập được thực hiện với sự cộng tác giữa trung tâm bản đồ vệ tinh khẩn cấp Copernicus Emergency Mapping của Liên Âu, cùng UNITAR ở Genève và bộ Tài nguyên và Môi trường của Việt Nam. « Các bản đồ thiệt hại » được thiết lập để xác định phạm vi vùng lũ, và « các bản đồ tình huống » được thiết kế nhằm hỗ trợ việc triển khai cứu hộ, cứu nạn, cũng như các hoạt động ứng phó thảm họa khác. Những bản đồ này được cung cấp miễn phí và nhanh chóng cho phía Việt Nam để sử dụng trong giai đoạn khẩn cấp.
Các bản đồ được thiết lập trong vòng vài ngày, hoặc vài tuần, để đáp ứng mục tiêu đối phó khẩn cấp với thảm họa. Sau khoảng 4–5 tuần, chúng tôi liên hệ lại với phía người sử dụng để thu thập phản hồi về tính hữu ích của các bản đồ và dữ liệu đã cung cấp. Phía Việt Nam đã phản hồi tích cực về bản đồ lũ, đặc biệt về những khu vực bằng phẳng rộng lớn – nơi radar vệ tinh rất hiệu quả trong việc xác định ranh giới vùng ngập. Tuy nhiên, lưu vực sông Mêkông khá phức tạp về mặt thủy văn, việc phân tách giữa sông ngòi, vùng ngập và ruộng lúa không hề đơn giản. Dù vậy, các bản đồ vẫn đã được sử dụng hiệu quả tại đây.
RFI : Xin ông cho biết thêm về một số ứng dụng tiềm năng khác của Sentinel-1.
Chuyên gia Philippe Bally : Ngoài ứng phó thiên tai, Sentinel-1 còn có thể dùng để phòng ngừa rủi ro – không chỉ đối với rủi ro thủy văn mà còn với các loại rủi ro khác, như sạt lở đất hay sụt lún mặt đất. Chúng tôi từng hợp tác với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam để nghiên cứu độ ổn định của các công trình hạ tầng như đường xá, cầu cống, hệ thống bảo vệ chống lũ. Vẫn sử dụng vệ tinh Sentinel-1, nhưng với một kỹ thuật khác với kỹ thuật phát hiện vùng ngập nước.
Đó là kỹ thuật giao thoa radar (radar interferometry), tức kết hợp nhiều ảnh trong thời gian khác nhau để phân tích một cách tinh tế « pha của tín hiệu » (phase du signal). Nhờ đó có thể đo đạc từ xa các biến động theo chiều dọc của mặt đất với độ chính xác đến khoảng 28 mm. Đây là một phương pháp cực kỳ tinh vi và chính xác để theo dõi độ ổn định của nền đất.
« Pha của tín hiệu » rất nhạy và tinh tế: Khi so sánh hai ảnh, chênh lệch về pha phản ánh những biến dạng cực nhỏ – chính xác đến nửa bước sóng (tương đương khoảng 28 mm), dù vệ tinh ở cách xa tới 800 km. Hiện tượng này có phần giống như hiệu ứng Doppler : Có nghĩa là sự thay đổi về tần số và về pha phản ánh biến động bề mặt của đất. Với hệ thống radar, ngoài biên độ thì « pha » là yếu tố quan trọng. Khi hai ảnh được chồng lên nhau, độ lệch về pha cho phép đo được những biến dạng cực kỳ nhỏ, với độ chính xác lên tới 28 mm.
RFI : Ông có thể cho biết đâu là những hạn chế hoặc thách thức cụ thể đối với việc giải thích các dữ liệu vệ tinh tại Việt Nam ?
Chuyên gia Philippe Bally: Về các vấn đề cụ thể trong việc sử dụng viễn thám cho lưu vực sông Mêkông, cơ quan hợp tác chính với Cơ quan Vũ trụ Châu Âu là bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, cụ thể là cục Viễn thám Quốc gia – nơi đang ứng dụng đầy đủ công nghệ không gian trong nhiều lĩnh vực.
Chúng tôi có mối quan hệ hợp tác rất tốt với bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi chưa có nhiều kết nối cụ thể với người sử dụng ở cấp địa phương hơn. Giới hạn lớn nhất cho việc mở rộng ứng dụng vệ tinh đến các đối tượng người dùng địa phương chính là việc thiếu thông tin và đào tạo về những kỹ thuật mới, như kỹ thuật viễn thám. Nhiều người dùng chưa biết rõ lợi ích của việc sử dụng hình ảnh vệ tinh, hoặc nghĩ rằng họ không có đủ nguồn lực để phát triển kiến thức trong lĩnh vực này. Ngay cả khi ảnh vệ tinh được cung cấp miễn phí, thì vẫn cần đầu tư vào việc học hỏi và đào tạo.
RFI xin cảm ơn chuyên gia Philippe Bally.
Tue, 22 Jul 2025 - 31 - Y tế: Thế giới có thể đối phó với đại dịch mới?
Sau hơn ba năm đàm phán, ngày 16/04/2025, các quốc gia thành viên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhất trí thông qua một văn bản lịch sử để chuẩn bị tốt hơn chống lại các đại dịch trong tương lai. Năm năm sau khi Covid-19 xuất hiện, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người và tàn phá nền kinh tế toàn cầu, thế giới nay vẫn chưa được trang bị để đối mặt với một đại dịch khác, theo WHO và các chuyên gia.
Cách đây hơn 5 năm, ngày 11/01/2020, Trung Quốc công bố ca tử vong đầu tiên do một loại virus chưa xác định, mà sau này mới biết đó là virus corona gây bệnh Covid-19. Đại dịch Covid-19 đã nhanh chóng lan rộng và gây xáo trộn cả thế giới trong một thời gian dài. Gần 800 triệu người bị nhiễm, ít nhất 10 triệu người tử vong theo các số liệu chính thức. Trên thực tế, số nạn nhân có thể còn nhiều hơn nữa, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO ).
Hơn năm năm sau, virus vẫn còn đó, nhưng lây lan “âm thầm” hơn, cơn bão đã được kiểm soát nhờ những nỗ lực ngăn chặn đại dịch. Nhưng chúng ta có đã rút ra được những bài học từ cuộc khủng hoảng hay chưa, và nếu có thì liệu những bài học đó có đủ để giúp nhân loại đối đầu với một đại dịch mới, mà theo tất cả các chuyên gia là gần như không thể tránh khỏi?
Covid-19 không còn nguy hiểm?
Hiện giờ đại dịch Covid-19 đã qua rồi và virus gây bệnh này không còn nguy hiểm như trước đây, thậm chí một số người nghĩ rằng Covid nay cũng giống như một loại cúm theo mùa. Nhưng trả lời phỏng vấn đài RFI ban Pháp ngữ ngày 13/01/2025, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre, bác sĩ chuyên khoa truyền nhiễm tại bệnh viện Henri - Mondor, ngoại ô Paris và cũng là một chuyên viên bên cạnh Tổ chức Y tế Thế giới, lưu ý:
“Hiện nay chúng ta được chuẩn bị tốt hơn so với cách đây 5 năm, khi mà dịch Covid đã bùng phát mà không ai ngờ đến. Khả năng miễn nhiễm của chúng ta đã được tăng cường do đã bị lây nhiễm Covid và do được chích ngừa, nhờ vậy mà chúng ta đã có thể kềm chế được con virus. Cho nên, dịch bệnh này không còn gây tác hại như cách đây 5 năm.
Nói đó là một bệnh nhẹ thì đúng mà cũng không đúng. Đúng là Covid nay là một bệnh nhẹ hơn so với ban đầu vì nhiều lý do mà chúng ta có thể nêu lên ở đây, nhưng đó vẫn là một căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao. Vẫn còn những người phải nhập viện vì bị nhiễm Covid. Vẫn còn những người chết vì Covid, cho dù có thể không có liên hệ trực tiếp với Covid bằng trước đây. Covid ngày nay vẫn còn có thể làm trầm trọng hơn các bệnh nền, khiến ta phải nhập viện và có thể tử vong”.
Như vậy, liệu thế giới có được chuẩn bị tốt hơn so với năm 2020? “Câu trả lời là có và không”, theo phát biểu gần đây của Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới, tổ chức đóng vai trò trung tâm trong cuộc chiến chống Covid-19. Ông nhấn mạnh: “Nếu đại dịch tiếp theo xảy ra ngày nay, thế giới vẫn sẽ phải đối mặt với một số điểm yếu và nguy cơ tương tự. Nhưng thế giới cũng đã học được nhiều bài học đau đớn từ đại dịch và thực hiện các bước quan trọng để tăng cường khả năng phòng chống".
Maria Van Kerkhove, nhà dịch tễ học người Mỹ, đứng đầu bộ phận Phòng ngừa và Chuẩn bị cho Dịch bệnh và Đại dịch của WHO, cũng ghi nhận: “Nhiều thứ đã được cải thiện nhờ đại dịch cúm A năm 2009 ( dịch do virus H1N1 gây ra ), nhưng cũng nhờ Covid. Tuy nhiên, tôi nghĩ thế giới chưa sẵn sàng cho một đại dịch hoặc dịch bệnh hàng loạt khác".
H5N1: Một đại dịch mới?
Hơn nữa, không chỉ có virus gây bệnh Covid-19, mà một số virus khác cũng có thể đẩy nhân loại vào một đại dịch mới. Vào cuối tháng 12 năm ngoái, nhà chức trách Hoa Kỳ vừa xác nhận ca nhiễm cúm gia cầm nghiêm trọng ở nước này và bang California đã ban hành tình trạng khẩn cấp y tế. Cụ thể, vào tháng 12, một đứa trẻ ở Quận Marin, bang Califorrnia, đã bị sốt và nôn mửa sau khi uống sữa thô, chưa tiệt trùng. Thật ra đó là vì trước đó bệnh nhân đã tiếp xúc với những con chim bị bệnh và chết. Xét nghiệm cho thấy đứa bé có kết quả dương tính với chủng virus cúm gia cầm H5N1, chủng virus mà các chuyên gia về bệnh truyền nhiễm lo ngại có thể trở thành nguồn gốc của đại dịch tiếp theo. Tại Hoa Kỳ, ít nhất 61 người đã nhiễm virus này, hầu hết là thông qua tiếp xúc trực tiếp với gia cầm hoặc bò.
Trước đó, vào tháng 11, một thiếu niên ở tỉnh British Columbia của Canada, sau khi đi khám vì bị viêm kết mạc và ho, đã được đưa vào bệnh viện ở Vancouver, phải thở bằng máy và phải nằm trong phòng điều trị tích cực trong nhiều tuần. Xét nghiệm cho thấy thiếu niên này có kết quả dương tính với chủng virus cúm gia cầm H5N1.
Mỗi khi con người bị bệnh, virus lại có thêm cơ hội để lây lan từ người sang người. Một khi rào cản quan trọng này bị vượt qua, nó có thể gây ra một đại dịch. Không có bằng chứng nào cho thấy virus H5N1 hiện đã vượt qua ngưỡng quan trọng này. Có thể virus này sẽ không bao giờ vượt qua được cột mốc đó. Tuy nhiên, theo ông Matthew Binnicker, nhà vi sinh học đường hô hấp tại bang Minnesota, Hoa Kỳ,"dựa trên những gì chúng ta biết về các loại virus này, xu hướng là không khả quan". Ông nói thêm là cần phải thực hiện "các biện pháp nghiêm ngặt". Nói chung,các chuyên gia khẳng định rằng chuẩn bị cho một tình huống tệ hại hơn không phải là quá sớm và cũng không phải là phi lý. Trong bài trả lời phỏng vấn RFI, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre cũng cảnh báo:
“Một cách tự nhiên, virus đã nhanh chóng thích ứng. Chúng ta đã tìm ra phương cách để cố gắng kiểm soát nó. Nhưng không chỉ có virus gây bệnh Covid, mà trên thế giới ngày nay, một số virus khác cũng có thể đẩy nhân loại vào một đại dịch toàn cầu mới. Như tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới đã nói: Chúng ta có đã làm một cách tối ưu chưa? Có thể là chưa. Bởi vì người ta vẫn quên rằng, dĩ nhiên Covid 19 trước hết là một vấn đề y tế, nhưng đó cũng là tấm gương phản chiếu thực trạng của thế giới hiện nay: dân số vẫn tăng mạnh, trao đổi ngày càng nhiều giữa các quốc gia, những vấn đề liên quan đến việc kềm chế sự lây lan của dịch bệnh. Đại dịch bùng phát chính là do có sự tương tác giữa con người, càng có nhiều sự tương tác đó thì dịch bệnh càng dễ bùng phát. Như tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới đã nói: Chắc chắn chúng ta sẽ gặp một đại dịch toàn cầu mới.”
Vac-xin: Bất bình đẳng Bắc - Nam
Vào tháng 12/2021, các nước thành viên WHO đã quyết định xây dựng một thỏa thuận về phòng ngừa và ứng phó đại dịch để tránh những sai lầm nghiêm trọng của Covid. Nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi lớn, bao gồm việc chia sẻ dữ liệu về các tác nhân gây bệnh mới nổi và những lợi ích từ chúng, cụ thể là vac-xin, xét nghiệm và phương pháp điều trị cũng như giám sát đại dịch.
Các nhà đàm phán đã đặt ra thời hạn tháng 5/2025 để đạt được sự đồng thuận. Ngoài ra, hơn 200 nhà khoa học từ hơn 50 quốc gia đã đánh giá dữ liệu về 1.652 tác nhân gây bệnh, chủ yếu là virus, để từ đó WHO lập danh sách khoảng 30 tác nhân gây bệnh có khả năng gây ra đại dịch trong tương lai, chẳng hạn như Covid-19, sốt Lassa và các loại virus Ebola, Zika và Marburg.
Thế nhưng, nhóm chuyên gia độc lập về phòng ngừa và ứng phó với đại dịch của WHO tuyên bố thẳng: "Vào năm 2025, thế giới chưa sẵn sàng để chống lại mối đe dọa đại dịch mới". Lý do là vẫn tồn tại sự bất bình đẳng trên thế giới trong việc tiếp cận các nguồn tài trợ và các công cụ để chống lại đại dịch, chẳng hạn như vac-xin.
Trong bài trả lời phỏng vấn RFI, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre chia sẽ ý kiến đó:
“Chúng ta có thể thấy vấn đề đó đối với các loại vac-xin thông thường nhất. Vac-xin ngừa cúm A có thể được tiếp cận dễ dàng ở các nước phía Bắc, nhưng lại rất khó được tiếp cận ở các nước phía Nam. Những người làm việc trong lĩnh vực cung cấp vac-xin đều biết là có rất nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu về vac-xin cho châu Phi.
Có thể lấy ví dụ về một đại dịch mới bùng phát gần đây, rất may là không gây nhiều ca tử vong, đó là dịch đậu mùa khỉ Mpox. Vac-xin ngừa bệnh này được phân phát rộng rãi ở các nước phía Bắc, nhưng chúng ta lại chưa bao giờ chích ngừa cho người dân châu Phi. Đây chính là nơi đã từng bùng phát dịch bệnh trước đó, thế mà vac-xin lại chỉ được sản xuất ở các nước phía Bắc.”
Khả năng của thế giới ứng phó với đại dịch mới lại càng bị ảnh hưởng bởi quyết định của tổng thống Donald Trump rút Hoa Kỳ ra khỏi WHO, trong khi Mỹ là nhà tài trợ lớn nhất và đối tác lớn nhất của tổ chức Liên Hợp Quốc có trụ sở tại Geneva này. Việc Hoa Kỳ rời khỏi WHO có thể gây tổn hại đến các nỗ lực y tế công cộng toàn cầu, bao gồm cả việc giám sát và ứng phó với các đợt bùng phát dịch bệnh. WHO vẫn đóng vai trò điều phối đặc biệt quan trọng trong các trường hợp khẩn cấp về sức khỏe toàn cầu.
Wed, 16 Apr 2025 - 30 - Drone được trang bị ngày càng nhiều cho hải quân các nước
Trong bối cảnh địa chính trị quốc tế căng thẳng, nhất là với cuộc chiến Ukraina, các drone nay chiếm một vị trí mang tính chiến lược đối với hải quân trên toàn thế giới. Điều này đã được thể hiện qua triển lãm quốc phòng quốc tế Euronaval vào đầu tháng 11 tại Villepinte, ngoại ô Paris, Pháp. Tại cuộc triển lãm 2 năm một lần này, đi đến đâu cũng thấy trưng bày các kiểu drone mới được sử dụng để tác chiến, giám sát biển và đáy đại dương.
Các nước phương Tây đang phải đối phó với các cuộc tấn công bằng drone của lực lượng Houthi ở Yemen được Iran trang bị vũ khí nhắm vào giao thông hàng hải ở Hồng Hải. Trong khi đó, Ukraina đã thành công tiêu diệt 1/3 Hạm đội Hắc Hải của Nga và buộc được hạm đội này rời khỏi Crimea. Vào đầu tháng 11, Kiev khẳng định họ đã thực hiện thành công cuộc tấn công đầu tiên bằng drone mang chất nổ vào các tàu của Nga ở Biển Caspi, cách biên giới Ukraina đến 1.500 km.
Trả lời hãng tin AFP ngày 07/11/2024 bên lề Euronaval, ông Emmanuel Chiva, tổng đại diện về vũ khí của bộ Quân lực Pháp, cho rằng từ những cuộc xung đột đó, có thể dự báo là drone sẽ được hải quân các nước “sử dụng ồ ạt”.
Đô đốc Eric Chaperon, cố vấn quốc phòng của tập đoàn vũ khí Pháp Thales, nói với AFP:“Các drone phải được xem xét ở cả hai góc độ: khả năng tác chiến của drone và khả năng chống drone của kẻ địch”. Tập đoàn công nghệ cao của Pháp, hiện trang bị cho hải quân 50 nước trên thế giới, cung cấp cả hai khả năng đó. Một trong những cải tiến là vũ khí điện từ "có khả năng đốt cháy các thiết bị điện tử của drone".Đô đốc Eric Chaperon giải thích: "Các drone nằm trong tầm hoạt động của vũ khí sẽ rơi chỉ trong một giây."
Tập đoàn Pháp cũng đẩy mạnh phát triển một công nghệ trí tuệ nhân tạo "tiết kiệm", có thể được trang bị trên các drone cũng như các giải pháp kết nối và tương tác, đã được thử nghiệm trong cuộc tập trận ở Bồ Đào Nha vào tháng 9 với một số nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu. Là một trong những người tham gia cuộc tập trận này, ông Nicolas Kuhl của tập đoàn Thales nói với AFP: “Khoảng 60 drone đã được triển khai trên không, trên mặt nước và dưới biển để thực hiện đồng thời các nhiệm vụ tác chiến dưới nước, rà phá bom mìn và giám sát”.
Về phần mình, tập đoàn Naval Group đang phát triển loại drone dưới nước với“khả năng hoạt động lâu dài lên đến vài tuần” và “có khả năng tự ra quyết định rất cao”, theo giải thích của ông Pierre-Antoine Fliche, đứng đầu nhóm đặc trách drone của Naval Group, với AFP: “Thay vì lập trình trước một số nhiệm vụ, chúng tôi sẽ đưa ra mệnh lệnh, chẳng hạn như đến đó, chụp ảnh và quay lại nếu ảnh chụp rõ, luôn kín đáo, quyết liệt”. Pierre-Eric Pommellet, chủ nhân Naval Group, nhấn mạnh với AFP: “Các drone sẽ không bao giờ thay thế các tàu chiến có thủy thủ đoàn, nhưng sẽ giúp cho những tàu này có một năng lực rộng hơn”.
Tập đoàn chế tạo máy bay châu Âu Airbus thì chú trọng đến tính bổ sung cho các sản phẩm của họ. Bruno Even, giám đốc điều hành của Airbus Helicopters, nói với AFP: “Yếu tố mới mà chúng tôi thấy cả trên biển và trên đất liền là tính chất bổ sung giữa drone và trực thăng”.
VSR 700 của Airbus là một máy bay trực thăng “không người lái”nhỏ, có thể hoạt động từ một con tàu và có thể bay tới 8 giờ so với 2 giờ đối với trực thăng thông thường. Nó có khả năng thực hiện các nhiệm vụ mà không cần phi công, chẳng hạn như tìm kiếm tàu địch, gửi tọa độ tới tàu khu trục nhỏ có khả năng bắn tên lửa.
Airbus cũng đang phát triển một loại drone quan sát mang tên Eurodrone, nhằm bù đắp sự chậm trễ của châu Âu về loại drone đã được Hoa Kỳ và Israel phát triển và sẽ được đưa vào sử dụng vào cuối thập niên này, theo lời ông Jean-Brice Dumont, người đứng đầu bộ phận quốc phòng của Airbus.
Đối với những drone ít phức tạp hơn và có thể nhanh chóng được sử dụng như Flexrotor hay Aliaca, tập đoàn Airbus giao việc phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc các công ty khởi nghiệp mà hãng đã mua lại.
Chẳng hạn như công ty ArkeOcéan, một doanh nghiệp gia đình với khoảng ba mươi nhân viên chuyên sản xuất các drone siêu nhỏ "chỉ dài 80cm, rộng 35cm, trôi theo dòng nước, rất khó phát hiện”.
Ngoài ArkeOcéan, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Pháp chuyên về drone đã có mặt rất đông đảo tại triển lãm Euronaval, như Exail, Diodon và Delair. Riêng công ty Delair từ hai năm qua bán ra thị trường một sản phẩm mang tên Seasam, một loại drone dưới nước cở nhỏ, được dùng để theo dõi tình trạng thân tàu, tàu chở hàng cũng như tàu khu trục. Drone này có 7 động cơ nên rất cơ động, chống chọi tốt với dòng nước.
Trả lời RFI Pháp ngữ tại Euronaval, ông Bastien Mancini, giám đốc điều hành của Delair, cho biết công ty này đã cung cấp cho thi trường châu Phi từ lâu và nay đã mở rộng sang các thị trường khác:
“Chúng tôi đã có mặt ở khu vực này từ những năm 2010, tại khoảng 15-20 quốc gia châu Phi, rồi mở rộng sang Đông Âu và Đông Nam Á, những thị trường chính của chúng tôi hiện nay. Chúng tôi xuất khẩu rất nhiều trước khi bán cho thị trường Pháp. Công ty hiện sử dụng đến 110 nhân viên và đến cuối năm sẽ có tổng cộng 140 người, với doanh số năm ngoái là 10 triệu euro và dự báo năm nay sẽ đạt khoảng 30 triệu.
Tốc độ tăng trưởng này là nhờ các hợp đồng mà chúng tôi giành được gần đây, nhất là trong lĩnh vực quốc phòng. Ukraina chiếm một phần đáng kể, nhưng không phải là chiếm đa số. Chúng tôi tạo được những hệ thống thích ứng với những điều kiện tác chiến rất ác liệt, với thiết bị gây nhiễu để làm rơi các drone, cho nên khách hàng chúng tôi có thể yên tâm.”
Chiến trường Ukraina dĩ nhiên là nơi mà công ty Delair có dịp thử nghiệm và cải tiến các drone do họ sản xuất để thích ứng tốt hơn với điều kiện chiến tranh ác liệt, theo lời ông Mancini:
“Chúng tôi đã làm việc ở Ukraina từ năm 2016, vì thật ra chiến tranh coi như đã bắt đầu từ năm 2014 với thỏa thuận Minsk. Từ năm 2016, các drone của chúng tôi đã được sử dụng để giám sát các đường biên giới. Khi quân Nga vượt qua biên giới, phía Ukraina đã gặp chúng tôi và yêu cầu cho họ xem hệ thống drone của chúng tôi vận hành như thế nào trong điều kiện chiến tranh. Sau khi thấy hiệu quả của các hệ thống này, họ đã nhờ chính phủ Pháp giúp đỡ, mua các drone đó để tặng cho họ. Pháp đã làm theo yêu cầu đó.
Chúng tôi thường xuyên, hầu như là mỗi tuần, có những phản hồi từ những người vận hành các drone và chúng tôi trao đổi với họ. Cứ khoảng 3 hoặc 4 tháng, chúng tôi cải tiến để các drone thích ứng tốt hơn với điều kiện chiến tranh. Những yếu tố đó giúp rất nhiều cho ngành công nghiệp vũ khí của Pháp nói chung.”
Để có thể phát triển các loại drone có sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo, công ty Delair đang phải tuyển thêm kỹ sư:
“Chúng tôi có những kỹ sư làm việc về các vấn đề đó. Công ty có một phòng nghiên cứu quy tụ khoảng 45 người, trong đó phân nữa chuyên tạo ra các phần mềm, một số nghiên cứu về các thuật toán và về trí tuệ nhân tạo để có thể giải quyết vấn đề điều khiển drone mà không cần hệ thống định vị GPS, xác định và phân loại những vật thể mà drone nhìn thấy để trợ giúp cho người điều khiển.
Không thể có một hệ thống hoàn toàn tự vận hành. Trí tuệ nhân tạo chỉ trợ giúp, chỉ làm đơn giản hóa nhiệm vụ của người điều khiển. Đó không phải là những robot, mà đằng sau bao giờ cũng có con người. Một quân nhân Ukraina đã nói một điều rất đáng chú ý : 'Cái mà có giá trị đối với chúng tôi không phải là các drone, vì drone có thể bị mất, mà là những người được đào tạo để điều khiển drone'. Đó mới là điều mà họ cố gắng bảo vệ.”
Vấn đề, theo lời ông Mancini, việc phát triển các loại drone tiên tiến, có khả năng cạnh tranh cao, đòi hỏi rất nhiều vốn đầu tư, mà cả về mặt này, Pháp và châu Âu nói chung càng bị tụt hậu so với Hoa Kỳ chẳng hạn:
“Phát triển các drone đòi hỏi rất nhiều vốn. Các công ty hàng đầu thế giới về drone có doanh số từ 300 triệu euro đến 4 tỷ, trong khi các công ty hàng đầu của châu Âu hiện chỉ đạt 50 triệu euro doanh số, công ty chúng tôi thì dự kiến sẽ chỉ đạt 30 triệu. Phát triển các loại drone có khả năng cạnh tranh trên thế giới tốn kém hàng triệu, thậm chí hàng chục, hàng trăm triệu euro. Cho nên phải có những công ty có tầm cỡ như vậy để tạo ra những sản phẩm cho tương lai.
Tôi nghĩ rằng phải làm chủ công nghệ drone một cách tự chủ, vì đó là những robot bay trên không và tiến hành những hoạt động từ trên không. Các nhà công nghiệp Pháp và châu Âu nói chung phải làm chủ được công nghệ của các hệ thống được bán ở châu Âu. Công ty chúng tôi đang cố đóng góp vào việc xây dựng một nhà vô địch trong lĩnh vực này ở cấp độ châu Âu để có thể cạnh tranh trên thế giới.”
Wed, 04 Dec 2024 - 29 - Khi trí tuệ nhân tạo và trí tuệ nhân loại được đặt lên bàn cân
Theo số liệu đầu năm 2024, thị trường trí tuệ nhân tạo (AI) toàn cầu đã đạt hơn 196 tỷ đô la. Một số chuyên gia trong lĩnh vực này dự đoán rằng giá trị của AI dự kiến sẽ tăng gấp 13 lần trong 7 năm tới, vượt ngưỡng 1,81 nghìn tỷ đô la vào năm 2030. Có thể nói, chưa bao giờ, thế giới chứng kiến sự phát triển đáng kinh ngạc như vậy của ngành công nghệ trí tuệ nhân tạo.
Đứng trước sự phát triển của AI, nhiều người vẫn tỏ ra hồ nghi về khả năng của nó trong khi số khác lại lo sợ rằng một ngày nào đó, AI sẽ thông minh hơn con người và thống trị thế giới. Sự thực là hiện nay, có nhiều lĩnh vực mà AI thể hiện ưu thế vượt trội so với con người. Vậy nếu ta đặt trí tuệ nhân tạo và trí tuệ nhân loại lên bàn cân thì cán cân sẽ nghiêng về bên nào? Hậu quả ra sao? Hay liệu có cách nào khác kết hợp con người với máy móc để tạo ra một phiên bản tối tân?
Trí tuệ nhân tạo là gì?
Trước khi để trí tuệ nhân tạo so găng với con người, có lẽ ta cần tìm hiểu xem rốt cuộc trí tuệ nhân tạo là gì. AI hay Artificial Intelligence là thuật ngữ trong khoa học máy tính để chỉ trí thông minh của máy móc do con người tạo ra. Cũng giống như loài người, để trở nên hiểu biết và thông thái, con người cần học hỏi, hay nói đơn giản là nạp và phân tích kiến thức. AI cũng vậy. nhờ vào sự phát triển của Big Data (hay Dữ liệu lớn), các nhà khoa học đã có thể nhập một lượng dữ liệu khổng lồ và phức tạp vào máy tính. AI sau đó sẽ phân tích những dữ liệu được nạp để học hỏi và ứng dụng để thực hiện các tác vụ được giao.
Chẳng hạn muốn AI nhận biết được quả cam, người ta sẽ cung cấp hàng ngàn hình ảnh của loại quả này từ những góc chụp khác nhau, trong những giai đoạn khác nhau. Sau đó AI sẽ phân tích các hình ảnh này và phân biệt quả cam với các loại quả khác. Nếu giờ ta đưa cho AI một bức tranh vẽ hàng trăm loại quả khác nhau, nó vẫn có thể nhanh chóng xác định được quả cam. Quá trình này được gọi là Deep learning (hay Học sâu) và chỉ là một nhánh nhỏ trong ngành khoa học trí tuệ nhân tạo. Trên thực tế khả năng nhận diện của AI phức tạp và tân tiến hơn nhiều và được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực từ chẩn đoán hình ảnh y khoa để phát hiện bệnh lý đến hệ thống lái tự động có khả năng nhận diện vật thể xung quanh như biển báo, đèn tín hiệu, hay các phương tiện và vật cản khác trên đường để từ đó đưa ra các phản ứng phù hợp như dừng xe hay giảm tốc.
Đâu là những lĩnh vực mà AI thể hiện ưu thế hơn con người?
Y học
Dù chưa thể thay thế được các bác sĩ nhưng AI đã chứng tỏ là một trợ lý xuất sắc trong việc chẩn đoán các hình ảnh y khoa như X-quang, MRI hay CT để phát hiện những bất thường. Vào tháng 04/2018, FDA, cơ quan quản lý dược phẩm Hoa Kỳ lần đầu tiên cho phép lưu hành thiết bị sử dụng trí tuệ nhân tạo để tự đưa ra chẩn đoán về bệnh tiểu đường qua nghiên cứu hình ảnh võng mạc. Theo ông Olivier Bousquet, giám đốc trung tâm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo của Google ở châu Âu, AI thể hiện mình là một công cụ “đáng tin cậy như một bác sĩ giàu kinh nghiệm, nếu không muốn nói là thậm chí còn đáng tin cậy hơn cả bác sĩ, vì chúng tôi có thể đào tạo AI bằng lượng dữ liệu lớn hơn những gì mà một bác sĩ có thể thấy trong đời họ.”
Trả lời RFI Pháp ngữ, ông Jean-Emmanuel Bibault, bác sĩ tại Bệnh viện Georges Pompidou đồng thời là nhà nghiên cứu về ứng dụng AI tại Viện Nghiên cứu Y học và Sức khoẻ Quốc gia Pháp (INSERM) giải thích thêm :
“Chúng ta có thể tận dụng AI vào việc nhận diện các dấu hiệu bệnh như là phân tích hình ảnh y khoa. AI có thể làm những tác vụ này nhanh hơn nhiều so với con người. Các bác sĩ có thể tiết kiệm được khoảng 50% thời gian. Trong thử nghiệm mới đây tại một bệnh viện ở Thuỵ Điển, người ta đã chọn ngẫu nhiên 80.000 bệnh nhân và sau đó để hai đội : một đội gồm 2 bác sĩ và một đội gồm 1 bác sĩ và 1 AI cùng đọc hình ảnh y khoa. Và họ thu được kết quả là nhóm có 1 bác sĩ và 1 AI chẩn đoán nhanh hơn hẳn so với nhóm 2 bác sĩ. Ngoài ra cũng có những lĩnh vực mà AI không chỉ làm nhanh mà còn làm tốt hơn con người, ví dụ như việc dự đoán về nguy cơ ung thư hay khả năng hồi phục của bệnh nhân để từ đó đưa ra phác đồ điều trị riêng biệt cho mỗi người.”
Dịch thuật
Không ít người hiện nay tự hỏi liệu việc học ngoại ngữ có còn cần thiết hay không khi mà người ta dường như có thể dịch tất cả mọi ngôn ngữ với Google Dịch. Trung bình một người bình thường có thể sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau. Cũng có một số người có thể sử dụng tới vài chục ngôn ngữ như Ioannis Ikonomon, phiên dịch viên của Uỷ ban Châu Âu, có thể nói được 47 thứ tiếng; hay Alexandre Arguelles, chuyên gia nghiên cứu ngôn ngữ người Mỹ với khả năng sử dụng 50 thứ tiếng. Tài năng là vậy, nhưng những thiên tài này vẫn phải chào thua Google Dịch khi mà công cụ dịch thuật này có thể dịch hơn 100 ngôn ngữ khác nhau trong vỏn vẹn vài giây.
Khi mới ra mắt Google chỉ có thể dịch từ dạng văn bản sang văn bản. Tuy nhiên sau đó vào năm 2014, Google đã mua lại Word Lens, phần mềm sử dụng camera tích hợp trên điện thoại di động để quét và dịch văn bản trên màn hình của thiết bị, nhờ vậy Google sau đó đã có thể dịch cả bằng hình ảnh. Ngoài ra hệ thống này còn có thể tự động nhận dạng ngoại ngữ và giọng nói, sau đó dịch và nói lại như một phiên dịch thực thụ.
Đứng sau thành công của Google Dịch chính là trí thông minh nhân tạo. AI đã học từ lượng lớn dữ liệu ngôn ngữ trong sách vở, báo chí, trang web. Đồng thời, cũng giống như loài người, AI học từ chính những sai lầm của mình. AI sẽ dựa vào phản hồi hay đề xuất của người dùng về những phần nó dịch chưa chuẩn để cải thiện dần chất lượng bản dịch.
Con người phải chăng đành chịu thua máy móc?
Trên đây mới chỉ là hai trong số rất nhiều khả năng mà AI có thể làm và thậm chí là làm tốt hơn con người. Vậy phải chăng ta đã bị AI bỏ lại phía sau?
Ít nhất là đến hiện tại, AI chỉ có thể thực hiện các nhiệm vụ được chỉ định. Đây cũng là lý do mà ông Raja Chatila, giáo sư về lĩnh vực Robot và AI tại đại học Sorbonne, Paris, khách mời trong chương trình phát thanh của RFI Pháp ngữ, nhận định rằng trí thông minh nhân tạo rất “kém thông minh” :
“AI thực ra rất ngu ngốc, nó không hiểu nó đang làm gì và chỉ có thể làm việc một cách hệ thống và máy móc. Nó sẽ lặp đi lặp lại chuỗi hành động, dù cho những hành động này không phải lúc nào cũng đúng, cũng chính xác.”
Cùng quan điểm đó, bà Anne Alombert, giảng viên tại đại học Paris 8, thành viên Hội đồng kỹ thuật số quốc gia, bổ sung thêm :
“Trong khi mà máy móc học để thực hiện theo những gì mà nó được yêu cầu làm và tiến tới một mục tiêu đã được hoạch định sẵn thì một đứa trẻ khi học hỏi là học để sáng tạo ra cái mới, khám phá thế giới, đưa ra giải pháp cho những tình huống mà nó chưa bao giờ gặp.”
Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt lớn giữa trí thông minh con người và máy móc : sự sáng tạo, tưởng tượng, phát minh. Những đặc điểm này cho đến hiện tại vẫn là khả năng đặc biệt của loài người. Máy móc dù có thể tạo ra các tác phẩm nghệ thuật như một giai điệu hay một bức tranh nhưng không thể đánh đồng điều đó với khả năng sáng tạo của con người vì suy cho cùng AI chỉ có thể dựa trên các thuật toán và dữ liệu đã được cung cấp để tạo ra các tác phẩm nhưng lại không chứa đựng yếu tố cảm xúc, tính cá nhân, trải nghiệm hay tư duy đột phá của con người.
Minh chứng cho luận điểm này, bà Anne Alombert đưa ra ví dụ : “Chẳng hạn Chat GPT có thể viết một câu chuyện thần thoại nhờ các tính toán dữ liệu nhưng nếu chúng ta tự viết, ta sẽ không tính toán dựa trên từ ngữ, xem có thể viết từ nào sau từ nào, các từ nào sẽ đi cùng với nhau, mà ta sẽ tự sáng tạo nhờ vào những gì mình đã trải qua, những gì mình tưởng tượng và theo những gì mình muốn viết. Và như vậy mỗi người chúng ta sẽ viết ra một câu chuyện theo cách hoàn toàn khác nhau, không thể bắt chước được.”
Còn theo ông Daniel Andler, thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Chính trị và Đạo đức, tác giả cuốn “Trí tuệ nhân tạo và trí tuệ con người, bí ẩn kép”, thì khó có thể nói trí thông minh nhân tạo thực sự sở hữu trí thông minh vì AI vốn dĩ không hiểu được bối cảnh hay tình huống để thích nghi với những tình huống đó. Ông cho biết :
“Nếu coi trí thông minh là khả năng xử lý một vấn đề cụ thể thì AI cũng có khả năng xử lý vấn đề và trong trường hợp đó ta có thể so sánh AI với con người. Nhưng với tôi, trí thông minh không chỉ đơn giản là khả năng xử lý vấn đề mà là xử lý vấn đề một cách hợp lý trong mỗi tình huống cụ thể mà chúng ta gặp phải với tư cách là một cá thể độc lập, duy nhất và có trách nhiệm.”
Còn rất nhiều khả năng khác mà AI không thể so sánh được với con người như tương tác xã hội, trí tuệ cảm xúc, tư duy trừu tượng hay đưa ra các phản ứng linh hoạt, v.v. Việc AI có thể giao tiếp hay sử dụng từ ngữ thể hiện cảm xúc trong các đoạn hội thoại khiến nhiều người lầm tưởng rằng AI cũng có cảm xúc như con người. Nhưng sự thật thì không phải vậy. AI có thể phân tích những từ ngữ, thậm chí là biểu cảm của con người để xác định cảm xúc của người đó và được lập trình để đưa ra những phản hồi phù hợp với những cảm xúc đó nhưng thực tế thì đó chỉ là vỏ ngôn ngữ và AI không thực sự trải qua những trải nghiệm đó và không thể sản sinh ra cảm xúc.
“Nếu không thể đánh bại được máy móc, hãy cộng sinh với nó.”
Con người vượt trội hơn AI ở nhiều điểm nhưng đồng thời AI cũng thể hiện mình không hề kém cạnh con người trong một số lĩnh vực khác. Vậy “nếu không thể đánh bại được máy móc, hãy cộng sinh với nó”. Đó là những gì tỷ phú Elon Musk, nhà sáng lập công ty công nghệ thần kinh Neuralink tuyên bố trên mạng X. Ông từng tiết lộ về dự án đầy tham vọng : cấy chip vào não người. Một khi đã ở trong não bộ, con chip sẽ liên kết với các neuron thần kinh và truyền những tín hiệu mà nó thu thập được đến máy tính, tạo ra giao diện não-máy tính. Theo vị tỷ phú, kế hoạch này có thể giúp nâng cấp loài người, kết nối trực tiếp con người với máy tính thông qua suy nghĩ và thậm chí trong tương lai có thể truyền suy nghĩ trực tiếp từ bộ não này đến bộ não khác.
Hồi tháng 01 năm nay, Neuralink thông báo đã cấy ghép thành công chip vào não của một bệnh nhân liệt toàn thân sau một tai nạn nghiêm trọng. Người này giờ đã có thể điều khiển được chuột, chơi game trên máy tính hay đăng bài trên mạng xã hội chỉ bằng suy nghĩ. Elon Musk còn cho biết theo kết quả kiểm tra sơ bộ, người đàn ông này sau khi được cấy chip đã sở hữu “khả năng đột biến tế bào thần kinh”.
Đây liệu có phải là triển vọng mới cho tương lai? Nhờ việc hợp thể với AI con người liệu sẽ ngày càng được nâng cấp và nhân loại cũng không còn phải lo lắng về việc bị thống trị bởi AI, đặc biệt là trong kỷ nguyên mà trí tuệ nhân tạo đang phát triển với tốc độ chưa từng thấy? Hay liệu rằng việc cộng sinh như vậy sẽ khiến ta bị lệ thuộc và càng dễ trở thành nô lệ của trí thông minh do chính chúng ta tạo ra?
Wed, 10 Jul 2024 - 28 - Khi thế giới hứng chịu El Niño - La Niña trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Sau La Niña kéo dài 3 năm, từ năm 2020 đến năm 2022, đến lượt hiện tượng El Niño diễn ra trong năm 2023. Năm nay, El Niño đến trong bối cảnh thế giới liên tục ghi nhận các hiện tượng thời tiết cực đoan. Bão tố, lũ lụt, hạn hán diễn ra bất thường ở nhiều nơi trên thế giới, với những kỷ lục về mức tăng nhiệt độ, nắng nóng, cháy rừng, băng tan chảy … do biến đổi khí hậu.
Diễn ra ở Thái Bình Dương nhưng El Niño và La Niña không chỉ có những tác động về khí hậu, hệ sinh thái, đánh bắt cá … tại vùng biển đó, mà còn có những ảnh hưởng sâu rộng đến các khu vực xa hơn, kể cả về sản xuất nông nghiệp, sức khỏe con người … Trên thực tế, trải dài từ miền phía nam Bắc Cực đến miền bắc Nam Cực, trải rộng từ phía châu Á, châu Úc sang đến phía châu Mỹ, Thái Bình Dương là đại đương sâu và rộng nhất hành tinh, chiếm khoảng 1/3 diện tích địa cầu.
Trái với biến đổi khí hậu chủ yếu là do các hoạt động của con người gây ra, El Niño và La Niña là các hiện tượng thời tiết tự nhiên đã tồn tại từ rất lâu và diễn ra đan xen nhau theo chu kỳ.
Để hiểu thêm về hai hiện tượng El Niño và La Niña, và những tác động qua lại với tình trạng biến đổi khí hậu, RFI tiếng Việt ngày 16/10/2023 đã phỏng vấn ông Jérôme Vialard, giám đốc nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp IRD, làm việc tại Cơ quan nghiên cứu về Đại dương và Khí hậu.
RFI : El Niño và La Niña có gì giống và khác nhau ?
Jérôme Vialard :Điểm chung là hiện tượng El Niño và La Niña có thể xem là giống như hai mặt của một đồng xu. El Niño thường kéo dài một năm, khi vùng nhiệt đới Thái Bình Dương nóng lên bất thường. Còn La Niña thì gần như ngược lại. Đó là một năm mà vùng nhiệt đới Thái Bình Dương lạnh bất thường. Những thay đổi về nhiệt độ bề mặt vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương sẽ gây ra hậu quả đối với khí hậu khu vực trên quy mô toàn bộ Thái Bình Dương cũng như ở các vùng tương đối xa, làm thay đổi hoàn lưu khí quyển. Như vậy, nhìn qua thì El Niño và La Niña là hai hiện tượng khá đối xứng, có thể xem La Nina là hiện tượng trái ngược với El Niño, thế nhưng khi xem xét kỹ lưỡng hơn, thì có thể thấy hai hiện tượng này vẫn có những điểm khác nhau nhỏ, thậm chí những nét khác biệt đặc trưng.
El Niño có thể mạnh hơn nhiều so với La Niña và đôi khi còn có hiện tượng mà chúng ta gọi là « siêu El Niño ». Đó là trường hợp năm 1982-1983 hoặc năm 1997-1998, gần đây hơn là năm 2015-2016. Chúng tôi nghiên cứu rất sâu những siêu El Niño này, bởi vì siêu El Niño gây ra hậu quả đối với khí hậu, xã hội, hệ sinh thái mạnh hơn nhiều so với các El Niño khác. Đó là khác biệt chính, ngoài ra còn có một sự khác nhau về vị trí. El Niño ngả về phía bờ biển Nam Mỹ, trong khi La Niña ngả về phía bờ biển Úc nhiều hơn.
RFI : Dường như có nhiều nghiên cứu, kiến thức chuyên sâu về hiện tượng El Niño hơn là về La Niña ?
Jérôme Vialard :Các hiện tượng El Niño và La Niña thường được mô tả như một chu kỳ. Trên thực tế, tôi nghĩ rằng trong vòng 15-20 năm qua đã có các nghiên cứu về nguyên nhân chung dẫn đến các hiện tượng El Niño và La Niña. Trái lại, các nghiên cứu về sự bất đối xứng, tức là những khác biệt nhỏ giữa El Niño và La Niña thì xuất hiện gần đây hơn.
Có thể nói là nghiên cứu này về cơ bản mới chỉ phát triển từ 10 năm trở lại đây. Đặc biệt, chúng tôi tìm hiểu điều gì tạo ra siêu El Niño và ngược lại tại sao lại không có "siêu La Niña". Chúng tôi cũng tìm hiểu về sự khác biệt về thời lượng của hai hiện tượng này. Rất hiếm khi El Niño kéo dài hơn một năm, trong khi chuyện La Niña kéo dài trong hơn một năm, sang năm thứ 2, thậm chí là năm thứ 3, không phải là hiếm.
RFI : Việc dự đoán các hiện tượng El Niño và La Niña liệu có phức tạp ?
Jérôme Vialard :Có thể dự đoán El Niño và La Niña, nhưng cũng có thể xảy ra những bất ngờ. Tôi xin nêu một ví dụ không hay lắm đã xảy ra hồi năm 2014. Khi đó, chúng tôi đã có đủ mọi dấu hiệu cho thấy El Niño sẽ xảy ra. Thường thì khi thấy nhiệt độ sâu dưới Thái Bình Dương tăng cao bất thường, chúng tôi nghĩ rằng El Niño sẽ xảy ra. Đó là trường hợp của năm 2014, và khi đó truyền thông đã nhiệt tình quá mức, nói rằng đến cuối năm sẽ có siêu El Niño. Nhưng cuối cùng thì chẳng có siêu El Niño nào xảy ra vào cuối năm 2014. Thế nhưng, đến năm 2015 thì nó lại xảy ra. Thế nên, cũng cần phải thận trọng một chút khi dự báo.
Thế nhưng, dẫu sao thì ngày nay, với các mô hình hoàn lưu khí quyển nói chung, trong đó có các mô hình liên quan đến đại dương và khí quyển, khi kết hợp các mô hình và phối hợp với những quan sát từ các vùng đại dương nhiệt đới, thì chúng tôi cũng đã có thể đưa ra những dự báo tương đối đáng tin cậy về El Niño và La Niña từ trước khi chúng xảy ra một năm. Hiện tượng El Niño xảy ra hiện nay đã được dự báo ngay từ đầu năm, thế nhưng chúng tôi khá thận trọng, không vội thông tin cho báo chí.
Điểm cuối cùng là có những nghiên cứu cho rằng El Niño và La Niña không thể được dự báo theo cùng một cách. Chúng tôi tin rằng La Niña sẽ dễ dự đoán hơn là El Niño. Đây cũng là một điểm khác nhau giữa hai hiện tượng này. Thế nhưng, dẫu sao cũng cần nghiên cứu thêm để xác nhận điều này.
RFI : Đâu là những vùng chịu nhiều tác động nhất từ El Niño và La Niña ?
Jérôme Vialard :Khu vực bị tác động nhiều nhất là vùng xung quanh Thái Bình Dương. Như tôi nói ban đầu, các hiện tượng khí hậu đã ảnh hưởng đến vùng nhiệt đới Thái Bình Dương. Những tác động điển hình nhất trong thời kỳ xảy ra El Niño là nạn hạn hán ở phía Úc và Indonesia, mưa lớn hơn ở phía Nam Mỹ, chẳng hạn như ở Peru. Đó là những hậu quả đối với khí hậu.
Ngoài ra xin nhắc lại là El Niño là một hiện tượng hải dương và khí quyển. Vì thế, cũng có những hậu quả khá nặng nề đối với các hệ sinh thái biển. Chẳng hạn, vùng đông Thái Bình Dương nhìn chung là nơi khá nhiều cá nên có khá nhiều loài chim biển. Và trong thời kỳ El Niño, một phần hệ sinh thái tại vùng này sụp đổ, có ít cá hơn, các loài chim biển chết đi, kéo theo đó là hoạt động đánh bắt cá bị ảnh hưởng. Đó là vùng ngay sát bờ Thái Bình Dương.
Việt Nam, nằm ở Đông Nam Á, cách không xa vùng này nên nhìn chung cũng chịu ảnh hưởng của El Niño. Trong thời kỳ xảy ra El Niño thì chiều hướng chung là toàn bộ khu vực Đông Nam Á nóng lên bất thường.
RFI : Các hiện tượng tự nhiên El Niño và La Niña có thể làm trầm trọng thêm tình trạng biến đổi khí hậu?
Jérôme Vialard :Nếu nhìn vào nhiệt độ trên quy mô hành tinh trong vòng 100 năm qua, chúng ta thấy nhiệt độ tăng rõ rệt trong vài thập kỷ qua có liên quan đến sự phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, tức là liên quan đến biến đổi khí hậu. Và nếu chúng ta nhìn vào chi tiết, ngoài xu hướng tăng chầm chậm, chúng ta còn thấy có những năm thì nóng hơn, có những năm lại lạnh hơn, nóng hơn rồi lại lạnh hơn, vân vân. Đúng là nhìn chung thì El Niño có liên quan đến sự nóng lên toàn cầu.
Trên thực tế, tín hiệu El Niño hay La Niña chồng lên tín hiệu về biến đổi khí hậu, do đó chúng ta có thể thấy nó hơi giống như sự điều hòa không khí trên quy mô hành tinh : thời kỳ El Niño là hệ thống sưởi được bật. Và thời kỳ La Niña là máy điều hòa mát được bật. Đây là hiệu ứng nhỏ hơn so với biến đổi khí hậu. Trái đất bị hâm nóng thì có liên quan đến biến đổi khí hậu, về mức nhiệt thì là hơn một độ một chút. Trong khi đó, mức tăng nhiệt độ từ năm này sang năm khác liên quan đến El Niño thì ở mức vài phần mười độ, tức là vẫn thấp hơn (so với do biến đổi khí hậu).
Một điểm khác biệt nữa là dấu hiệu liên quan đến biến đổi khí hậu thì kéo dài, đã xảy ra trong những thập kỷ qua và sẽ vẫn tiếp diễn. Trong khi đó, hiện tượng El Niño có tác động trong thời gian ngắn hơn. Chẳng hạn, như tôi vừa nói, trong những năm qua, chúng ta đã có một thời kỳ La Niña rất dài, trong vòng 3 năm liền. Nói một cách hình tượng thì chúng ta đã thấy điều hòa được bật hết cỡ trong suốt 3 năm, nhiệt độ trung bình của hành tinh nhờ đó đã giảm không ít trong vòng 3 năm.
Hiện giờ, hiện tượng El Niño đang phát triển ở vùng nhiệt đới Thái Bình Dương và lên đến đỉnh điểm vào cuối năm nay. Như vậy là chúng ta chuyển từ chế độ bật máy điều hòa mát toàn cầu sang chế độ bật máy sưởi. Trong khi đó, chúng ta lại tiếp tục khiến khí gây hiệu ứng nhà kính tích tụ trong bầu khí quyển của hành tinh, nên rất có thể là sang năm tới, tức là sau năm có El Niño, hành tinh sẽ nóng lên. Có rất nhiều khả năng là sang năm chúng ta sẽ lại phá kỷ lục về nhiệt độ toàn cầu. Trên thực tế, số liệu thống kê mà chúng tôi có cho thấy là năm nay chúng ta đã có thể phá kỷ lục về nhiệt độ, cho dù chưa thực sự có El Niño. Vì thế, năm tới chúng ta có thể sẽ lại đánh bại kỷ lục của năm 2016. Năm 2016 chính là năm sau khi xảy ra El Niño.
Nói tóm lại là hiện tượng El Niño và La Niña chồng lên hiện tượng biến đổi khí hậu. Trong thời kỳ El Niño, hành tinh ấm lên thêm một chút trong khoảng thời gian từ 1 đến 2 năm. Trong thời kỳ La Niña, hành tinh lại lạnh hơn một chút trong khoảng thời gian từ 1 đến 2 năm.
RFI : Và ngược lại, tình trạng biến đổi khí hậu có ảnh hưởng gì đến hai hiện tượng El Niño và La Niña ?
Jérôme Vialard :Về hướng ngược lại, tác động của biến đổi khí hậu đến El Niño là một vấn đề đang được nghiên cứu. Chúng tôi vẫn chưa giải đáp được hoàn toàn câu hỏi này, nhưng có những dấu hiệu ngày càng rõ ràng cho chúng tôi thấy rằng biến đổi khí hậu sẽ làm trầm trọng thêm ảnh hưởng của El Niño. Như tôi đã nói ở trên, El Niño liên quan đến hiện tượng trời mưa nhiều hơn ở phía Nam Mỹ, hạn hán nhiều hơn ở phía Úc, nên chúng tôi nghĩ rằng ngay cả khi bản thân El Niño không thay đổi, thì lũ lụt ở phía Nam Mỹ và hạn hán phía Úc vẫn gia tăng.
Chúng tôi cũng nghĩ rằng siêu El Niño mà tôi đã nói đến ở trên, vốn dĩ có những hậu quả rất nghiêm trọng, sẽ xảy ra thường xuyên hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Dù đây vẫn là một đề tài đang được nghiên cứu, câu hỏi chưa được giải đáp hoàn toàn, nhưng mà đúng vậy, chúng tôi lo ngại rằng El Niño và La Niña sẽ có sức tàn phá mạnh hơn, và những đợt El Niño hay La Niña rất mạnh cũng sẽ xảy ra thường xuyên hơn do tác động của biến đổi khí hậu.
RFI tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Jérôme Vialard, giám đốc nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp IRD, làm việc tại Cơ quan nghiên cứu về Đại dương và Khí hậu.
Wed, 08 Nov 2023 - 27 - Nấm-rễ cộng sinh: ‘‘Bí quyết 400 triệu năm tuổi’’ có giúp nhân loại thoát đại họa khí hậu?
Đại thảm họa chồng chất, do Trái đất bị hâm nóng, đang cận kề. Nhiệt độ toàn cầu sắp ‘‘tăng quá 1,5°C’’ so với thời tiền công nghiệp. Sự phụ thuộc nặng nề vào năng lượng hoá thạch ‘‘đã mở cánh cửa địa ngục với nhân loại’’, như cảnh báo của Liên Hiệp Quốc. Viễn cảnh đen tối ngày một khó tránh khỏi. Tuy nhiên, cái khó làm ló cái khôn. Ít năm gần đây ‘‘nấm rễ’’ đang được hy vọng như một giải pháp chống biến đổi khí hậu hàng đầu, có thể giúp nhân loại thoát hiểm.
“Nấm rễ” là gì ? Vì sao nhiều hy vọng được đặt vào “nấm rễ” ? Tạp chí của RFI tổng hợp thông tin về chủ đề này. Khách mời của Tạp chí hôm nay là giáo sư Marc-André Selosse, Viện bảo tàng Quốc gia về Lịch sử Tự nhiên (MNHN), Paris, một chuyên gia trong lĩnh vực nấm rễ cộng sinh xứ ôn đới. Ông cũng là tác giả cuốn “L’Origine du monde : une histoire naturelle du sol à l’intention de ceux qui le piétinent” (tạm dịch là “Nguồn gốc của thế giới : Một lịch sử tự nhiên của đất, dành cho những ai bước đi trên đó mà không hay’’).
“Tấc đấc” còn giá trị hơn cả “tấc vàng”. Bởiđất là ‘‘nguồn gốc” của sự sống, đất “nuôi dưỡng” sự sống, “bảo vệ” sự sống. “Đất” có ý nghĩa sống còn với sự sống như vậy, nhưng bản thân cuộc sống của đất, cuộc sống trong lòng đất lại là điều còn rất ít được biết đến, và rất ít được chú ý bảo vệ. “Nấm rễ cộng sinh” - một phần căn bản làm nên sự sống của rừng – cũng chính là một giải pháp chống biến đổi khí hậu hàng đầu, theo ghi nhận của giáo sư Marc-André Selosse, chuyên gia về nấm truffle (hay “nấm cục”), một trong các loài nấm rễ cộng sinh nổi tiếng ở Pháp, và ở châu Âu. Giải pháp căn bản cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu nằm ngay dưới chân ta, ngay trong lòng đất.
***
Thiếu “nấm rễ”, cây còi cọc
Giới khoa học đã phát hiện ra vai trò của nấm rễ như thế nào ? Trả lời RFI Việt ngữ, giáo sư Marc-André Selosse tóm lược:
‘‘Phát hiện về chuyện này diễn ra vào năm 1885. Vào thời điểm đó, Albert Bernhard Frank, một nhà thực vật học người Phổ (nước Đức hiện nay), được bộ trưởng Nông Nghiệp nước này đặt câu hỏi : vì sao nấm truffle luôn mọc dưới gốc cây ? Albert Bernhard Frank đã phát hiện ra rằng bộ phận tồn tại ổn định của nấm truffle nằm sâu trong lòng đất, với vô vàn các sợi có kích thước hết sức nhỏ bé. Cây nấm, bộ phận nổi trên mặt đất, trên thực tế chỉ là ‘‘cơ quan sinh sản’’, cho phép phát tán các bào tử nấm. Các bộ phận siêu nhỏ tồn tại ổn định nằm trong lòng đất nối liền với các rễ cây, nhà khoa học người Phổ gọi đây là hiện tượng ‘‘nấm rễ cộng sinh’’ (mycorhize). Không chỉ có nấm truffle, mà hàng nghìn loài nấm cũng tồn tại theo một cơ chế tương tự. Khi phát hiện nhiều “nấm rễ cộng sinh” ở cây sồi, Albert Bernhard Frank đặt câu hỏi : Phải chăng các loài nấm như vậy giúp cây phát triển ? Năm 1892, ông viết một bài báo, với nhận định : nếu cắt bỏ nấm rễ của cây thông, loại cây này sẽ phát triển không tốt… (…) Khi người phương Tây di thực các loại thông đến những vùng đất ở Nam Mỹ và châu Phi, thoạt tiên, thông không thể phát triển được nếu không có các loại nấm rễ. Đối với các loại cây thông phát triển tốt ở Nam Mỹ, đến mùa, người ta thấy trên rễ chúng cùng các loại nấm như ở châu Âu’’.
Cây cung cấp ‘‘đường’’ cho nấm, nấm ‘‘đi chợ’’ giúp cây
Nấm rễ cộng sinh sống trên các mô rễ của cây chủ, sống nhờ vào cây chủ, nhưng tham gia vào thúc đẩy sự sống của cây chủ, trái ngược với các loại nấm hoại sinh, nấm phân giải chất hữu cơ sống nhờ vào các thực thể hữu cơ chết, phân huỷ, hay các loại nấm ký sinh xâm nhập vào cơ thể vật chủ, gây bệnh và thậm chí tiêu diệt vật chủ. Nấm rễ cộng sinh cụ thể như thế nào với cây? Giáo sư Marc-André Selosse giải thích :
‘‘Trong thế kỷ 20, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy nấm rễ nhận được từ cây chất đường, chắc chắn là các loại vitamin, và trong nhiều trường hợp cả các axit béo, tức các sản phẩm có được nhờ ở tiến trình quang hợp của cây. Ngược lại, nấm làm việc công việc ‘‘đi chợ’’ trong lòng đất, hay nói cách khác lấy từ đất các chất azot, photphat, potasium, các chất vi lượng, nước… để tự nuôi nó, nhưng cũng để nuôi cây (…) Trong lòng đất có rất nhiều chất, nhưng tồn tại rất tản mát. Nấm rễ nhỏ li ti làm công việc hút lấy các nguồn dưỡng chất, với hiệu suất cao hơn nhiều so với các rễ cây to. Nấm rễ cũng làm cả công việc bảo vệ rễ cây. Khi quan sát rễ cây ở các vùng ôn đới, cả Nam bán cầu cũng như Bắc bán cầu, và một số nơi ở xứ nhiệt đới, nấm rễ làm nên một thứ vỏ bọc bao xung quanh rễ cây. Có một số loại thông hay bạch đàn không thể mọc được trên đất đá vôi chẳng hạn, nếu không có nấm cộng sinh bao bọc rễ. Nấm rễ giúp cây trong việc tiếp nhận calcium, điều hoà lượng nước tiếp nhận, và cả chống lại các vi sinh vật có hại tấn công rễ. Và có một điều tinh vi, quan trọng khác mới được phát hiện gần đây, đó là nấm rễ giúp cả việc tăng cường hệ miễn dịch của cây, đối với toàn bộ cây, không chỉ với rễ cây. Tóm lại, nấm rễ bảo vệ cây, và và hoạt động tương trợ này diễn ra có tổ chức, bởi khi bảo vệ cây, nấm cũng bảo vệ chính kho thực phẩm của mình’’.
Không có “nấm” thì không có rừng
Nấm rễ cộng sinh mang lại sự sống cho đại đa số các hệ sinh thái trên mặt đất là điều mà giới khoa học, và một số định chế quốc tế ghi nhận từ khá lâu nay. Hội Đồng Toàn Châu Âu (Council of Europe), trong một văn bản năm 2001, liên quan đến nấm, làm rõ Phụ lục 1 Công ước Bern (tức Công ước Bảo tồn Thiên nhiên hoang dã ở châu Âu, có hiệu lực từ năm 1982), nhấn mạnh: “Các loài nấm rễ tham gia vào nhiều quan hệ cộng sinh : khoảng 85% cây thân gỗ có cơ chế cộng sinh nấm rễ, và đây là điều quan trọng nhất trong các chức năng sinh thái của chúng – không có nấm rễ thì sẽ không có rừng, và không có các hệ sinh thái tự nhiên có tổ chức khác’’.
Châu Âu có hai tổ chức toàn châu lục bảo vệ nấm rễ : Hội đồng châu Âu Bảo tồn Nấm (The European Council for the Conservation of Fungi - ECCF), thành lập từ năm 1985, và Hiệp hội chuyên về Nấm rễ châu Âu (European Mycological Association - EMA), thành lập năm 2003. Không kể các hiệp hội quốc gia nhiều nước tồn tại từ lâu đời. Hiệp hội nấm rễ Pháp (Société mycologique de France) xuất hiện từ năm 1884, cùng thời với phát hiện của nhà nghiên cứu người Phổ.
Từ rừng bị hâm nóng...
Tuy nhiên, tại châu Âu và với quốc tế nói chung, trong một thời gian dài nấm rễ về cơ bản vẫn chỉ được nhìn nhận về phương diện đa dạng sinh học, không trực tiếp liên quan đến chuyện biến đổi khí hậu. Cuộc chiến bảo vệ đa dạng sinh học diễn ra gần như độc lập với cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sinh giới. Đa dạng sinh học ngày càng trở thành nạn nhân của việc trái đất bị hâm nóng. Rừng bị biến đổi khí hậu làm cho suy yếu đến mức mà nhiều nơi rừng trở thành nguồn phát thải khí CO2, thay vì là nơi hấp thụ. Vai trò của nấm rễ với biến đổi khí hậu ngày càng trở thành chuyện được quan tâm hàng đầu trong các nghiên cứu về rừng. Nấm rễ được hy vọng như một cứu tinh (1).
Nhìn chung ‘‘nấm rễ’’ có vai trò như thế nào trong việc hấp thu khí thải CO2 ? Về vấn đề này, giáo sư Selosse lấy trường hợp rừng ở khu vực ôn đới làm ví dụ giải thích:
‘‘Nấm rễ có hai vai trò trong việc hấp thu khí thải CO2. Vai trò gián tiếp và vai trò trực tiếp. Vai trò gián tiếp khi nấm rễ giúp cây phát triển. Khi cây hút khí thải CO2 chính là nhờ sự trợ giúp của nấm rễ. Vai trò thứ hai là trực tiếp hấp thụ cac-bon. Các nấm rễ ở xứ ôn đới rất phàm ăn cac-bon. Nấm rễ tiếp thu đến 40% lượng cac-bon được cây hấp thu trong quá trình quang hợp. Đây là một con số cực lớn. Đặc điểm thứ hai là nấm rễ xứ ôn đới chậm chuyển hoá : trước hết do nấm rễ sống lâu hơn và khi chết, xác của chúng cũng phân huỷ rất chậm’’.
... đến thừa nhận ‘‘vai trò then chốt với khí hậu’’ của nấmrễ
Năm 2019 lần đầu tiên giới khoa học tiến hành một nghiên cứu quy mô về đa dạng sinh học toàn cầu, với tổng cộng 55 triệu cây, hơn 32.000 giống loài, đại diện cho 97% diện tích trái đất, với sự tham gia của khoảng 250 nhà khoa học từ 50 quốc gia. Nghiên cứu Global Forest Biodiversity Initiative (GFBI), với sự tham gia của Viện nghiên cứu nông học vì phát triển Pháp (Cirad) trong ban điều hành, khẳng định ‘‘vai trò then chốt trong việc điều chỉnh khí hậu’’ của quan hệ cộng sinh nấm rễ với cây nói riêng và giữa các vi sinh vật với cây nói chung.
Vai trò to lớn của quan hệ nấm rễ cộng sinh với ‘‘điều chỉnh khí hậu’’ được nhìn nhận cùng lúc với việc giới nghiên cứu chỉ ra quan hệ cộng sinh nấm rễ này lại đang bị chính biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ. Chưa kể tác động của việc rừng bị phá huỷ, bị khai thác theo lối công nghiệp hóa, đất đai bị can thiệp của con người làm suy thoái với phân bón, thuốc trừ sâu, đô thị hóa…(2) Theo điều tra nói trên của GFBI, khoảng 10% nấm “ngoại cộng sinh” (ectomycorrhizal fungi), tức loại nấm rễ sống bao quanh rễ cây (sống chủ yếu ở xứ ôn đới), như giáo sư Selosse nêu trên, có nguy cơ biến mất trước năm 2070. Mà đây lại chính là họ nấm rễ có vai trò then chốt hơn cả đối với việc hấp thu khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
Thế giới nấm, ‘‘điểm quyết đấu'’ của cuộc chiến Khí hậu-Đa dạng sinh học
Biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người đe dọa các hệ sinh thái, đảo lộn đa dạng sinh học toàn cầu ngay trong lòng đất - nền tảng của đời sống sinh giới. Tuy nhiên cũng chính biến đổi khí hậu và các biến động ghê gớm khác cũng làm nổi bật tầm quan trọng hàng đầu của các hệ vi sinh vật nhỏ bé, mong manh trong đất đối với sự ổn định của khí hậu. Việc nhận diện đầy đủ sự tồn tại đa dạng và vô cùng tinh vi của chúng, cùng nỗ lực bảo vệ chúng đang dần dần trở thành một ‘‘điểm quyết đấu’’ mới của cuộc chiến kép - bảo vệ khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học (3).
Nấm rễ và thế giới các vi sinh vật nói chung lâu nay nằm ở vị trí chiếu dưới trong cuộc chiến bảo vệ đa dạng sinh học. Trong danh sách đỏ năm 2022 của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), chỉ có 640 loài nấm, trong lúc có hơn 62.000 động vật và hơn 60.000 thực vật (iucnredlist.org).Cho đến nay, các nhà khoa học mới chỉ xác định được khoảng vài chục nghìn loài nấm rễ, trong lúc số chủng loại nấm rễ toàn cầu có thể có đến hàng trăm nghìn loài, thậm chí hàng triệu. Quan hệ cộng sinh rễ - nấm không phải chỉ là giữa một loại nấm với một cây mà nhiều nấm cộng sinh với cùng một cây, và các nấm rễ lại có quan hệ liên thông tạo thành một mạng lưới liên kết rộng lớn, cây cối liên hệ với nhau thông qua nấm rễ.
Nhà sinh học Toby Skiers (giáo sư Đại học Vrije Universiteit Amsterdam, Hà Lan) ví các mạng lưới nấm rễ như “bộ xương của đất”. Nhờ mạng lưới sợi nấm, đất trở nên thông thoáng hơn, ít bị nén chặt hơn, ổn định hơn. Xói mòn ít hơn và giữ nước tốt hơn. Nấm rễ là cả một thế giới mênh mông. Dưới lòng đất, các sợi nấm mỏng manh, vô hình, nhưng có tổng số chiều dài ghê gớm : hàng cây số sợi nấm ẩn trong một centimet khối đất, và nếu tính trên diện tích toàn thế giới, chiều dài tổng cộng của các mạng sợi nấm của 10cm đất đầu tiên dưới lòng đất tương đương với 450 x 1024 km, tức bằng khoảng một nửa chiều rộng của dải Ngân Hà của chúng ta.
Tại nhiều khu vực, nấm rễ có thể chiếm đến 50% tổng trọng lượng sinh khối. Nhà nấm rễ học Stephan Declerck, phụ trách kho lưu trữ nấm rễ lớn nhất thế giới (Đại họcUCLouvain, Bỉ), cho biết cơ thể sống lớn nhất thế giới hiện nay chính là nấm. Một ‘‘con’’ nấm thuộc loài Armillaria Ostoyae, ở công viên quốc gia Oregon (miền tây nước Mỹ), nặng khoảng 600 tấn, trải rộng trên diện tích 8,9 km² trong lòng đất, có tuổi đời từ ít nhất 2.400 năm đến 8.000 năm. Cả một thế giới kỳ lạ, phi thường nằm ngay dưới bàn chân ta.
SPUN thám hiểm ‘‘vũ trụ’’ các mạng lưới “nấm rễ” toàn cầu
Thực tế nấm rễ cộng sinh chính là “điểm mù của cuộc chiến chống biến đổi khí hậu’’, như nhận định của các nhà khoa học nhóm SPUN (Society for the Protection of Underground Network), do khoa học gia Hà Lan Toby Skiers và một số đồng nghiệp chủ trì. Chương trình lập bản đồ toàn cầu đầu tiên về thế giới chuyên về các loài nấm trong lòng đất, khởi sự từ 2021. SPUN hy vọng tìm thấy chính trong “điểm mù” tri thức đó các bí quyết giúp nhân loại thoát hiểm đại thảm họa khí hậu. Dự án SPUN chủ trương lập bản đồ chi tiết đầy đủ về nấm rễ toàn cầu, tìm hiểu về khả năng cất giữ CO2 khổng lồ của loài sinh vật đặc biệt này, bảo vệ các mạng lưới nấm rễ bị đe dọa.
Kế thừa cơ sở dữ liệu khổng lồ GlobalFungi (tập hợp các thành tựu về nghiên cứu nấm rễ toàn cầu trong 20 năm qua), nhờ ở một phần ở trí thông minh nhân tạo và kỹ thuật mô hình hoá (của các chuyên gia Crowther Lab - Đại học Bách khoa quốc gia Zurich), chương trình lập bản đồ nấm rễ toàn cầu 150 triệu km² (của SPUN) về cơ bản có thể “về đích trong hơn 5 năm tới”, theo chuyên gia Pháp Francis Martin, thành viên Hội đồng khoa học của SPUN.
Cây cối trên cạn: Hậu duệ của ‘‘cuộc kết hôn giữa nấm và tảo biển’’
Trong một kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Current Biology, trên quy mô toàn cầu, nấm rễ có thể hấp thu đến 13,2 tỷ tấn CO2, chiếm khoảng một phần ba lượng khí thải toàn cầu. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết thực vật có liên quan đến nấm rễ cộng sinh có thể hấp thụ lượng cac-bon nhiều gấp 8 lần so với thực vật không có liên hệ với nấm. Hiện tại, những dự báo về khả năng hấp thu CO2 to lớn của nấm rễ vẫn chỉ là ước tính, với độ sai số ắt là khá cao, bởi vũ trụ các mạng lưới nấm rễ trong lòng đất là điều còn rất ít được biết đến.
Dù sao có một điều chắc chắn, được giới chuyên môn đồng thuận, đó là ‘‘cơ chế cộng sinh nấm rễ’’ chính là điều đã giúp cho sự sống nở rộ trên đất liền. Cơ chế cộng sinh này đã từng cho phép “hình thành các hệ sinh thái trên cạn”. Nhờ đó mà các loài tảo biển có thể di cư thành công lên mặt đất cách nay từ 485 triệu đến 443 triệu năm, giai đoạn mà các nhà cổ sinh vật học gọi là kỷ ‘‘Ordovic’’ (4).
Khác hẳn với đại dương, nơi tảo cùng lúc có được ánh sáng, nước, cac-bon, khoáng chất. Đất liền khác hẳn. Ánh sáng và cac-bon có trong không khí, trong lúc nước và khoáng chất nằm trong lòng đất. Để thành công trong cuộc di thực này, tảo biển đã “ký kết một thoả ước hôn nhân lâu dài” với nấm. Tảo cấp cho nấm đường và các axit béo, nấm cấp cho tảo các khoảng chất nhờ các hệ thống sợi mỏng manh với khối lượng nhỏ hơn rễ đến hàng trăm lần, nhưng vươn xa. Đây chính là lý do khiến quan hệ cộng sinh nấm rễ liên quan đến đại đa số cây cối. Cây cối trên mặt đất là các hậu duệ của cuộc hôn nhân quyết định này.
Đối với nhà sinh học tiến hoá Toby Skiers, ‘‘phá hủy quan hệ đối tác lâu đời hàng trăm triệu năm này cũng chính là tự huỷ hoại thực sự khả năng của con người ngăn chặn biến đối khí hậu”.
“Hệ thống internet trong rừng'' và những Cây Mẹ linh thiêng
Nấm rễ thúc đẩy sự phát triển của các loài thực vật, giúp lưu giữ cac-bon trong cây, và trong lòng đất. Chức năng hỗ trợ dinh dưỡng cho cây là điều đã được biết rõ, nhưng chức năng hấp thu khí thải của nấm rễ vẫn còn nhiều bí ẩn. Khoảng 75% khí thải gây hiệu ứng nhà kính được tích lại trong lòng đất. Hiểu biết tốt hơn về các mạng lưới nấm rễ sẽ giúp cho việc can thiệp kịp thời để bảo vệ các khu vực đa dạng sinh học bị suy yếu, để không những giúp đất tiếp tục duy trì việc cất giữ khí thải (theo một tính toán hồi 2016, của nhóm nghiên cứu với nhà khí hậu học Thomas W. Crowthe là đồng tác giả, nhiệt độ Trái đất tăng 1°C đi liền với việc đất giải phóng khoảng 30 tỷ tấn khí thải, tương đương với lượng khí thải hàng năm hiện nay) (reseauactionclimat.net), mà còn có thể thúc đẩy các mạng lưới nấm rễ hấp thu nhiều cac-bon hơn nữa. Về mặt này, nấm rễ cộng sinh có thể là một giải pháp then chốt. Hiểu rõ hơn vai trò của nấm rễ, và sự hình thành chậm rãi của loài sinh vật đặc biệt này cũng làm gia tăng cảnh giác trước các giải pháp dễ dãi như trồng rừng mới thay cho các khu rừng tự nhiên bị phá hủy (kế hoạch 1.000 tỉ cây xanh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới tung ra năm 2020) (5).
Những hiểu biết sâu hơn về đời sống các vi sinh vật trong lòng đất ngày càng làm lộ rõ sự kỳ diệu khôn cùng của các hệ sinh thái. Nhà sinh thái học kỳ cựu về rừng, bà Suzanne Simard, người Canada, từ rất sớm, vào năm 1997, đã từng ví các mạng lưới nấm rễ cộng sinh như một “hệ thống internet” ngầm trong lòng đất, liên kết cả một rừng cây. Cây cối nhờ vào hệ thống này mà có thể “tương trợ” nhau, “các cây mẹ” hỗ trợ đàn cây con. Đây là điều gây cảm hứng lớn cho đạo diễn James Cameron khi làm bộ phim Avatar, ca ngợi sự huyền nhiệm của rừng, mối quan hệ tâm linh nối kết cộng đồng thổ dân với Mẹ Cây linh thiêng (xem thêm phần ''Cây cối hợp tác qua mạng lưới nấm rễ:‘‘Trực giác khoa học’’, ‘‘Niềm tin tâm linh’’ hay ‘‘Khái quát hóa vội vã’’ ?'').
Bí quyết diệu kỳ của “nấm-rễ”: Loài người có kịp rút cácbài học?
Trong cái rủi có thể có cái may. Cuộc đại khủng hoảng về môi trường, khí hậu cũng có thể là cơ hội để nhân loại đương đại trở lại với những bài học căn cốt của thiên nhiên. Tạp chí xin khép lại với một nhận định của giáo sư Marc-André Selosse. Trong cuốn ‘‘Jamais seul. Ces microbes qui construisent les plantes, les animaux et les civilisations’’(tạm dịch là‘‘Không bao giờ cô độc. Các vi sinh vật kiến tạo nên các loài thực vật, động vật và các nền văn minh’’) (2017), nhà sinh học, chuyên gia nấm rễ Viện bảo tàng Quốc gia về Lịch sử Tự nhiên Pháp, kêu gọi chúng ta thứ tạm thời rời bỏ cách nhìn khô cứng coi mỗi ‘‘thực thể’’ là một tồn tại biệt lập (The Conversation.com).
Trong thế giới các vi sinh vật, mọi thứ ‘‘trước hết là tương tác’’, liên tục trong tương tác. Ranh giới giữa thực thể này và thực thể khác rất khó xác định. Trong thế giới ‘‘nấm rễ cộng sinh’’, khó có thể nói chắc đâu là cây, đâu là nấm. Đường biên hết sức co giãn. Nấm rễ thông qua các protein nhỏ bé ‘‘làm biến đổi sự vận hành của các tế bào cây, tác động đếnquá trình hoạt hóa thông tin di truyền chứa trong gien (hay ‘‘biểu hiện gien’’)’’ (6). Một ‘‘thực thể cây’’, thông qua các mạng lưới sợi nấm, trao đổi dinh dưỡng và cả thông tin với các cây hàng xóm, và quá trình cứ thế tiếp tục. ''Thực thể cây mở rộng'' kiểu như vậy có thể liên quan đến toàn bộ một khu rừng, hay một đồng cỏ. Trong thế giới đó, ‘‘mỗi vi sinh vật là một giao điểm trong cả một mạng lưới tương tác khổng lồ’’, mênh mông như ‘‘đại dương’’.
Cái thế giới nhỏ bé vô cùng ấy cũng là một thế giới mang trong mình một sứ mạng khổng lồ : duy trì sự cân bằng sinh thái, sự ổn định của khí hậu trên hành tinh. Cuộc đại khủng hoảng khí hậu – môi sinh cận kề buộc nhân loại phải trở lại với cái thế giới ấy, để tìm học những bí quyết diệu kỳ, đã từng kiến tạo nên sự sống trên mặt đất từ hàng trăm triệu năm nay - các điều kiện sống đã cho phép ra đời nền văn minh của con người. Liệu nhân loại còn đủ thời gian để lãnh nhận trước khi những đại khủng hoảng dồn dập ập tới?
Chú thích
1/ Hy vọng đặt vào nấm rễ : ‘‘Une cartographie mondiale des symbioses microbiennes des arbres révèle leur rôle clé dans la régulation du climat’’ (Lập bản đồ toàn cầu về sự cộng sinh của vi sinh vật với cây cho thấy vai trò chính của chúng trong việc điều hòa khí hậu), Cirad, ngày 15/05/2019. Hay các bài ‘‘Vast Networks of Fungi May Hold Key to Climate Fight’’ (Mạng lưới nấm rộng lớn có thể nắm giữ chìa khóa của cuộc chiến chống biến đổi khí hậu), Bloomberg, ngày 05/06/2023, và ‘‘La symbiose plantes-champignons, une arme contre le réchauffement climatique’’ (Cộng sinh nấm – cây, vũ khí chống xu thế Trái đất nóng lên), L’Express, 07/11/2019.
2/ ‘‘Vấn đề chính hiện nay là với hoạt động nông nghiệp trên khắp thế giới và sử dụng phân bón cũng như các sản phẩm ‘‘bảo vệ thực vật’’ khác, nhân loại đã hủy hoại từ 50 đến 75% hệ sinh thái trên Trái đất và làm giảm khả năng lưu trữ cac-bon trong đất của các thảm thực vật có nấm rễ “ngoại cộng sinh” (ectomycorrhizal fungi), hệ quả là làm gia tăng CO2 trong khí quyển'',theo nhà nghiên cứu Ian McCallum (IIASA - International Institute for Applied Systems Analysis, Áo), đồng tác giả một nghiên cứu toàn cầu về cộng sinh nấm – cây và cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.
3/ Lần đầu tiên, hai cơ quan Liên Hiệp Quốc về Đa dạng sinh học (IPBES) và Khí hậu (IPCC/GIEC), ra một báo cáo chung, “Đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu – kết quả khoa học’’ (tháng 6/2021), nhấn mạnh hai mục tiêu vì đa dạng sinh học và chống biến đổi khí hậu phải được giải quyết cùng nhau. Báo cáo cho thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ đa dạng sinh học trong cu
Fri, 29 Sep 2023 - 26 - Nước thải : Mỏ vàng thông tin ?
Nước thải là một nguồn gây ô nhiễm quan trọng do việc xử lý các chất thải thực phẩm và việc trừ khử các loại hóa chất độc hại rất khó. Nhưng nước đã qua sử dụng lại chứa đựng nhiều thông tin « hữu ích »,cho phép tìm thấy tất cả những gì tham gia vào đời sống thường nhật của nhân loại, kể cả thói quen sử dụng dược phẩm hay các chất gây nghiện tại nhiều thành phố lớn.
Dưới lòng đất thành phố Paris là một hệ thống ống dẫn thoát nước rộng lớn, có tổng chiều dài là 2.600 km, tức khoảng cách giữa Paris và thành phố Saint-Petersburg của Nga. Ông Olivier Rousselot, giám đốc phòng nghiên cứu và môi trường của Tổ hợp liên tỉnh xử lý nước thải vùng đô thị Paris – Syndicat Interdépartemental pour l’assainissement de l’agglomération parisienne – SSIAP, trước hết cho biết, tổ hợp này mỗi ngày xử lý đến 2,4 tỷ lít nước đã qua sử dụng, tức tương đương với khoảng 1.000 bể bơi Olympic.
« Hàng ngàyvà 365 ngày mỗi năm, chúng tôi phải thu thập các mẫu nước nguyên ở đầu vào trạm xử lý và nước đã qua xử lý ở đầu ra. Quy trình này được thực hiện suốt cả năm. Riêng các mẫu nước lấy ngày thứ Bảy và Chủ Nhật được để tủ lạnh để có thể xử lý vào ngày thứ Hai. Những mẫu nước này sau đó được mang đến các phòng thí nghiệm để làm phân tích theo như luật định. »
Những mẫu nước được lấy ban ngày còn nhằm một mục đích khác, chúng sẽ được gởi đến Berlin để nghiên cứu. Mục tiêu ban đầu là tiến hành khảo sát đối chiếu liên quan đến hơn 80 loại hóa chất chứa trong nước thải giữa Paris và Berlin.
Frederik Zietzschmann, phụ trách nhà máy xử lý nước thải Wassmanndorf ở Berlin, trong một chương trình của kênh truyền hình ARTE giải thích :
« Chúng tôi hy vọng có được những kết quả tương tự tại hai thủ đô. Sau đó, chúng tôi thải toàn bộ những nước đã qua sử dụng qua bồn xả. Mặt khác, các đầu vào công nghiệp có thể là không giống nhau. Vì vậy, điều thú vị là biết được những gì mọi người tiêu thụ qua phân tích các chất ô nhiễm vi mô ví dụ như dư lượng thuốc, hóa chất công nghiệp hay chất gây nghiện. »
Nghiên cứu này nhận được sự hỗ trợ của một trong những viện phân tích nước thải lớn nhất thế giới : Institute For Analytical Research (IFAR), trường đại học Fresenius, ở Idstein, Đức, dưới sự điều hành của Thomas P Knepper, lãnh đạo phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu về vi vết trong các mẫu vật.
Dịch bệnh Covid-19 và nước thải Paris
Trận đại dịch Covid-19 là một minh chứng gần đây nhất cho sự phong phú thông tin chứa trong nước thải. Mùa xuân năm 2020, gần như toàn châu Âu bị phong tỏa, các cửa hiệu, hàng quán và sở làm đều bị đóng cửa, còn người dân thì bị hạn chế lưu thông, nhưng bệnh viện vẫn bị quá tải. Người ta không chắc về số người thực sự nhiễm virus. Làm thế nào vén màn vùng tối này ?
Nhà virus học người Pháp Sebastien Wurtzer, làm việc cho công ty quản lý nước Paris nằm trong số những chuyên gia được huy động ngay từ đầu cuộc khủng hoảng dịch tễ. Công việc chính của ông là tìm kiếm những tác nhân gây bệnh trong nước sạch, có thể uống và nước bẩn.
Theo nhà khoa học này, « việc theo dõi sự hiện diện của những mầm bệnh không phải là điều gì mới mẻ cả. Nhưng điểm mới ở đây là có thể định lượng chúng trong nước đã qua sử dụng và liên kết được với tình trạng dịch tễ của dân cư. »
Các công trình nghiên cứu công bố năm 2015 cho phép ông thiết lập được mối tương quan, theo đó, lượng virus đường ruột – được tìm thấy trong phân người bệnh dưới dạng các phân tử thải ra trong đường ống thoát nước, rồi trong các trạm xử lý nước thải – càng nhiều, thì số người bị nhiễm bệnh càng cao.
Phát hiện này đã được ông áp dụng trong việc khảo sát các mẫu nước được lấy tại 6 trạm xử lý nước thải ở vùng thành phố Paris và 11 trạm khác ở vùng Ile-de-France (Paris và các vùng phụ cận). Những dữ liệu có được không những cho thấy tình trạng lây nhiễm, mà còn giúp các nhà khoa học có thể suy ra tiến triển của số ca nhiễm trước khi các bệnh viện chuyển giao số liệu chính thức cho các nhà chức trách y tế. Nước thải đã cho thấy trong một chừng mực nào đó, là một chỉ báo sớm cho việc tầm soát coronavirus.
Trên đài ARTE, Sebastien Wurtzer giải thích : « Cuối tháng 6/2020, chúng tôi đã có thể nhận thấy rất sớm, thậm chí trước cả khi có các chỉ số của bệnh viện, lượng virus tăng trở lại trong nước thải, đặc biệt là tại vùng Ile-de-France, khu vực chẳng may phải thông báo đợt dịch thứ hai như chúng ta đã biết. »
Nước thải : Chỉ báo thói quen ăn uống, tiêu thụ dược phẩm
Trở lại với nghiên cứu đối chiếu mẫu nước giữa Paris và Berlin, kết quả phân tích các mẫu nước đầu tiên cho thấy có sự hiện diện của nhiều hóa chất thông thường được biết đến như carbon, phosphore và azote, được thải ra theo đường nước tiểu và ruột, giữa Paris và Berlin là giống nhau. Nhưng điều thú vị và gây bất ngờ là hàm lượng những chất này được tìm thấy ở Berlin cao gấp hai lần so với Paris.
Vì sao nước thải ở Paris lại chứa ít các loại chất dinh dưỡng hơn so với Berlin ? Liệu người ta có thể giải thích bằng thói quen tiêu thụ nước làm hòa tan nồng độ dưỡng chất trong nước thải ? Các khảo sát cho thấy, một cư dân thành Berlin tiêu thụ khoảng 100dl nước/ngày (10 lít) cho sinh hoạt thường nhật từ nấu ăn, tắm rửa, vệ sinh so với mức 120 đến 150 dl cho một người thành Paris.
Về điểm này, Frederik Zietzschmann cho rằng, « tại Đức, người ta đã được giáo dục từ sớm phải tiết kiệm nước. Có nhiều khả năng là họ không tắm lâu, hay như họ có máy giặt hiệu quả hơn và ít hao nước hơn. Còn người Pháp rất có thể là họ ít nghiêm túc hơn trong việc tiêu thụ nước. »
Nghiên cứu đối chiếu này còn cho thấy thói quen sử dụng dược phẩm của cư dân giữa Paris và Berlin. Chẳng hạn, các nhà khoa học phát hiện nồng độ chất paracetamol trong nước thải ở Paris cao gấp 3 lần so với Berlin. Sự khác biệt này là ấn tượng này được Thomas P Knepper đưa ra nhận định : « Đây là một giả thuyết nhưng điều đó có thể được giải thích do việc loại thuốc này chỉ được cấp theo đơn tại Đức. Trong khi đó, ở Pháp chúng dược bán tự do. Chúng tôi cần phải đào sâu hơn khía cạnh thói quen sử dụng thuốc giảm đau. »
… Và là một công cụ điều tra tội phạm ?
Không chỉ cho thấy thói quen sinh hoạt, dùng dược phẩm, nghiên cứu nước thải còn cho thấy mức độ sử dụng các chất gây nghiện và phát hiện các tổ chức tội phạm. Qua các phân tích mẫu nước, các nhà khoa học Đức đã lập được một danh sách dài sự hiện diện các loại ma túy tổng hợp.
Nhà nghiên cứu Niklas Koke, đồng nghiên cứu với Thomas P Knepper, cho biết thêm : « Đối với loại thuốc phiện, không có sự khác biệt nào giữa Paris và Berlin. Ngược lại, nồng độ chất amphetamine tại Berlin lại cao hơn rất nhiều so với Paris. Những gì liên quan đến methamphetamine và MDMA, Berlin có nồng độ thấp hơn ».
Điều đó có nghĩa là chất gây nghiện lưu hành ở Paris và Berlin là giống nhau. Tuy nhiên, thuốc lắc (ecstasy) và hồng phiến (speed, amphetamin) lại hiện diện rộng rãi ở Berlin. Ghi nhận này được củng cố bởi một nghiên cứu đối chiếu về dư lượng chất thải lắng đọng trong nước qua sử dụng tại nhiều thành phố khác nhau và làng xã châu Âu. Theo đó, Berlin vượt xa Paris trong việc tiêu thụ thuốc lắc, xếp hạng tư chỉ sau Zurich, Utrecht và Amsterdam theo một nghiên cứu rộng lớn của Liên Hiệp Châu Âu.
Những khảo sát mẫu nước còn cho phép các nhà nghiên cứu phát hiện một loại thuốc phiện mới : Lidocain, thường được sử dụng như là một dạng thuốc tê ở nha sĩ, ngày càng được dùng phổ biến trong ngành giải trí, nhất là trong giới nhạc rap ở Đức. Điều này giải thích vì sao nồng độ chất lidocain thải ra ở Berlin cao gấp 50 lần so với với Paris.
Nhưng theo ARTE, việc phân tích các mẫu nước thải phần nào còn cho phép cảnh sát hình sự liên bang Đức xác định những xưởng bào chế thuốc phiện và chất nổ, theo như giải thích từMichael Puetz, Viện Khoa học Pháp lý, cảnh sát :« Điểm lợi lớn của nước thải là chúng có hướng, nghĩa là khi một loại hóa chất nào đó đi vào hệ thống cống rãnh, chúng tôi biết chính xác nơi chốn và lúc nào loại hóa chất này lại xuất hiện. »
Hàng tấn chất lỏng gặm mòn, nhiều loại trong số này là những chất cực kỳ độc hại, hệ quả của quá trình chế tạo ma túy tổng hợp. Những kẻ sản xuất thường đổ những chất thải này không xa các xưởng chế biến và thay đổi thường xuyên địa điểm. Nhờ vào các thông tin có được, các nhà điều tra có thể thâm nhập hệ thống cống rãnh, lấy mẫu nước tại bất kỳ điểm nào và truy lần dấu vết đến tận xưởng bào chế bí mật.
Nhưng các nhà nghiên cứu về tội phạm học ở Đức cũng nhìn nhận rằng ý tưởng thiết lập một hệ thống giám sát phòng ngừa tại các đường ống thoát nước để tìm kiếm các loại chất bất hợp pháp vẫn còn là chuyện « khoa học viễn tưởng » và về mặt xã hội, có thể sẽ là một đề tài gây nhiều tranh cãi.
Dẫu sao thì, nếu như đối với nhiều nhà khoa học, nước đã qua sử dụng là một mỏ vàng thông tin quý giá, thì với nhiều người khác, chúng còn là một bài toán hóc búa : Bất chấp những hệ thống xử lý nước thải hiện có, việc loại trừ hoàn toàn các loại hóa chất, chất cặn thuốc gây ô nhiễm môi trường là điều dường như khó thể. Khi tích lũy nhiều trong tự nhiên, những chất này có thể gây hại cho động vật, thậm chí cả cho nhân loại.
(Theo ARTE)
Wed, 02 Aug 2023 - 25 - Văn minh công nghiệp sụp đổ trong 15 năm tới ?
Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, những hậu quả kinh hoàng và khó lường do Trái đất bị hâm nóng vì khí thải gây hiệu ứng nhà kính, tốc độ diệt vong nhanh chóng của sinh giới, cũng như một loạt suy thoái môi trường ghê gớm khác là những thực tế khốc liệt ngày càng ít người không công nhận. Trái đất dường như sắp quá tải (Tạp chí phát lần đầu ngày 08/09/2016).
Nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đặt câu hỏi : Đâu là tương lai của nền văn minh công nghiệp, mô hình kinh tế trụ cột của nhân loại từ hơn hai thế kỷ nay ?
Về chủ đề này, chương trình tạp chí « C’est pas du vent» của RFI giới thiệu cuốn sách mới « Comment tout peut s’effondrer ?» (Mọi thứ có thể sụp đổ như thế nào ?) của hai nhà khoa học Pháp : Kỹ sư nông học Pablo Servigne, chuyên gia về nông nghiệp sinh thái và chuyển đổi hệ thống và nhà tư vấn kinh tế - sinh thái Raphael Stevens.
Cuốn « Comment tout peut s’effondrer ? », dày 206 trang, được viết với một văn phong kể chuyện hóm hỉnh, đầy hình ảnh, nhẹ nhõm và khá dễ hiểu, với các đúc kết được chắt lọc từ rất nhiều nghiên cứu cơ bản về lĩnh vực hệ trọng này, có thể trở thành cuốn sách gối đầu giường đối với nhiều bạn đọc Pháp ngữ. Ngay cả khi không đồng quan điểm với các tác giả, đọc sách này ắt hẳn cũng mang lại nhiều điều bổ ích.
Cỗ xe sắp hết xăng, rời chính lộ
Để nói về nguy cơ tan vỡ của nền văn minh công nghiệp, các tác giả đưa ra hình ảnh « chiếc xe hơi ». Vào đầu kỷ nguyên công nghiệp, chỉ một số ít quốc gia tham gia chuyến đi. Sau một giai đoạn khởi động từ từ, kể từ sau Thế chiến Hai, xe tăng tốc. Hiện nay, tốc độ xe đã lên đến cực điểm. Cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã có mặt trên xe. Sau một vài dấu hiệu động cơ gằn lại và tỏa khói, cây kim chỉ vận tốc run lên bần bật. Liệu xe tiếp tục bò lên ? Xe khựng lại ? Hay lao dốc ? (chương 1).
Theo các tác giả cuốn « Mọi thứ có thể sụp đổ như thế nào ? », chiếc xe chở nhân loại chúng ta đã rời khỏi trục đường chính, đang lao xuống thung lũng trên một lộ trình bất định, với đầy chướng ngại vật và tầm nhìn gần như bằng không. Một số hành khách trên chuyến xe hiểu rằng chiếc xe rất mong manh, nhưng người lái thì không nhận ra, và vẫn tiếp tục nhấn mạnh chân ga.
Theo hai nhà khoa học, một loạt các chỉ báo cho thấy khả năng tăng trưởng, được coi là « vô hạn » của nền kinh tế thế giới xét về mặt toán học, nay đều có thể nói đã «kịch trần » : về dân số, về GDP, về tiêu thụ các tài nguyên (nước, năng lượng…), sử dụng phân bón, khí thải gây hiệu ứng nhà kính…
Chiếc xe hơi chở các quốc gia công nghiệp đứng trước hai thách thức. Thứ nhất là động cơ của « chiếc xe hơi », tuy vẫn còn sung sức, nhưng lâm vào tình trạng « nhiên liệu » sắp cạn kiệt. Thứ hai là, tốc độ quá nhanh của xe khiến khả năng quan sát giảm mạnh và nguy cơ tai nạn gia tăng (chương 2).
Đọc thêm:Kinh tế Xanh : Giới đầu tư gây áp lực với G20Sau nhiều thế kỷ phát triển, chiếc xe hơi ngày càng hoàn thiện hơn, rộng rãi hơn, tiện nghi hơn, hiện đại hơn. Nhưng cái giá để trả cho «những thành tựu » này là quá lớn : Xe (dường như) đã bị cố định vào một hướng, chân ga bị cột lại, chỉ có thể tăng, chứ không thể giảm tốc. Việc điều chỉnh để thích nghi, tránh thảm họa, dường như là bất khả.
Trong phần một « Các dấu hiệu của sự sụp đổ», các tác giả nhấn mạnh một loạt yếu tố cho thấy nền kinh tế dựa trên năng lượng giá rẻ đang lùi vào quá khứ (1), trong khi hiệu suất của các năng lượng tái tạo mới được coi là không đủ. Mà một nền năng lượng giá rẻ chính là nền tảng của tăng trưởng. Bên cạnh đó, hệ thống tài chính, tín dụng – liên hệ mật thiết với hệ thống khai thác năng lượng hóa thạch – cũng đang trong tình trạng hụt hơi.
Cần một môn khoa học về sự sụp đổ
Trái đất nóng lên, phá hết kỷ lục này đến kỷ lục khác, các thiên tai diễn ra dồn dập, khó dự đoán hơn. Theo một nghiên cứu, được công bố trên tạp chí khoa học Nature năm 2009, được cập nhật năm 2015, có 9 ranh giới tuyệt đối cần thiết cho sự sống của con người trên hành tinh không thể bị xâm phạm. Mà, theo các tác giả cuốn sách về viễn cảnh sụp đổ, chỉ riêng việc xâm phạm các ngưỡng về Khí hậu và Đa dạng sinh thái đã đủ để đưa loài người vào thảm họa khôn lường (chương 3).
Tuy nhiên, theo các tác giả, mức độ «khủng hoảng » kinh tế-tài chính và khí hậu-sinh thái hết sức trầm trọng hiện nay đã không được giới cầm quyền chính trị và kinh tế nhận thức đúng mức. Viễn cảnh sụp đổ của toàn bộ nền văn minh công nghiệp và thậm chí của toàn bộ Hệ sinh thái – Hành tinh là điều còn ít người chấp nhận đối diện.
Ông Raphel Stevens tâm sự : « Chúng ta thiếu một môn khoa học về sự sụp đổ của ‘‘nền văn minh’’ của chúng ta, nền văn minh đương đại. Chúng tôi muốn xây dựng một môn khoa học liên ngành, tự trang bị cho mình những hiểu biết của nhiều bộ môn khoa học, để phân tích về những gì xảy ra với xã hội chúng ta ngày hôm nay. (…) Chúng tôi không lạc quan, cũng không bi quan, chúng tôi cũng không sáng tạo ra gì mới, mà chỉ tổng hợp lại các nghiên cứu khoa học từ ba, bốn, năm năm trở lại đây, khoảng 3.000 bài báo và 300 cuốn sách.
Có một khoảng cách rất lớn giữa các sản phẩm của giới khoa học và hiểu biết của công chúng bình thường, chúng tôi muốn lấp đầy khoảng trống này. Nỗ lực của chúng tôi là cập nhật các hiểu biết trong lĩnh vực sinh thái học ».
Mô hình dự báo-dấu hiệu dự báo-trực cảm
Ông Raphel Stevens giới thiệu một công cụ quan trọng của môn khoa học về sự sụp đổ : «Đó là các mô hình ‘‘Meadow’’ (2), mô hình ‘‘Handy’’. Các mô hình không trực tiếp dự báo tương lai, mà là công cụ để hình dung khả năng chuyển hóa của hệ thống… Chúng ta có hai mô hình tuyệt vời. Theo mô hình Handy (Human And Nature DYnamical), sự bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng về kinh tế, là các nhân tố dẫn đến sụp đổ. Xã hội càng bất bình đẳng, sẽ càng sớm sụp đổ, và điều này là chắc chắn. Mà trong xã hội chúng ta hiện nay, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, và điều này rất nguy hiểm. Điều này khiến xã hội chúng ta trở nên rất mong manh.
(…) Mô hình Meadow, ra đời vào năm 1972, là một mô hình rất vững chắc. Sau hơn 40 năm tồn tại, mô hình này vẫn chưa bị bác bỏ. Dựa trên việc phân tích các cuộc khủng hoảng trước đây, mô hình Meadow dự báo nền văn minh công nghiệp (nhiệt năng) của chúng ta sẽ sụp đổ trong nửa đầu thế kỷ XXI. Căn cứ vào các biểu đồ trong cuốn sách này, có thể thấy chúng ta đang đứng bên bờ vực của tiến trình.
Sau khi phỏng vấn Dennis Meadow, đồng tác giả mô hình này, vào năm 2011, tôi đã rơi vào trạng thái trầm cảm trong suốt hai tháng. Đó là điểm khởi đầu cho quyết định đi vào nghiên cứu này của chúng tôi».
Về các công cụ của môn khoa học mới, Raphel Stevens đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của trực giác :
« Đối diện với những biến cố hoàn toàn không thể dự báo, ông Nassim Nicholas Taleb triết gia/cựu giao dịch tài chính (trader) gọi đó là ‘‘những con thiên nga đen’’ (cygnes noirs) hay các biến cố hiếm khi xảy ra. Đây là những gì chúng ta không thể nhìn thấy được, nhưng chúng để lại những dấu ấn trong lịch sử. Về chuyện này, khoa học về xác suất, thống kê bất lực. Vì vậy, chúng ta cần đến trực giác. Chúng tôi tự nhủ : Chúng ta hãy tin tưởng vào trực giác của mình !
Về hiện tại, theo trực giác của chúng tôi, nền văn minh của chúng ta sẽ sụp đổ trong khoảng từ năm 2020 đến 2030. Sau khi đọc tất cả những nghiên cứu nói trên, chúng tôi hoàn toàn không còn nghĩ rằng thời hạn của sự sụp đổ sẽ bắt đầu vào 2050 hay 2100. Tuy nhiên, không có chứng cứ nào để xác nhận điều này.
Một công cụ khác của ngành dự báo là các dấu hiệu cảnh báo. Các chuyên gia về những hệ thống phức tạp biết rằng, trước khi một hệ thống sụp đổ, ngay trước khi đó, có những tiếng ồn rất đặc hiệu, của sự sụp đổ sẽ xảy ra. Các nhà khoa học tìm cách xác định những tiếng động ấy, để dự báo. Cách làm này rất hiệu quả đối với các hệ sinh thái, nhưng đối với lĩnh vực tài chính thì chưa được hoàn bị. (…) Năm 2012, 24 nhà khoa học công bố trên tạp chí Nature một nghiên cứu về các dấu hiệu báo trước về sự sụp đổ của hệ sinh thái trên Trái đất ».
Sự mù quáng của giới tinh hoa : Một nhân tố chính dẫn đến sụp đổ
Trong lịch sự của loài người, đã có nhiều nền văn minh suy tàn hay sụp đổ hoàn toàn, nhưng cũng có một số tái khởi động được trở lại. Chuyên gia về mối quan hệ giữa các xã hội con người và môi trường tự nhiên Mỹ Jared Diamond, tác giả cuốn sách nổi tiếng « Sự sụp đổ» (Collapse: How Societies Choose to Fail or Survive), cố gắng rút ra các bài học về sự sụp đổ từ các nền văn minh cổ đại (chương 9).
Theo ông, cho dù môi trường sinh thái thường là nhân tố quan trọng, đặc biệt trong sự lụi tàn của nhiều nền văn minh, như của người Maya châu Mỹ (thế kỷ IX), người Viking châu Âu (thế kỷ XI), nhân tố chung luôn có mặt trong mọi trường hợp sụp đổ, đó là bình diện « xã hội chính trị». Jared Diamond nhấn mạnh đến sự mù quáng của giới tinh hoa, như là một nhân tố chính dẫn đến sụp đổ. Các xã hội đã đưa ra những quyết định sai lầm trong bối cảnh khủng hoảng, do thiếu khả năng dự đoán.
Về lý do vì sao con người khó nhận ra, khó thừa nhận các thảm họa, cho dù không thiếu thông tin các tác giả đặc biệt chú ý đến những lý giải của nhà triết học Clive Hamilton (3) (chương 10). Trong đó một thực tế phổ biến, đó là ý thức của con người - kết quả của quá trình tiến hóa tự nhiên - vốn không được trang bị để nhận thức “các nguy hiểm mang tính hệ thống và dài hạn”, mà thiên về “đối phó với các đe dọa trực tiếp”. Người ta thường nêu ví dụ về con ếch chịu chết bỏng trong nồi nước mà không nhảy ra để minh họa cho hiện tượng này. (Chưa kể đến các tuyên truyền bóp méo sự thực, mà nhiều chuyên gia, nhà khoa học cũng là những người góp phần [4]).
Dự báo sụp đổ không đồng nghĩa với bi quan, tạp chí xin khép lại với một chia sẻ nhiều hy vọng của ông Pablo Servigne, chuyên gia về tính chất dẻo dai của các hệ thống xã hội – sinh thái :
« Chúng ta có những người nhận thức được vấn đề này, có những người không. Trong số những người hiểu ra, có người có được niềm tin, có người không tin.
Những người hiểu ra và có niềm tin, số này không nhiều, nhưng tôi tin rằng họ chuyển sang hành động. Chúng ta gọi họ là những người ‘‘transitionneur’’, những người tham gia vào quá trình chuyển hóa (hệ thống). Đó là những người ý thức được rằng một hệ thống như chúng ta biết đang sụp đổ, và một hệ thống mới đang nẩy sinh (5).
Điều rất quan trọng là cùng lúc nhận ra : Cái chết (của hệ thống cũ) và sự sinh thành (của cái mới) đang song hành diễn ra. Ngay từ đầu, cho dù không ý thức được hoàn toàn, khi nói đến sự sụp đổ, chúng tôi đã gợi ra cái thế giới đang sinh thành này.
Đây là một cơ hội để nhận ra những rào khóa ngăn cản chúng ta đi đến được một thế giới tốt đẹp hơn. Vì thế, sự sụp đổ có thể coi như một cơ hội, như một sự cởi trói rộng khắp. Để mô tả điều này, tôi sử dụng hình cái cây cổ thụ trong rừng. Cây sồi khổng lồ - xã hội công nghiệp của chúng ta – sụp đổ, chính nhờ sự sụp đổ đó, mà những mầm cây bên dưới có thể vươn lên tìm đến ánh sáng».
Hàng triệu mầm non đang trỗi dậy
Nhà sinh thái học Pháp nhấn mạnh : « Chỉ cần mang lấy cặp kính với cái nhìn dự báo về sụp đổ, có thể thấy khắp nơi trên thế giới hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu những mầm non đang trỗi dậy, từ các sáng kiến nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp cộng sinh với thiên nhiên, đến nền kinh tế - đoàn kết, các đồng tiền địa phương… Chỉ cần xem bộ phim tài liệu ‘‘Demain/Ngày mai’’ (6), cùng với cuốn sách giới thiệu về phim, đã nhận được sự hưởng ứng như thế nào của công chúng, có thể thấy rất nhiều mầm non, đầy sáng tạo, đầy nhiệt huyết. Thực sự là một phong trào toàn cầu, thực sự mang lại niềm phấn khích.
Tuy nhiên, chúng tôi muốn nhấn mạnh là, điều đó không có nghĩa là phong trào đã thành công.
Điều cơ bản, được thể hiện rất rõ trong cuốn sách là, cho dù có những mầm non như vậy, sự sụp đổ là chắc chắn.
Những mầm non như vậy không phải là các giải pháp. Đó là những con đường cần phải theo, để có thể chống chèo nhằm vượt qua quá trình sụp đổ. Sự sụp đổ là không thể tránh khỏi. Chính bởi vì chấp nhận thực tại sụp đổ, mà chúng ta đến được với những mầm non ấy, nâng niu chúng, tài trợ cho chúng, nhân rộng chúng ra (7). Để đi về phía trước ».
***
Được ấn hành năm 2015, không lâu trước Thượng đỉnh COP 21 về khí hậu tại Paris, cuốn “Mọi thứ có thể sụp đổ như thế nào?” đã vang lên như một lời báo động vô cùng khẩn thiết.
Toàn thể các quốc gia trên hành tinh rốt cục đã tìm được một đồng thuận tối thiểu về nguyên tắc, để cùng nhau hướng đến một thế giới nhiệt độ không tăng quá 2°C, thậm chí dưới 1,5°C. Nhưng vấn đề là : Liệu các cam kết về nguyên tắc nói trên trong lĩnh vực này, cũng như các lĩnh vực cơ bản khác, có chuyển được thành hành động đủ nhanh và đủ mạnh, để kịp thời giảm thiểu những hậu quả tàn khốc do phát triển mù quáng bất chấp môi trường – sinh thái, trước khi những thay đổi đạt đến cái ngưỡng không thể vãn hồi ?
____
(1) Nếu như, vào đầu thế kỷ XX, khai thác dầu mỏ mang lại siêu lợi nhuận (trung bình bỏ một lãi 100), thì hiện nay hiệu suất đầu tư năng lượng giảm xuống chỉ còn 1 : 10 đến 1 : 20 đối với dầu mỏ quy ước, và 1 : 2 và 1 : 4 đối với dầu cát, hay 1 : 5 đối với dầu đá phiến. Ngoại trừ thủy điện (đã phát triển gần tới ngưỡng, và không kể đến các tác hại ghê gớm về môi trường), nhiều loại hình được coi là tái tạo khác cũng phải cần rất nhiều sự hỗ trợ của chính các loại năng lượng hóa thạch và hiệu suất cũng không cao. Từ 1 : 2,5 đối với năng lượng mặt trời, đến 1 : 18 với năng lượng gió (với những tính chất bất lợi của loại hình năng lượng này, như không ổn định và khó tích trữ) (trang 35).
(2) Mô hình Meadow trong “Báo cáo của câu lạc bộ Roma” (được công bố năm 1972), dự đoán nền văn minh công nghiệp sẽ sụp đổ vào khoảng từ 2015 đến 2025. Báo cáo Roma đưa ra nhiều khuyến cáo để ngăn ngừa viễn cảnh này. Theo mô hình Meadow, được cập nhật năm 2004, còn một chút cơ may cho khả năng thoát khỏi sụp đổ, với ba điều kiện :
a - Dân số tối đa là 7,5 tỷ năm 2040 (giảm 0,5 tỷ so với dự kiến) ; b - ổn định phát triển công nghiệp ở mức chỉ tăng 10% so với năm 2000, và phân phối công bằng các thành tựu phát triển ; c – giảm mức độ suy thoái của đất đai, cùng lúc với tăng hiệu suất nông nghiệp.
(3) Trong cuốn « Requiem for a Species: Why We Resist the Truth about Climate Change / Chuông nguyện hồn chúng sinh : Vì sao chúng ta chối bỏ sự thật về biến đổi khí hậu».
(4) Chiến lược xóa tan những nghi ngờ về tính độc hại đã các ngành công nghiệp thuốc lá, a-mi-ăng, thuốc trừ sâu…. áp dụng thành công trong suốt nhiều thập kỷ. Trước COP 21 tại Paris, rất nhiều thượng đỉnh về khí hậu đã rơi vào thất bại một phần cũng do các tuyên truyền reo rắc hoài nghi, được nhiều nhà khoa học tiếp tay.
(5) Đối lập với những « Transitionneur» là những người « Survivaliste/Prepper », chủ trương thân ai nấy lo. Bộ phim Úc nổi tiếng Mad Max, của đạo diễn George Miller, mô tả cuộc chiến tàn khốc của ngày tận thế với cuộc đại khủng hoảng dầu mỏ.
(6) Bộ phim Demain, với tiểu tựa ‘‘Un nouveau monde en marche/Một thế giới mới đang ra đời’’, được phát hành tại 27 quốc gia. Riêng tại Pháp, phim thu hút hơn 1 triệu khán giả, một hiện tượng hiếm có với phim tài liệu.
(7) Các tác giả cuốn sách đặc biệt chú ý đến đóng góp của Phong trào đô thị chuyển hóa - Transition towns, khởi sự từ thị trấn Totnes nước Anh năm 2006, với nhà nông học Rob Hopskin, nay đã lan tỏa ra hàng chục quốc gia.
Các nhạc phẩm giới thiệu trong tạp chí
* Khúc dạo đầu vở nhạc kịch rock «Le monde est stone/Một thế giới chai cứng ». Soạn nhạc : Michel Berger (1978)
* Ca khúc «Objectif Terre » (Hành tinh khóc) của Ridan (2007)
* Ca khúc «Merci ma planète/Xin cảm ơn Trái Đất » của Dominique Dimey (2008)
Wed, 22 Apr 2020 - 24 - Andre Brahic, người đưa công chúng đến với trời sao
Các đêm từ ngày 6 đến ngày 8/8/2016, tại hàng trăm địa điểm ở Pháp, đã diễn ra một hoạt động đặc biệt. Ngắm nhìn bầu trời sao với sự hỗ trợ của các phương tiện thiên văn, cùng các chuyên gia. Đây là năm thứ 26 ''đêm các vì sao'' (Nuit des étoiles). ''Đêm các vì sao'' năm nay tôn vinh nhà thiên văn học Andre Brahic, một chuyên gia nổi tiếng thế giới về Hệ Mặt trời, người truyền bá không mệt mỏi tình yêu thiên văn, khao khát khám phá các chân trời xa xôi.
Andre Brahic sinh năm 1942 tại Paris, trong một gia đình khiêm tốn. Được sớm nhập môn vào ngành vật lý thiên văn bởi chính Evry Schatzman, cha đẻ môn khoa học này tại Pháp, Andre Brahic sau đó đã có cơ hội được tham gia vào cuộc thám hiểm Hệ Mặt trời, thông qua phi thuyền Voyager trong những năm 1980. Cùng với nhà thiên văn Mỹ William Hubbard, Andre Brahic đã phát hiện ra vành đai của Hải Vương Tinh, hành tinh xa xôi nhất trong Hệ mặt trời, gấp 30 lần khoảng cách giữa Mặt trời và Trái đất.
Andre Brahic là một trong số không nhiều chuyên gia lớn đặc biệt quan tâm đến việc phổ biến các hiểu biết chuyên môn cho công chúng rộng rãi. Ông là tác giả năm cuốn sách phổ biến khoa học, trong đó có cuốn « Những đứa con của Mặt trời» (1999) và « Những trái đất xa xăm. Phải chăng chúng ta chỉ có một mình trong vũ trụ ? » (2015).
Nhà vật lý thiên văn Andre Brahic vừa qua đời hôm 15/05/2016. Vào thời điểm đó, trả lời đài Europe 1, kỹ sư Jean-François Clervoy, nhà du hành vũ trụ làm việc cho Cơ quan Không gian Châu Âu (ESA) đã thốt lên : « Tôi coi ông như một vị anh hùng của thế giới các vì sao. Đó là một con người kỳ lạ, xuất chúng, một nhà kể chuyện hấp dẫn, người mang lại cho tất cả những ai từng nghe ông, khao khát trở thành nhà vật lý thiên văn. Tôi không thể nào tin được ông ấy đã ra đi».
Ngay sau khi Andre Brahic qua đời, chương trình « Autour de la question» của RFI đã thực hiện một tạp chí truyền thanh, giới thiệu lại với thính giả một số trích đoạn phỏng vấn mà nhà thiên văn đã dành cho đài trước đây. Trước hết, mời quý vị nghe lại tiếng nói của Andre Brahic về một kỷ niệm vô cùng đặc biệt trong cuộc đời ông.
Vẻ đẹp và ý nghĩa của vũ trụ
« Tôi có một kinh nghiệm tuyệt vời. Đó là vào năm 2006, khi tôi đi tìm hiểu về nhật thực ở giữa sa mạc Teneray, nằm ở phía bắc nước Niger. Đây là một nơi hoàn toàn không có ánh sáng (vào ban đêm). Tôi vốn có thói quen qua đêm tại một khách sạn thường là có « nhiều sao », tôi là nhà thiên văn mà. Nhưng lần này, tôi đã trải qua một đêm dưới vòm trời sao. Đêm đó là một đêm vô cùng xúc động trong cuộc đời tôi.
Tôi muốn truyền lại cho mọi người một lời khuyên như sau. Hãy tới một nơi hoàn toàn không có ánh sáng, cách xa các nguồn sáng gần nhất vài chục cây số. Bởi vì một ngọn nến nhỏ cách xa vài cây số là đã sáng hơn những gì trên trời. Cần làm sao để mắt bạn quen với màn đêm đen như mực.
Vào một đêm không trăng như thế, ta sẽ không còn thấy mặt đất. Ta sẽ chỉ thấy bầu trời. Hay nói một cách khác, ta bập bồng trong không gian. Chính vào lúc đó mà tôi thấu hiểu cái xúc cảm dấy lên trong lòng tổ tiên chúng ta cách nay hai, ba nghìn năm.
Họ đã tự hỏi : Ta là ai ? Từ đâu ta đến ? Chúng ta đi về đâu ? Liệu có những người ngoài Trái đất không ?...
Những câu hỏi sâu xa mà mỗi cộng đồng người, từ Polynésie, Eskimo, từ châu Phi, đến châu Á, đều đưa ra câu trả lời riêng của mình.
Biết bao chuyện kể, huyền thoại, triết học, đã ra đời, khi con người ngước nhìn lên bầu trời trong đêm tối, không bị ánh sáng làm ô nhiễm.
Một đêm như vậy chắc chắn sẽ làm thay đổi cuộc đời bạn.
Hai phản ứng chắc chắn sẽ đến : Vẻ đẹp của vũ trụ khiến ta sững sờ và rất nhiều câu hỏi kích thích trí tò mò của ta.
Và đối với những ai đi xa hơn, đó là những vấn đề lớn. Mà chúng ta biết rằng các vấn đề lớn đó chính là cuộc chiến chống lại sự ngu tối, mà hiện nay đang có xu hướng xâm chiếm thế giới chúng ta. Chính trong cuộc chiến đó mà tri thức ra đời. Điều đó còn xa hơn cả vẻ đẹp của bầu trời.
Nhưng hãy nhìn lên bầu trời mà xem. Nó thật tuyệt vời. Khi có trăng, bạn hãy cầm lấy ống kính. Nhìn vào khoảng ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối, bạn sẽ có cảm giác như đang bay lượn trên Mặt trăng. Đấy cũng là một cảnh tượng thật tuyệt vời nữa ».
Mỗi hành tinh có một đời sống riêng
Nhà thiên văn Andre Brahic cho biết, khi ông còn là học sinh, ở trường học, người ta dạy rằng các hành tinh trong Hệ Mặt trời cũng khá giống với Trái đất. Ông đã từng chờ đợi các hành tinh xa xôi khác cũng có những vệ tinh tương tự như Mặt trăng của Trái đất. Nhưng sau đó, ông dần dần hiểu ra một điều khác hẳn. Đó là mỗi hành tinh có một « đời sống » hoàn toàn khác biệt. Khát khao tìm hiểu về « đời sống » của mỗi hành tinh đã thúc đẩy Andre Brahic suốt cuộc đời.
Là người đồng phát hiện ra vành đai của hành tinh khổng lồ Hải Vương, hành tinh thứ 8 và là hành tinh xa nhất của Hệ Mặt trời, Andre Brahic giải thích một cách tóm tắt với thính giả về cơ chế nào đã tạo nên vành đai rất đặc biệt này.
« Có một hiệu ứng giống như thủy triều lên. Có nghĩa là, nếu như bạn đặt một vệ tinh vào một quỹ đạo xung quanh Hải Vương. Vào một thời điểm nhất định, điểm gần nhất và điểm xa nhất của vật thể này sẽ bị kéo giãn ra. Giãn đến mức, nó bị vỡ thành nhiều mảnh. Hay nói một cách khác, ở vào một khoảng cách gần hành tinh, sẽ không có vệ tinh nào tồn tại nổi. Ví dụ như, nếu xích gần Mặt trăng, ở khoảng cách 384.000 km lại gần Trái đất ở khoảng cách 180.000 km, thì Mặt trăng sẽ vỡ tan.
Các mảnh vỡ rải rác khắp trong không gian, khi chuyển động sẽ va chạm vào nhau. Khi va đập, chúng sẽ mất năng lượng, và vì vậy chúng bị hút vào vùng tâm của hành tinh. Nhưng vì chúng va đập vào nhau theo chiều song song với quỹ đạo hành tinh, nên rốt cục các mảnh vỡ bị dàn mỏng lại thành các vành đai, hơn là co cụm lại ».
Bốn lợi ích của nghiên cứu vũ trụ
Nghiên cứu vũ trụ là một nỗ lực đòi hỏi rất nhiều đầu tư, hết sức tốn kém. Vậy tại sao nhiều xã hội lại chọn con đường hết sức phiêu lưu này ?
« Nghiên cứu vũ trụ có ba ích lợi. Thứ nhất về mặt văn hóa. Ta sẽ trở nên thông minh hơn, với những hiểu biết về nhiều điều hết sức thú vị. Thứ hai là hiểu biết về vũ trụ giúp giải quyết cả vấn đề thất nghiệp. Bởi vì các động cơ du hành vũ trụ đòi hỏi độ tin cậy rất cao. Không có bất cứ sai sót nào được phép. Bởi nếu một trục trặc nhỏ như một miếng hàn long ra, thì sẽ không thể có một xưởng sửa chữa nào trên vũ trụ để giúp giải quyết.
Ý nghĩa thứ ba là hiểu biết về vũ trụ cho phép hiểu hơn về Trái đất. Những hiện tượng tự nhiên dữ dội trên Trái đất như núi lửa, động đất, bão tố, ô nhiễm… không dễ dự đoán trước chúng sẽ diễn ra lúc nào, biến đổi như thế nào.
Nghiên cứu Trái đất, giống như đối với vật thể khác mà các nhà vật lý – các nhà hóa học nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Trái đất phải được cắt ra làm hai, làm ba. Phải nhào nặn nó, để xem các phản ứng của nó.
May mắn thay đối với chúng ta, là Trái đất không bị đưa vào các thí nghiệm như vậy !
Mà thật ra điều này không cần thiết. Bởi vì chúng ta có thể nghiên cứu Diêm Vương Tinh, Hải Vương Tinh và các hành tinh khác. Chúng ta quan sát thấy các vật thể kích cỡ to nhỏ khác nhau, đặc lỏng khác nhau. Từ đó, chúng ta có thể hiểu được vai trò của từng nhân tố một, từ khối lượng, cho đến nhiệt độ, độ đặc, thành phần hóa học… Từ đó mà ta hiểu rõ hơn về Trái đất.
Tôi có tóm tắt điều này lại bằng một điều như sau. Khi mà trong cuộc sống chúng ta gặp phải một vấn đề, thì không phải bằng cách chúi đầu vào góc đó mà chúng ta có thể giải quyết được. Mà ta cần phải có một độ lùi.
Mà lấy một độ lùi chính là nghiên cứu thiên văn học (Đây có thể nói là lợi ích thứ tư của thiên văn học- người viết bổ sung) ».
Ba giai đoạn của thiên văn học
Nhà thiên văn học là người có tư duy rất gần với triết học. Để nghiên cứu về thế giới của những bầu trời sao xa xôi con người không thể không đặt ra những vấn đề tối hậu. Nhưng khác với các thế hệ tiền bối, các xã hội hiện nay đã và đang có trong tay những phương tiện kỹ thuật tối tân. Andre Brahic điểm lại toàn bộ sự phát triển của thiên văn học qua ba giai đoạn :
« Lịch sử thiên văn học có thể chia thành ba giai đoạn chính. Người Hy Lạp thời cổ đã phát hiện ra tư duy nhân quả, nhưng họ đã bỏ qua việc quan sát. Đó là điều đáng tiếc.
Thời Trung cổ, vấn đề quan sát đã được đặt trở lại. Sự phục hưng của khoa thiên văn học diễn ra từ 1540 đến khoảng 1670, với các nhà thiên văn tiêu biểu như Copernic, Galilê, Kepler, Newton. Các nhà thiên văn giai đoạn này đã sáng tạo ra phương pháp khoa học. Cụ thể là vừa quan sát, vừa tìm cách giải thích. Bởi vì giải thích mà không quan sát thì dẫn đến chuyện nguy hiểm là giải thích bừa bãi. Ngược lại, nếu chỉ quan sát thôi, thì không mang lại lợi ích gì. Phương pháp khoa học này khiến châu Âu có tiến hơn một chút so với Trung Quốc, Ấn Độ hay thế giới Ả Rập.
Giai đoạn thứ ba của ngành thiên văn học là giai đoạn hiện nay, khi con người bay vào không gian. Chúng ta đã phát hiện ra nhiều điều. Một kỷ nguyên mới đang mở ra ».
Cơ hội tìm ra nguồn gốc sự sống
Dù nghiên cứu về khía cạnh nào, về chân trời nào của vũ trụ, thì câu hỏi về nguồn gốc của sự sống trên quê hương Trái đất vẫn là điều ám ảnh thường xuyên nhà thiên văn.
« Có ba điều kiện để sự sống có thể ra đời. Thứ nhất là nước, thứ hai là có hóa chất hữu cơ, tức vật chất phức tạp, và thứ ba là năng lượng. Chúng ta thấy, các điều kiện đã có dưới bề mặt của một số vệ tinh của Diêm Vương Tinh như Europa, Ganymede và Callisto, của Hải Vương như Triton, của Thổ Tinh như Titan. Các yếu tố của sự sống có mặt ở khắp nơi.
Điều đó có nghĩa là chúng ta đã có thể tìm ở đó những thông tin giúp cho việc trả lời cho câu hỏi : Làm thế nào mà thế giới sỏi đá vô tri có thể biến thành sự sống, thành thế giới sinh vật, trước khi có loài người ?
… Chúng ta thật là may mắn được sống trong kỷ nguyên hiện tại. Điều này không thể có cách nay 2000 năm. Trong các sách sử của 3.000 năm sau nữa, người ta sẽ ghi nhận là những phát hiện quyết định đã diễn ra trong hai thế kỷ 20 và 21. Những người thời ấy thật may mắn làm sao !
Thật là đáng tiếc khi báo chí đương thời chúng ta lại hết sức ủ rũ, trong khi tình hình thực ra lại rất tốt ?! ».
Đầu tư cho thiên văn - đầu tư cho tiến bộ
Khát vọng hướng đến bầu trời cao, Andre Brahic cũng hiểu rằng những nghiên cứu về sao trời không tách khỏi cuộc chiến vì tiến bộ, văn minh trên chính hành tinh của chúng ta. Năm 1989, ông đã chọn ba cái tên « Tự do », « Bình đẳng », « Bác ái » để đặt tên cho ba vòng sáng của vành đai hành tinh Hải Vương mà ông phát hiện. Đối với Andre Brahic, năm 1989 vô cùng đáng nhớ cũng bởi hai sự kiện đặc biệt : Bức tường Berlin sụp đổ và vụ thảm sát các sinh viên đòi Dân chủ trên Quảng trường Thiên An Môn Bắc Kinh.
Andre Brahic rất bất bình vì các quốc gia trên hành tinh chạy đua vũ trang, và làm nhiều thứ vô ích, nguy hiểm khác, trong khi đó số tiền đáng được dùng cho việc phát triển nghiên cứu khoa học, trong đó có thiên văn, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả hơn nhiều.
Suốt đời mình, Andre Brahic vun trồng hai phẩm chất mà ông cho là quan trọng nhất đối với một nhà khoa học. Đó là sự hoài nghi và tính khiêm nhường.
Andre Brahic ước ao đó cũng là các phẩm chất đáng mong muốn của những nhà chính trị. Chính là nhờ những sai lầm không tránh khỏi và sự dũng cảm nhìn nhận chúng, mà khoa học tiến lên.
Tên của Andre Brahic được đặt cho thiên thạch số 3488 nằm ở vành đai của Hệ Mặt trời vào năm 1990. Nhiều người yêu thiên văn khi ngước nhìn lên trời, tin rằng Andre Brahic đã trở về với thế giới các vì sao.
Wed, 08 Apr 2020 - 23 - Thế giới sẽ ra sao nếu không còn loài ong ?
Loài ong đã sống trên Trái đất từ 100 triệu năm nay. Loài vật này quen thuộc đến mức hầu như ai cũng nghĩ rằng chúng sẽ sống mãi mãi. Thế nhưng, ngày càng có nhiều nhà khoa học lên tiếng báo động về tình trạng suy thoái, thậm chí nguy cơ tuyệt chủng của loài ong và, nếu đúng như thế, đây sẽ là một thảm họa đối với nhân loại. Hành tinh của chúng ta sẽ ra sao nếu không có loài ong ? Hôm nay chúng ta sẽ nghe ý kiến của hai nhà nghiên cứu Pháp Yves Le Conte và Lionel Garnery, trả lời RFI Pháp ngữ vào đầu tháng 4/2018.
(Tạp chí phát lần đầu tiên ngày 27/06/2018)
Yves Le Conte hiện là giám đốc nghiên cứu của Viện Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp INRA, chi nhánh Avignon và cũng là giám đốc Đơn vị nghiên cứu về ong và môi trường, tác giả một cuốn sách về bảo vệ loài ong, vừa được xuất bản tại Pháp. Còn Lionel Garnery là nhà nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học CNRS, giáo sư Đại học Versailles Saint-Quentin-en-Yvelines, đồng thời là chuyên gia di truyền học của loài ong đen.
Ong là loài côn trùng có tổ chức xã hội cao như kiến, mối. Chúng sống theo đàn, trong thiên nhiên hay trong các tổ ong nhân tạo. Mỗi đàn đều có ong chúa, ong thợ, ong non... và có sự phân công công việc, chặt chẽ, rõ ràng. Ong được con người nuôi để khai thác sản phẩm như mật ong, sáp ong, sữa ong chúa,...
Nhưng loài ong cũng có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái vì chúng tham gia vào việc thụ phấn cho các loài thực vật, như các loại côn trùng khác, nếu không muốn nói là có vai trò quan trọng nhất.
Thế mà, từ vài năm nay, số phận của loài ong gây lo ngại ngày càng nhiều, với tỷ lệ tử vong lên tới từ 30 đến 35%, thậm chí lên tới 50% vào mùa đông. Đến mức mà các nhà khoa học lo ngại cho sự tồn vong của loài côn trùng này.
Vậy những nguyên nhân gì khiến loài ong có nguy cơ bị tận diệt như vậy ? Nhà nghiên cứu Yves Le Conte giải thích :
"Nguyên nhân quan trọng nhất là những thay đổi của môi trường chung quanh những con ong. Nền nông nghiệp ngày càng mang tính thâm canh, khiến cho không gian của loài ong ngày càng bị thu hẹp. Tiếp đến là việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, cho dù giới nuôi ong đã quyết liệt chống. Các nhà khoa học chúng tôi nay đều nhận thấy rằng thế hệ thuốc trừ sâu mới đang gây tác hại vô cùng nặng nề cho sự tồn vong của loài ong, như chất neonicotinoide. Những chất này không giết ngay, mà giết từ từ những con ong. Bây giờ, giới chính trị, các hiệp hội phải nỗ lực vận động để hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp".
Một yếu tố khác đe dọa đến loài ong là những vật ký sinh, như Varroa destructor, theo lời ông Le Conte :
"Varroa destructor là một loại acari, giống như một con cua nhỏ biết hút máu. Trong một đàn ong có thể có hàng ngàn varroa destructor, chúng sinh sôi nảy nở và cuối cùng tiêu diệt cả đàn ong. Hiện nay chúng ta có thể dùng hóa chất để chống varroa, hoặc là hóa chất tổng hợp, hoặc là những hợp chất mang tính hữu cơ (bio) hơn, nhưng nếu không chữa trị đàn ong thì chúng cũng sẽ chết. Có thể là về ngắn hạn thì không được, nhưng về dài hạn thì phải làm sao mà chúng ta có thể chọn lọc được những con ong có thể kháng cự những vật ký sinh như varroa".
Nhưng theo lời nhà nghiên cứu Lionel Garnery, nguy cơ bị tận diệt của loài ong là do tổng hợp nhiều yếu tố :
"Chúng ta đã nói về hai nguyên nhân quan trọng nhất, nhưng nếu tách riêng ra thì hai nguyên nhân này không thể giải thích được sự tiêu hao của loài ong. Đúng hơn đó là do sự phối hợp của nhiều yếu tố. Đầu tiên dĩ nhiên đó là những loài ký sinh như varroa, nhưng thật ra varroa chỉ là vật chủ trung gian mang virus. Tức là có rất nhiều nhân tố lây nhiễm đe dọa loài ong.
Nguyên nhân cũng là do tác động của con người lên cây trồng với quy mô lớn, đất canh tác không còn đa dạng về môi trường, tức là không còn đa dạng về phấn hoa, hậu quả là nguồn protein, nguồn vitamin cho loài ong giảm đi, khiến chúng không còn đủ khả năng để kháng cự lại những nhân tố tác hại khác.
Như vậy, chính sự tổng hợp của toàn bộ nhân tố khiến cho loài ong bị tiêu hao nhiều như vậy. Biến đổi khi hậu cũng là một trong những nhân tố đó. Yếu tố này khiến loài ong bị rối loạn, người nuôi ong cũng vậy, vì họ phải thay đổi cách nuôi. Riêng tôi thì chủ trương một cách nuôi mang tính thiên nhiên nhiều hơn, tức là làm sao cho các đàn ong dần dần tự thích ứng với những nhân tố đó, qua việc để cho tiến trình chọn lọc tự nhiên tác động nhiều hơn".
Để chống những loài ký sinh, ta cũng có thể tuyển chọn những con ong gọi là "ong vệ sinh", theo giải thích của nhà nghiên cứu Le Conte :
"Giống ong "vệ sinh" có thể tự bảo vệ chống varroa, một loại acari sống ký sinh, vẫn là hiểm họa số một của ong. Ong "vệ sinh" là những "nữ công nhân" có khả năng phát hiện những lỗ tổ ong đang bị varroa sống bám vào, rồi móc sạch lỗ tổ ong đó, để ngăn chận varroa gây tổn hại cho ong. Tại Viện Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp, chúng tôi nghiên cứu rất nhiều về đặc tính đó của giống ong "vệ sinh". Chúng tôi muốn đề nghị cho những người nuôi ong một phương pháp đơn giản để giúp họ kiểm tra xem các lỗ tổ ong có "vệ sinh" không và tăng cường khả năng chống varroa của các tổ ong".
Tuy rằng loài ong sống rất thọ, tức là trên nguyên tắc khó bị tận diệt, nhưng theo nhà nghiên cứu Garnery, vấn đề chính là nằm ở tác động con người :
"Vấn đề là sự chuyển biến của xã hội con người, là tác động của con người lên đa dạng sinh thái. Cho dù có biến đổi khí hậu, nếu chúng ta cứ để cho thiên nhiên tự tác động, thì cũng sẽ có những con ong sống sót. Chúng đã từng sống sót qua nhiều thời kỳ băng hà ở châu Âu. Vấn đề ở chỗ loài ong có nhiều lợi ích kinh tế, nên bị con người chi phối. Nếu con người cản trở khả năng kháng cự tự nhiên của loài ong, nguy cơ tận diệt của chúng sẽ lớn hơn".
Về phần nhà nghiên cứu Le Conte, ông cảnh báo về việc một số người dự tính những phương cách để thay thế những vai trò loài ong, như thể họ nghĩ rằng sự diệt vong của loài côn trùng này là điều khó tránh khỏi :
"Tôi có biết được thông tin rằng, nhất là tại Hoa Kỳ, một số nhà nghiên cứu dự định sử dụng các "máy bay không người lái" bằng ong, một loại "ong robot" để sau này có thể thay thế cho những con ong thật. Nghe qua có vẻ thú vị, nhưng về mặt công nghệ, đây là một dự án không tưởng và điều này cũng cho thấy là con người quá tự mãn.
Suy cho cùng, chúng ta đang cần và vẫn sẽ cần đến loài ong. Có những loài cây trái cần đến ong để thụ phấn. Nếu loài ong mất, đi chúng ta sẽ gặp nhiều vấn đề về canh tác, về sản xuất thực phẩm cho chúng ta.
Mặt khác, có một điều chưa ai nói đến, đó là trong thiên nhiên có rất nhiều loài cây cỏ sống hoàn toàn cần đến loài ong trong việc thụ phấn. Nếu chúng ta loại trừ một giống ong nào chuyên giúp thu phấn cho một loại cây nào đó, thì cây đó sẽ chết".
Theo nhà nghiên cứu Le Conte, hậu quả của sự diệt vong của loài ong không chỉ rất nặng nề về mặt thực phẩm, mà sự diệt vong này còn là biểu tượng của sự suy thoái một trường nghiêm trọng:
"Tôi nghĩ là chúng ta sẽ không chết đói vì có rất nhiều loại cây trái không cần đến loài côn trùng để thụ phấn, mà chỉ cần có gió, nhưng chắc chắn là nếu không còn loài ong, chúng ta sẽ mất đi một số loại rau quả và điều này rõ ràng là sẽ gây nhiều khó khăn cho nhân loại.
Đây là một tín hiệu báo động rằng chúng ta phải ngăn chận nguy cơ, vì nếu con người lại có thể phá hủy những thứ đó, thế giới coi như tiêu tùng. Cần phải xem sự tồn tại của loài ong như là một cái ngưỡng không nên vượt qua, mà trái lại phải tìm đủ mọi cách để bảo vệ chúng. Bảo vệ loài ong có nghĩa là bảo vệ môi trường chung quanh chúng ta, bởi vì chúng ta cũng đang ăn những thứ có thuốc trừ sâu, hít thở không khí nhiễm thuốc trừ sâu. Chúng ta phải ngăn chận nguy cơ đó".
Wed, 01 Apr 2020 - 22 - Chloroquine: “Thần dược” trị Covid-19?
Dịch virus corona chủng mới tiếp tục lan rộng trên khắp hành tinh cướp đi hàng chục ngàn sinh mạng và làm hàng trăm ngàn người nhiễm bệnh. Hơn 1/3 dân số thế giới phải « tự giam lỏng » trong nhà để kềm hãm đà lây lan dịch bệnh. Trong hành trình tìm kiếm một « thần dược » để trị virus corona mới này, một loại thuốc đang làm dấy lên một cuộc tranh cãi gay gắt : Sử dụng các loại thuốc có chứa Chloroquine.
Được chiết xuất từ vỏ cây Chinchona ofcinalis ở Peru, chloroquine xuất hiện trên thị trường dược phẩm của Pháp từ năm 1949 dưới tên gọi Nivaquine, sau này là Plaquenil do hãng dược Sanofi bào chế. Thế nhưng, tranh luận bùng nổ khi giáo sư Didier Raoult, lãnh đạo Viện Nhiễm trùng học Địa Trung Hải ở Marseille, dựa vào các nghiên cứu của Trung Quốc và một số thử nghiệm lâm sàng tại viện của ông, khẳng định rằng chloroquine có thể chữa trị bệnh nhiễm virus corona. Vị bác sĩ có uy tín tại Pháp cũng như trên thế giới còn đi xa hơn khi đề xuất cho sử dụng đại trà trong việc điều trị cho các bệnh nhân nhiễm virus này.
Tuyên bố này của ông đã gây chia rẽ giới khoa học phương Tây. Một số bệnh viện Pháp cho rằng sẽ sử dụng thuốc này nhưng số khác thì tỏ ra dè dặt, vì nghiên cứu chỉ mới thực hiện trên một số ít nạn nhân (trên thực tế là 24 người), do vậy khó đánh giá được hiệu quả thật sự của thuốc.
Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình cấp bách, Hội đồng cấp cao y tế công cộng khuyến nghị chỉ nên dùng chloroquine đối với những ca nghiêm trọng, trong khi chờ đợi kết quả thử nghiệm lâm sàng trên diện rộng tại châu Âu với sự tham gia của 8 nước. Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) khuyến cáo cẩn trọng trước một « hy vọng giả tạo », trong khi tổng thống Mỹ Donald Trump tỏ ra hồ hởi, tuyên bố có thể cho sử dụng chloroquine để trị virus corona, bất chấp thái độ dè dặt của giới chức y tế Mỹ.
Vì sao chloroquine lại làm dấy lên nhiều tranh luận như vậy ? Vậy chloroquine là thuốc gì ? Tác dụng thật sự của thuốc ra sao trong việc điều trị virus corona mới ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với bác sĩ Trương Hữu Khanh, trưởng khoa Nhiễm bệnh viện Nhi đồng 1, thành phố Hồ Chí Minh.
*****
RFI : Kính chào bác sĩ Trương Hữu Khanh. Trước hết, bác sĩ có thể cho biết tác dụng thật sự của chloroquine là gì ?
BS. Trương Hữu Khanh: « Thật ra thuốc chloroquine này là một loại thuốc kinh điển, trong ngành y khoa đã dùng từ lâu. Đó là một loại thuốc để điều trị bệnh sốt rét, vốn là một loại ký sinh trùng có thể lây trung gian từ muỗi qua người. Bên cạnh đó, chloroquine còn được dùng để trị một số bệnh lý mãn tính về khớp, miễn dịch như là virus. Đó không phải là một thuốc gì lạ trong ngành y khoa cả. »
RFI : Có ý kiến cho rằng chloroquine có thể dùng để chữa trị cho các bệnh nhân nhiễm Covid-19. Thực hư thế nào ?
« Chloroquine từng được sử dụng trong điều trị nhiễm virus hồi đợt dịch SARS năm 2003. Nhưng rất tiếc là sau đó SARS tự tiêu đi. Khi đó, người ta đã dùng chloroquine, bỏ vào trong tế bào thì thấy là ức chế được con virus nhóm SARS. Sau đó thì người ta cũng dùng chloroquine này thử nghiệm trên loài linh trưởng thì cũng cho thấy có tác dụng.
Tuy nhiên, đối với khoa học, việc muốn chứng minh có tác dụng trên người đòi hỏi một thời gian. Với tình trạng bệnh nhiều như hiện nay, thì các nhà y khoa phải lục lại tất cả các thuốc trong quá khứ, hoặc là các thử nghiệm một số bệnh khác để ứng dụng cho SARS-Cov-2, gọi là Covid-19, điều đó là không quá ngạc nhiên. Đó chính là vai trò của người làm công tác điều trị, các nhà khoa học bắt buộc phải làm như vậy.
Thế nhưng, để đánh giá mức độ có tác dụng thật sự hay không đòi hỏi phải có thời gian. Đôi khi, vào cuối sau trận dịch, người ta ngồi tổng kết lại với nhau thì mới biết được ‘‘ ah, cái này có tác dụng thật sự’’ hay là không có tác dụng. Nếu chỉ có một vài ca nghiên cứu chưa có kết luận một cách chắc chắn. Điều này cũng tương tự như các loại thuốc khác, cho nên việc áp dụng điều trị chỉ nên sử dụng ở trong bệnh viện và do các nhà nghiên cứu thực hiện, không nên sử dụng ở bên ngoài. »
RFI : Như vậy theo như bác sĩ nói, người dân không nên tự ý đi mua hay trữ thuốc chloroquine ở nhà nếu cảm thấy có những triệu chứng bị nhiễm Covid-19 ?
« Đúng vậy. Chúng ta biết là một loại thuốc, nhất là chloroquine này, liều điều trị và liều độc tính gây tử vong rất là gần nhau, đòi hỏi phải chính xác và đúng nữa. Nếu chúng ta tự mua thuốc để dành rồi tự uống thì rất nguy hiểm.
Có hai điểm chúng ta phải chú ý. Thứ nhất là nếu chúng ta bị sốt, rồi uống vô mà chúng ta không chắc hẳn là bị SARS-Cov 2 này, nếu chúng ta uống vô mà không cẩn thận liều, thứ nhất là không có tác dụng và thứ hai là nguy hiểm.
Điểm thứ hai là có nhiều người uống để ngừa, không có virus tấn công, thì mình cũng không biết được là ngừa đến chừng nào. Bởi vì mình có thể bị virus tấn công bất cứ lúc nào vì nếu mình không có một phương pháp sinh hoạt để ngừa virus. Bởi vì nếu mình uống thuốc ngừa thì phải uống hoài. Mà uống hoài như vậy sẽ ảnh hưởng đến gan thận. Đến một lúc nào đó uống sai, thì có khả năng sẽ bị ngộ độc.
Thứ ba nữa là nếu mình để thuốc này trong nhà, mình giữ, có khả năng những người nào đó trong cùng gia đình bị bệnh lú lẫn chẳng hạn, họ uống sai mà nhất là trẻ con thì khả năng tử vong rất là cao. Do vậy, nếu có nghe nói chloroquine có khả năng điều trị Covid-19, thì đương nhiên điều này có lẽ là đáng mừng nhưng tất cả những điều đó nên dành cho người điều trị làm, bác sĩ trực tiếp điều trị ca bệnh làm. Bởi vì nên biết là đa số những người bị bệnh Covid-19 là tự khỏi, cho nên để kết luận xem là chloroquine có tác dụng đòi hỏi phải có một thời gian nhất định ».
RFI : Phải chăng Việt Nam cấm bán chloroquine ? Vì sao ?
« Thật ra chloroquine lúc trước đưa vô không được bán nhiều cho một ai đó, bởi vì đây là loại thuốc họ dùng để tự tử. Hiện nay do những lời đồn như thế thì có một số người săn thuốc đó để ở nhà ».
RFI : Trong tình hình khủng hoảng dịch bệnh hiện nay, bác sĩ có thể cho biết trên thế giới hiện nay có bao nhiêu phác đồ điều trị Covid-19 ?
« Thật ra khi gặp một ca viêm phổi siêu vi, chúng ta phải hiểu là đa số các siêu vi chúng ta không có thuốc điều trị đặc hiệu, cho nên phác đồ điều trị chuẩn của viêm phổi siêu vi chung cũng như là cho Covid-19 không hề khác nhau. Nghĩa là chúng ta sẽ điều trị triệu chứng. Nếu mà có suy hô hấp, chúng ta sẽ can thiệp suy hô hấp đó cho tới mức độ cao nhất là thở máy. Và nếu có những rối loạn về chức năng của các cơ quan khác thì điều trị chỉnh các chức năng đó lại và chờ cho cơ thể tự hồi phục và đẩy con virus ra khỏi cơ thể.
Còn lại có những phác đồ điều trị mà chúng ta có thể thấy sử dụng thuốc chloroquine hay là những thuốc mới như Remdesivir… Những kháng sinh đó thật sự ra chỉ là trong vòng nghiên cứu thôi và khác biệt của kháng sinh có mục tiêu là để điều trị bội nhiễm. Chúng ta biết là khi nó bội nhiễm, vi khuẩn và nhất là vi khuẩn trong bệnh viện có thể gây tử vong rất là cao do tính kháng thuốc cao. Thật ra không có một phác đồ điều trị nào khác được với nhiễm khuẩn siêu vi, bởi vì hiện nay, thuốc điều trị đặc hiệu của Covid-19, điều trị đúng vào con virus đó hiện nay vẫn còn nghiên cứu. »
RFI Tiếng Việt xin cảm ơn bác sĩ Trương Hữu Khanh, bệnh viện Nhi đồng 1, tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thu, 26 Mar 2020 - 21 - Tái diễn cuộc chạy đua lên Mặt Trăng
Kể từ sau các chuyến bay của phi thuyền Apollo vào năm 1972, nhân loại chưa hề đặt chân trở lại Mặt trăng. Nhưng nay, các cường quốc không gian, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, đang khởi động lại cuộc chạy đua ( hay nói đúng hơn là cuộc bay đua ) lên vệ tinh tự nhiên này của Trái đất.
Ngày 23/03/2019, tại « Rocket City », ở Huntsville, bang Alabama, phó tổng thống Mike Pence thông báo Hoa Kỳ sẽ đẩy nhanh việc đưa các phi hành gia Mỹ trở lại Mặt trăng, trong giai đoạn từ 2024 đến 2028. Ông Mike Pence còn xác nhận: người đầu tiên trở lại Mặt trăng sẽ là một phụ nữ Mỹ, được phóng lên bằng các tên lửa của Mỹ từ lãnh thổ Mỹ.
Kể từ khi chấm dứt các chuyến bay của phi thuyền con thoi vào năm 2011, Cơ quan Không gian Hoa Kỳ NASA hầu như không còn tham vọng nào khác. Ngay sau khi lên cầm quyền, tổng thống Donald Trump đã « đánh thức » cơ quan này và từ năm 2017, ông đã đề ra mục tiêu là các phi hành gia Mỹ phải trở lại Mặt trăng, xem đây là bước đầu tiên để đưa con người lên thám hiểm Sao Hỏa trong tương lai.
Bị tổng thống Trump thúc ép, NASA bèn vạch ra một lịch trình là trước tiên sẽ đưa các công cụ và các robot lên Mặt trăng, rồi sẽ đưa các phi hành gia lên đây vào năm 2028. Nhưng nay, đối với phó tổng thống Mike Pence, Hoa Kỳ không thể đợi lâu như thế, mà phải đẩy nhanh lịch trình, nhất là vì Trung Quốc gần đây đã đưa được một phi thuyền lên phần tối của Mặt trăng, cho thấy Bắc Kinh có tham vọng giành lợi thế trên vệ tinh của Trái đất.
Trong phát biểu tại Huntsville, ông Mike Pence đã so sánh tổng thống Trump với cố tổng thống Kennedy, như thể là ông muốn đưa nước Mỹ trở lại thời kỳ thập niên 1960, thời kỳ của cuộc chạy đua lên không gian giữa Hoa Kỳ với Liên Xô, chỉ có khác là bây giờ đối thủ chính của Mỹ không còn là Liên Xô nữa, mà là Trung Quốc.
Trả lời RFI ban Pháp ngữ ngày 2/03, với ông Olivier Sanguy, tổng biên tập bản tin thời sự không gian của trung tâm Cité de l’Espace ở Toulouse ( Pháp ) , nhận định rằng tham vọng không gian của tổng thống Trump có trở thành hiện thực hay không là tùy thuộc vào lá phiếu của các nghị sĩ Quốc Hội Mỹ:
« Ông Donald Trump cố thể hiện một hình ảnh khác với hình ảnh phổ biến trên thế giới hiện nay. Ông muốn chứng tỏ mình là một vị tổng thống có thể đề ra một kế hoạch cho dài hạn. Khi Donald Trump đề ra kế hoạch 5 năm, có nghĩa là ông đặt trong viễn cảnh tái đắc cử tổng thống Mỹ.
Về mặt không gian thì 5 năm là một thời hạn hoàn toàn khả thi. Vấn đề duy nhất là ngân sách phải được thông qua. Tên lửa mà NASA sẽ sử dụng để thực hiện dự án này, SLS ( Space Lanch System - Hệ thống phóng không gian ), đã gặp nhiều chậm trễ và sự chậm trễ này khiến tên lửa trở nên tốn kém hơn. Như vậy phải đẩy nhanh việc xây dựng tên lửa và phải chi ra thêm hàng tỷ đôla. Nên nhớ rằng đảng Cộng Hòa nay không còn nắm đa số ở Hạ Viện nữa. Nếu Nhà Trắng muốn huy động hàng tỷ đôla, thì phải đưa vấn đề ra biểu quyết ở Quốc Hội và không có gì bảo đảm là ngân sách này sẽ được thông qua.
Hiện giờ, vẫn có một sự đồng thuận trong chính giới Mỹ, vì Hoa Kỳ vẫn tin rằng cần phải giữ thế áp đảo trên không gian. Họ hiểu rằng để duy trì vị thế siêu cường quốc thì phải đứng hàng đầu trong công cuộc chinh phục không gian. Nhưng vấn đề là họ có huy động được thêm thêm ngân sách để đẩy nhanh chương trình không gian hay không. Tên lửa SLS đã được cả đảng Cộng Hòa lẫn đảng Dân Chủ bỏ phiếu thông qua, tức là đã có một sự đồng thuận không phân biệt xu hướng chính trị. Nhưng Nhà Trắng đã đề ra thời hạn 5 năm, có nghĩa là phải đi nhanh hơn rất nhiều, và trong không gian cũng như trong các lĩnh vực khác, muốn như thế thì phải bỏ ra rất nhiều tiền. »
Trong khi nước Mỹ vật vã với ngân sách cho không gian, thì Trung Quốc đã có một bước đột phá ngoạn mục, với việc phi thuyền Thường Nga - 4, sau gần một tháng hành trình, đã hạ cánh thành công xuống phần tối của Mặt Trăng sáng 03/01/2019, giờ Bắc Kinh. Như vậy, Trung Quốc đã là quốc gia đầu tiên đưa được phi thuyền lên mặt tối của Mặt Trăng.
Đạt được mục tiêu này không phải là dễ, bởi vì bởi mặt khuất của Mặt trăng có địa hình hiểm trở, trái ngược với mặt sáng với nhiều khu vực bằng phẳng. Thiết lập thông tin liên lạc với phía tối của Mặt Trăng là khó hơn nhiều so với mặt sáng.
Để đuổi kịp Mỹ hoặc châu Âu, trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đầu tư hàng tỉ euro cho việc chinh phục không gian, lĩnh vực được coi là một ưu tiên. Đối với Bắc Kinh, thành công về chinh phục không gian là một biểu tượng cho sức mạnh quốc gia. Mục tiêu tiếp theo của Trung Quốc là đưa một phi hành gia lên Mặt Trăng trước năm 2030, và chinh phục Sao Hỏa.
Rõ ràng là Hoa Kỳ bắt buộc phải đầu tư thêm hàng tỷ đôla nếu không muốn bị Trung Quốc qua mặt, như nhận định của ông Olivier Sanguy :
« Trước hết Trung Quốc là một cường quốc không gian đã khẳng định được vị thế. Trung Quốc có một chương trình không gian rất dồi dào, nhắm vào dài hạn. Nhưng Hoa Kỳ không muốn Trung Quốc tiến quá gần đến vị trí áp đảo của họ trên không gian. Họ vẫn muốn NASA là cơ quan đi hàng đầu trong lĩnh vực thăm dò không gian và về mặt quân sự, thông qua Lầu Năm Góc, Hoa Kỳ cũng tiếp tục bỏ xa các nước khác, để bảo vệ các cơ sở hạ tầng của họ trên không gian.
Nên nhớ rằng hiện nay, quân đội Mỹ, các cơ quan tình báo Mỹ sử dụng rất nhiều các công cụ trên không gian. Ở đây, thông điệp mà Washington muốn nhắn gởi, đó là, trong lĩnh vực không gian, chúng tôi đã có một vị thế vững chắc và không nên đến quấy rầy chúng tôi. »
Hơn nữa, theo ông Olivier Sanguy, chính giới Hoa Kỳ cần phải hiểu rằng, số tiền đầu tư cho công cuộc chinh phục không gian không phải là tiền ném qua cửa sổ :
« Khi tiến hành thám hiểm Mặt Trăng, cho dù là với mục đích khoa học, không phải là chúng ta ném hàng tỷ đôla lên không gian, mà chính số tiền đó gián tiếp phục vụ cho các trường đại học, cho các ngành công nghiệp và như vậy tạo điều kiện cho việc phát triển công nghệ cao cấp, cho nghiên cứu cao cấp. Nói cách khác, một quốc gia có trọng lượng về mặt không gian sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao trình độ kinh tế và khoa học, rất cần thiết trong xã hội tri thức.
Trung Quốc đã nắm bắt được điều đó, Hoa Kỳ cũng mới bắt đầu khám phá điều đó trở lại. Trong những năm gần đây, nước Mỹ đã phần nào bớt quan tâm đến không gian. Phải công nhận rằng cơ quan NASA đã thuyết phục được chính quyền rằng số tiền đầu tư vào không gian là rất hữu ích cho nền kinh tế Mỹ.
Trở lại Mặt trăng lần này, các nước nhắm nhiều hơn đến nghiên cứu khoa học, chứ còn các chuyến bay của phi thuyền Apollo trước đây mang tính chất địa chính trị nhiều hơn. Trước đây, mục đích của Hoa Kỳ là nhằm chứng tỏ họ đứng ngang bằng hoặc hơn Liên Xô. Còn bây giờ, trong các chuyến bay đến Mặt trăng, họ sẽ tiến hành nhiều nghiên cứu khoa học hơn, nhắm đến những mục tiêu dài hạn hơn. Chính cơ quan NASA đã nói rõ, họ trở lại Mặt trăng không phải là để cắm một lá cờ, mà là để thăm dò một cách lâu dài, là nhất là để thử nghiệm các công nghệ sẽ cần thiết cho các chuyến thám hiểm Sao Hỏa trong tương lai. »
Qua cuộc chạy đua lên Mặt Trăng, cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc đều nhắm đến mục tiêu tiếp theo là chinh phục Sao Hỏa. Vấn đề là, theo ông Olivier Sanguy, trong một nước dân chủ như Mỹ, không dễ gì thuyết phục các chính khách quan tâm đến mục tiêu dài hạn như Sao Hỏa :
« Một số kỹ sư cho rằng trở lại Mặt trăng không phải là giai đoạn bắt buộc, nhưng những người khác thì lập luận rằng lên Sao Hỏa là cả một bước nhảy vọt, vì hành tinh này nằm xa hơn Mặt trăng rất nhiều. Đó là những chuyến bay kéo dài đến 2 năm, trong khi bay lên Mặt trăng chỉ mất mấy ngày.
Cũng cần phải thấy rằng về mặt chính trị nội bộ, Mặt trăng là mục tiêu dễ được chấp nhận hơn trong một chế độ dân chủ, những chế độ mà trong đó thời gian của các nhiệm kỳ chính trị ngắn hơn rất nhiều so với thời gian thực hiện các chương trình không gian. Nếu ngày mai, cơ quan NASA nói rằng họ đưa phi hành gia lên Sao Hỏa, nhưng phải cần 10 hay 20 năm, sẽ không có một chính khách nào quan tâm đến chuyện đó, vì trong 10 hoặc 20 năm nữa, họ đâu còn nắm quyền nữa đâu!
Trong khi nếu cơ quan NASA nói chúng tôi sẽ đưa người lên Mặt trăng, chỉ mất vài năm thôi và cũng để chuẩn bị cho các chuyến bay lên Sao Hỏa, thì về mặt chính trị, nói như thế dễ thuyết phục hơn. »
Trước mắt, do không thể tự mình đưa dụng cụ nghiên cứu khoa học và phi hành gia lên Mặt trăng, các nước khác sẽ phải dựa vào hai cường quốc không gian Mỹ, Trung. Ngày 25/03, Pháp và Trung Quốc đã ký một hiệp định hợp tác không gian dự trù đưa các dụng cụ nghiên cứu khoa học của Pháp lên Mặt trăng, nhân chuyến bay của phi thuyền Trung Quốc Thường Nga - 6 ( Chang’e-6 ) lên Mặt trăng trong khoảng thời gian từ 2023-2024. Trong khi đó, Canada, qua thông báo của thủ tướng Justin Trudeau ngày 28/03, cho biết sẽ kết hợp với cơ quan NASA để trở lại Mặt trăng và sẽ tham gia vào việc thiết kế trạm không gian nhỏ Gateway, sẽ được sử dựng như là trạm trung chuyển trong các chuyến bay từ Trái đất lên Mặt trăng.
Thu, 18 Jul 2019 - 20 - Apollo 11: Bước tiến nhân loại hay bước ngoặt "Tin giả"?
Ngày 21/07/2019, nhân loại mừng 50 năm ngày con người lần đầu đặt chân lên Mặt trăng, một trong những cuộc chinh phục không gian lớn trong lịch sử loài người. Nhưng nửa thế kỷ sau, hàng triệu người vẫn tin rằng : Con người chưa bao giờ đi trên Mặt Trăng. Sự kiện « Apollo 11 » là một bước ngoặt lịch sử « tin giả» hay là bước tiến nhân loại ?
Apollo 11 : Sản phẩm kiểu Hollywood của NASA?
Ngược dòng thời gian, ngày 21/07/1969, chính xác là vào lúc 2 giờ 56, giờ quốc tế, phi hành gia người Mỹ, Neil Armstrong đã đặt chân lên Mặt trăng. Người ta còn nghe được thông điệp của Amrstrong gởi về Trái Đất : « Một bước đi nhỏ của một người, nhưng một bước nhảy vọt cho nhân loại ».
Câu nói này trở nên bất hủ. Nhưng cũng trong vòng 50 năm đó, nhiều người vẫn tin rằng « Người Mỹ chưa bao giờ đặt chân lên Mặt trăng » và đó chỉ là « tin giả ». Từ những năm 1970, thuyết về « tin giả » tiếp tục lan truyền. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tin học còn giúp lời đồn đại này lan rộng nhanh chóng.
Trên nhiều trang mạng, người ta có thể tìm thấy các thông tin cho rằng chương trình Apollo 11 chỉ là chuyện viễn tưởng được Hoa Kỳ dàn dựng hoàn toàn để « thắng » cuộc đua không gian với Liên Xô. Người ta không tin rằng NASA thời kỳ ấy có đủ khả năng thực hiện một kỳ tích công nghệ như thế.
Năm 1974, hai năm sau khi chương trình Mặt trăng của Mỹ kết thúc, nhà văn Bill Kaysing phát hành tập sách « Chúng ta chưa bao giờ đi trên Mặt trăng : Cú lừa đảo trị giá 30 tỷ đô la của Mỹ ». Trong tập sách, tác giả cho rằng có nhiều « điểm không rõ ràng » trong các bức ảnh của NASA. Cờ Mỹ bay phấp phới trong gió trong khi Mặt trăng không có khí quyển, thiếu ánh sao trời hay như các thiết bị không gian đáp xuống Mặt trăng nhưng không tạo thành hố đất…
Từ những quan sát đơn giản này, ông Bill Kaysing đi đến kết luận rằng những hình ảnh về Apollo 11 đã được quay tại một căn cứ quân sự bí mật, nằm trong vùng sa mạc Nevada, với những hiệu quả đặc biệt của Hollywood, tương tự như trong phim « 2001: A Space Odyssey » của đạo diễn Stanley Kubrick, phát hành năm 1968. Bản thân ông Kubrick cũng bị nghi ngờ đã hợp tác với NASA. Nhất là những người tin vào thuyết đồng mưu luôn tự hỏi : Vì sao từ đó đến nay không có người nào trở lại Mặt trăng ?
Bước ngoặt của « Fake News »
Giải thích với AFP, ông Didier Desormeaux, đồng tác giả tập sách « Thuyết âm mưu, giải mã và hành động » (nhà xuất bản Reseau Canope, năm 2017) cho rằng sự kiện thu hút sự quan tâm của những người nghi ngờ là do tầm mức quan trọng của sự kiện : « Giai đoạn này của quá trình chinh phục không gian là một trong những sự kiện trọng đại cho nhân loại.Thái độ nghi ngờ sự việc làm lung lay các nền tảng cơ bản của ngành khoa học và quá trình chinh phục thiên nhiên của con người ».
Trên thực tế, « Apollo 11 » chưa phải là nạn nhân đầu tiên của thuyết âm mưu. Vụ ám sát J.F. Kennedy năm 1963 hay các câu chuyện về các vật thể bay không xác định đã là đối tượng của nhiều thuyết âm mưu khác. Nhưng theo ông Didier Desormeaux, điều mới và đáng chú ý làm cho sự kiện « Apollo 11 » trở thành một « bước ngoặt » trong lịch sử « fake news » nằm ở điểm « tin đồn này dựa trên việc giải mã kỹ lưỡng mọi chỉ dấu điện ảnh xác định được trên các bức ảnh do NASA cung cấp ».
Luc Mary, sử gia về các ngành khoa học, trả lời RFI, lưu ý thêm : chính bối cảnh Chiến Tranh Lạnh là cội nguồn của mọi sự tranh cãi « hư thực » về cuộc đổ bộ không gian lịch sử này :
« Bước đi trên Mặt trăng còn là bước đi của một người Mỹ trên Mặt trăng. Sự kiện thừa nhận thành công của một quốc gia này đối với một quốc gia khác, của một hệ tư tưởng này với một hệ tư tưởng khác. Một cách chính xác, đây là một thắng lợi của Hoa Kỳ trước Liên Xô.
Nước Mỹ đã phục thù sau 12 năm đối đầu với Liên Xô. Từ năm 1957, Liên Xô là quốc gia đầu tiên đưa vệ tinh và người lên quỹ đạo. Liên Xô cũng là quốc gia đầu tiên tiến hành các hoạt động không gian ngoài phi thuyền.
Đấy thật sự là một cuộc đọ sức gay gắt. Và đó còn là một chiến thắng của phe Tư bản đối với phe Cộng sản. Một thắng lợi của những người theo Cơ đốc giáo, tức niềm tin Công giáo - đừng quên là người Mỹ tuyên thệ trên kinh thánh - với chủ nghĩa duy vật vô thần »
Việc chọn Mặt trăng là một đối tượng để chinh phục cho thấy rõ thiện chí chính trị của chính quyền Washington thời bấy giờ. Quyết định chiến lược này của Mỹ đã được thể hiện rõ trong bài diễn văn ấn tượng của ông J.F. Kennedy, tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ, năm 1961 :
« Tại sao người ta nói nhiều về Mặt trăng ? Tại sao lại chọn Mặt trăng như là mục tiêu của chúng ta ? Họ còn có thể hỏi rằng tại sao phải leo lên những đỉnh cao nhất ? Chúng ta chọn đi đến Mặt trăng. Chúng ta chọn lên Mặt trăng trong thập niên này và hoàn thành nhiều mục tiêu khác nữa, không phải vì đó là điều dễ thực hiện, mà chính bởi vì chúng khó. Bởi vì mục đích này sẽ giúp tổ chức và huy động những nguồn lực và công nghệ tốt nhất của chúng ta.»
Phản biện « Fake news »
Bất chấp các nỗ lực của giới khoa học, những hoài nghi và những lời đồn đại vẫn sống mãi theo thời gian. Vào thời điểm phi thuyền đáp xuống Mặt trăng, tại Mỹ, gần 5% số người được hỏi không tin sự việc. Tỷ lệ này giờ tăng lên là 6%.
Tại Pháp, theo một thăm dò mới nhất do Quỹ Jean-Jaures thực hiện cách đây vài tháng, có đến 16% số người được hỏi tin rằng NASA đã ngụy tạo bằng chứng và các hình ảnh phi thuyền « Apollo 11 » đáp xuống Mặt trăng, cũng như những bước đi đầu tiên của Neil Armstrong ngày 21/07/1969.
Còn tại Anh, trong một thăm dò năm 2009, tỷ lệ này là 25%.Và không phải ngẫu nhiên người Nga là những người hoài nghi nhiều nhất. Thăm dò thực hiện trong năm 2018 cho biết có đến 57% số người Nga được hỏi không tin vào sự kiện này. Vào thời điểm diễn ra sự kiện, tờ báo Nga Pravda đã không tường thuật trung thực sự việc.
Trên thực tế, từ năm 1969 đến 1972, NASA đã thực hiện 6 chuyến thám hiểm Mặt trăng, thu thập hơn 380 kg mẫu đá để phân tích. Năm 2002, NASA đã đặt viết quyển sách nhằm phản bác từng luận điểm một của những người đưa ra thuyết âm mưu. Tuy nhiên, NASA đã từ bỏ ý định này vì không muốn tạo cho họ nhiều cơ hội tấn công. Cơ quan Không gian của Mỹ khi ấy chỉ tập trung giải đáp một số điểm cụ thể.
Trong số này, việc trưng ra các bằng chứng vật chất nhằm xác nhận sự hiện diện của người Mỹ trên Mặt trăng năm đó cũng là điều hiển nhiên, như giải thích của ông Luc Mary :
« Còn có những thiết bị như máy đo địa chấn, các tấm phản chiếu laser để đo khoảng cách giữa bề mặt Trái Đất và Mặt trăng. Đương nhiên còn có cả phần bệ đỡ của phi thuyền. Người ta ước tính có khoảng 180 tấn các vật dụng, các thiết bị nghiên cứu do con người chế tạo được để lại trên Mặt trăng. »
Để thực hiện thành công nhiệm vụ Apollo 11, NASA đã tuyển dụng đến hàng trăm nghìn nhân viên và tiêu tốn của chính phủ đến 150 tỷ đô la. Một chi tiết quan trọng đối với nhiều nhà toán học nhằm phản bác lại các lập luận của những người tin vào thuyết âm mưu.
Anh David Robert Grimes, tiến sĩ Vật lý học trường đại học Oxford, giải thích với Le Monde, nhờ vào quy luật « Con Cá » (La loi de Poisson) trong xác suất thống kê, anh có thể khẳng định người ta không thể giữ được bí mật lâu quá 4 năm với giả định thuyết âm mưu này là đúng.
« Tôi tính số nhân sự làm việc tại NASA vào thời điểm phi thuyền hạ cánh xuống Mặt trăng. Họ có khoảng 425 nghìn nhân viên. Thế nên, cứ giả định từ nguyên tắc rằng tất cả đều muốn giữ bí mật và họ bảo vệ bí mật còn tốt hơn cả các cơ quan tình báo Mỹ, dù là trong điều kiện này đi chăng nữa, trong vòng khoảng 4 năm cũng sẽ có một ai đó hữu ý hay vô tình tiết lộ tầm mức của sự ngụy tạo này.
Do vậy, theo tôi, thời gian 4 năm là một ước tính khách quan. Vấn đề ở chỗ chính vì tất cả mọi người tham gia vào cùng một dự án, do vậy khó mà bảo mật mọi thứ. Đôi khi, những âm mưu này bị những người báo động hay một kẻ phản bội nào đó tiết lộ. Có khi bạn gởi thư điện tử nhầm địa chỉ. Có khi bạn gởi một SMS nhầm người. Và bất thình lình mọi người đều biết chuyện.
Do vậy, nếu như bạn tìm cách tung ra những thuyết âm mưu có quy mô lớn, cho dù là có liên quan đến Mặt trăng, biến đổi khí hậu hay chủng ngừa… chắc chắn là ít có khả năng những âm mưu này thành công. Bởi vì bạn sẽ phải cần đến rất đông người hợp tác để bảo vệ bí mật. Mà về điểm này, thì con người không mấy gì tài giỏi cho lắm ».
Sau « Hằng Nga » là anh « Cả Đỏ »
Dẫu sao thì cuộc chinh phục không gian trong những năm 1960 cho thấy rõ đỉnh điểm của cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô. Ngày nay, bối cảnh quốc tế đã có những thay đổi, nhưng không gian một lần nữa lại là một bàn cờ địa chính trị. Trung Quốc mới đây trở thành quốc gia đầu tiên đưa thành công một phi thuyền lên phần khuất của Mặt trăng.
Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố Hoa Kỳ sẽ lại gởi người lên định cư trên Mặt trăng từ đây đến năm 2024. Với Hoa Kỳ, đây là châu lục thứ 8 cần chinh phục. Để thực hiện mục tiêu này, Hoa Kỳ phải tái khởi động một chương trình không gian quy mô lớn, đòi hỏi nhiều nguồn tài chính tốn kém đáng kể.
Để giảm nhẹ gánh nặng ngân sách, NASA đã quyết định nhờ đến các doanh nghiệp tư nhân : SpaceX, của Elon Musk, Blue Origin của Jeff Bezos nhằm phát triển ngành du lịch không gian dành cho các khách hàng tỷ phú. Hay như nhiều doanh nghiệp nhỏ khác để đưa các thiết bị lên Mặt trăng cho Cơ quan Không gian Hoa Kỳ.
Hơn bao giờ hết, trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, Hoa Kỳ quyết tâm lấy lại vị thế thống trị trong việc thám hiểm không gian. Nhưng với ông Jim Bridenstine, lãnh đạo NASA, mục tiêu cuối cùng là đi xa hơn nữa. Đến thăm Cung Trăng là một bước đệm để con người vươn tới sao Hỏa, hành tinh đỏ.
Wed, 17 Jul 2019 - 19 - Xung điện tủy cột sống : Phương pháp mới trị chứng liệt hai chân
Bệnh nhân mắc chứng liệt chi dưới do tổn thương tủy sống có thể đi lại được nhờ vào liệu pháp mới « kích thích tủy cột sống bằng xung điện ». Một nhóm các nhà khoa học Thụy Sĩ vừa công bố kết quả công trình nghiên cứu này trên tạp chí khoa học có uy tín Nature ngày 01/11/2018.
Một tin vui mang lại nhiều hy vọng cho các bệnh nhân bị liệt chi dưới do các chấn thương tủy sống. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự điều hành của ba nhà khoa học lớn : bà Jocelyne Bloch - bác sĩ phẫu thuật thần kinh người Thụy Sĩ thuộc Trung tâm Đại học Y khoa Lausanne (CHUV) ; Grégoire Courtine – giáo sư khoa học thần kinh người Pháp và nhất là Fabien Wagner, kỹ sư người Pháp, người phát triển phần mềm kích thích xung điện. Ông Fabien Wagner còn là người đưa ra ý tưởng cho dự án, bởi vì chính bản thân ông cũng là một người tàn tật. Báo Le Monde (07/11/2018) cho biết thêm cả hai chuyên gia người Pháp hiện đang giảng dạy tại trường đại học Bách khoa Liên bang (EPFL) tại Lausanne, Thụy Sĩ.
Tham gia công trình còn có sự đóng góp nhiệt tình của ba bệnh nhân tình nguyện : Sebastian Tobler - 48 tuổi, David Mzee - 30 tuổi và Gert-Jan Oskam – 35 tuổi. Cả ba người này có cùng điểm chung là đều bị chấn thương tủy cột sống sau một tai nạn thể thao dẫn đến tình trạng bị liệt hai chân từ nhiều năm nay. Đây cũng là lần đầu tiên các bệnh nhân tham gia thí nghiệm lâm sàng chấp nhận trả lời báo chí công khai, không giấu danh tính như luật pháp quy định.
Phương pháp trị liệu
Việc điều trị được thực hiện như thế nào ? Trên đài RFI, bà Jocelyne Bloch trước tiên lưu ý phần não chỉ huy của cả ba bệnh nhân may mắn không bị tổn thương. Điều này cho phép các nhà khoa học tiến hành thử nghiệm liệu pháp xung điện tủy cột sống để phục hồi chức năng vận động. Bà cho biết:
« Ba bệnh nhân mà chúng tôi nói đến đều đã bị tổn thương ở tủy cột sống, phần ở giữa lưng. Nhưng não bộ của họ không làm sao và vẫn có khả năng đưa ra các mệnh lệnh. Hai chân của họ cũng như tủy cột sống phần dưới vẫn nguyên vẹn.
Vấn đề ở đây là có một sự gián đoạn trong hệ thống dây thần kinh chạy từ não xuống chân. Do vậy, chúng tôi đã dùng điện kích thích vào phần tủy cột sống, phía dưới phần bị tổn thương, để thúc đẩy các cơ bắp hoạt động, tạo thuận lợi cho việc cử động, bước đi.
Có nghĩa là phần não chỉ huy vẫn hoạt động tốt, nhưng lại không có đủ các thần kinh sợi để truyền mệnh lệnh, cho phép bệnh nhân đi lại. Việc kích thích điện vào tủy cột sống tạo thuận lợi cho bệnh nhân đi lại.»
Trước khi bước vào giai đoạn kích xung điện, cả ba bệnh nhân phải trải qua một cuộc phẫu thuật. Các bác sĩ sẽ cài đặt một mảnh ghép ở phần thắt lưng, sát với tủy sống, trước điểm bị tổn thương và lắp một máy phát ở lồng ngực. Được điều khiển từ xa qua máy vi tính hay máy tính bảng, chiếc máy phát này sẽ truyền tải đến mảnh ghép các tín hiệu điện để kích hoạt mảnh ghép, để rồi từ đó kích thích các sợi thần kinh điều khiển các cơ chân. Bà Jocelyne Bloch cho biết tiếp :
« Điều mới ở đây là chúng tôi đã hiểu được cơ chế cho phép bệnh nhân bước đi. Do vậy, chúng tôi dùng điện kích thích vào các vùng khác nhau của tủy cột sống để lần lượt kích hoạt động tác co, duỗi, tạo dễ dàng cho việc bước đi.
Điểm khác biệt lớn là khi luyện tập cho bệnh nhân bị liệt như vậy, chúng tôi nhận thấy là sau vài tuần luyện tập dồn dập, với những bài tập dài, bệnh nhân đã phục hồi được các chức năng cơ bắp, sau nhiều năm bị liệt. »
Với ông Gregoire Courtine, thời điểm này có ý nghĩa quan trọng. Việc luyện tập giúp khôi phục lại tính đàn hồi tế bào thần kinh, nghĩa là kích thích khả năng tái tổ chức các đường truyền thần kinh. « Bệnh nhân sẽ phải kích thích các cơ bắp. Cùng một lúc, hoạt động này sẽ kích thích vùng tương ứng ở tủy cột sống. Sự trùng hợp này cho thấy là các sợi thần kinh đang hồi phục ở điểm này», theo như giải thích của ông Gregoire Courtine với báo Le Monde.
Đây chính là điểm khác biệt so với các công trình nghiên cứu của Mỹ cũng được công bố trong năm nay. Ngày 24/09/2018, hai nhóm nghiên cứu của Mỹ – một tại Mayo Clinic (Minnesota) và nhóm thứ hai Susan Harkema, thuộc trường đại học Louisville (Kentucky), nổi tiếng trong lĩnh vực này – cùng loan báo đã làm cho ba bệnh nhân khác bị liệt chi dưới đi lại được.
Tuy nhiên, các phương pháp của các nhà khoa học Thụy Điển dường như có phần tinh vi hơn so với các nghiên cứu của đồng nghiệp Mỹ. Các nhà khoa học tại Hoa Kỳ chủ yếu dựa vào việc dùng xung điện kích thích tủy cột sống liên tục, kèm theo một chương trình tập luyện kéo dài. Một chiến lược mà ông Gregoire Courtine đánh giá là « theo kinh nghiệm », chỉ cho phép bệnh nhân « đi lại trong những khoảng cách ngắn, với điều kiện xung điện vẫn đang hoạt động », và nhất là kết quả chỉ đạt được sau nhiều tháng dài hồi phục chức năng.
Một cuộc phiêu lưu tương lai
Đối với các nhà khoa học và những người tình nguyện tham gia thí nghiệm, chương trình nghiên cứu này chẳng khác gì một cuộc phiêu lưu khoa học và đậm chất nhân bản. Cuộc phiêu lưu này có được nhờ vào sự nhiệt tình và bền bỉ của ba bệnh nhân. Hiếm có một cuộc thí nghiệm lâm sàng nào mà người tham gia dấn thân nhiệt tình đến như thế.
Tuổi còn trẻ là một yếu tố quyết định. Ở các bệnh nhân lớn tuổi, việc hồi phục chắc chắn sẽ khó khăn hơn. Kết quả đạt được còn khiêm tốn, nhưng lại đáng khích lệ. Các nhà khoa học cũng lưu ý là mức độ tự lập của từng bệnh nhân hiện nay vẫn rất khác nhau do tình trạng tê liệt của mỗi người mỗi khác. Có người có thể đi được vài bước không cần xung điện, nhưng hiện tại họ cảm thấy đi lại dễ dàng hơn khi có xung điện và có thể đi đến 2 km.
Với kết quả đạt này, các nhà khoa học Thụy Sĩ hy vọng sắp tới sẽ đạt được tiến bộ hơn. Thí nghiệm lâm sàng sẽ được mở rộng ra cho nhiều đối tượng khác. Các tác giả tin rằng nếu được điều trị sớm, khả năng hồi phục chức năng đi lại càng cao và nhanh. Bà Jocelyne Bloch nói:
« Đương nhiên, chúng tôi mới chỉ bắt đầu và cố gắng đưa ra một quan niệm. Ý tưởng của chúng tôi là trong tương lai, sẽ áp dụng phương pháp này để chữa trị. Nhưng liệu giới bác sĩ có chữa cho các bệnh nhân bị liệt có thể đi lại được, như chúng tôi đã làm hay không ? Có thể là không và còn cần có thêm các công trình nghiên cứu khác nữa. Nhưng trong mọi trường hợp, giới chuyên gia cần cố gắng để làm việc này một cách tốt nhất.
Tôi nghĩ rằng một trong những điều chủ chốt là cần phải bắt đầu chữa trị rất sớm. Trong trường hợp ba bệnh nhân mà chúng tôi miêu tả, thì họ đã trải qua từ 3 đến 7 năm bị liệt sau khi bị chấn thương. Theo tôi, cần phải bắt đầu chữa trị ngay sau khi xẩy ra tổn thương ở tủy cột sống và luyện tập trong những điều kiện tốt nhất. Đó là tiến bộ đầu tiên cần phải đạt được.
Điều thứ hai là cần cải thiện hệ thống kích thích để cho bệnh nhân có thể sớm thích ứng với cơ chế vận động của mỗi người và trong lĩnh vực này, cần phải đạt được thêm những tiến bộ kỹ thuật. »
Liệu giải pháp này có thể mở rộng sang các bệnh tê liệt vì những nguyên nhân khác ? Về điểm này, bà Jocelyne Bloch khẳng định đây là điều còn hạn chế của các nghiên cứu hiện nay:
« Các loại bệnh thoái hóa thì hơi khó bởi vì đó là những bệnh liên tục phát triển. Ngược lại, có những bệnh liên quan đến vận động, chẳng hạn những người bị tai biến mạch máu não, hoặc bị parkinson, gặp khó khăn vận động, tôi nghĩ chắc chắn là công trình nghiên cứu này có thể cải thiện khả năng vận động, đi lại. »
Wed, 21 Nov 2018 - 18 - Thế giới sẽ ra sao nếu không còn loài ong ?
Loài ong đã sống trên Trái đất từ 100 triệu năm nay. Loài vật này quen thuộc đến mức hầu như ai cũng nghĩ rằng chúng sẽ sống mãi mãi. Thế nhưng, ngày càng có nhiều nhà khoa học lên tiếng báo động về tình trạng suy thoái, thậm chí nguy cơ tuyệt chủng của loài ong và, nếu đúng như thế, đây sẽ là một thảm họa đối với nhân loại. Hành tinh của chúng ta sẽ ra sao nếu không có loài ong ? Hôm nay chúng ra sẽ nghe ý kiến của hai nhà nghiên cứu Pháp Yves Le Conte và Lionel Garnery, trả lời RFI Pháp ngữ vào đầu tháng 4/2018.
Yves Le Conte hiện là giám đốc nghiên cứu của Viện Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp INRA, chi nhánh Avignon và cũng là giám đốc Đơn vị nghiên cứu về ong và môi trường, tác giả một cuốn sách về bảo vệ loài ong, vừa được xuất bản tại Pháp. Còn Lionel Garnery là nhà nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học CNRS, giáo sư Đại học Versailles Saint-Quentin-en-Yvelines, đồng thời là chuyên gia di truyền học của loài ong đen.
Ong là loài côn trùng có tổ chức xã hội cao như kiến, mối. Chúng sống theo đàn, trong thiên nhiên hay trong các tổ ong nhân tạo. Mỗi đàn đều có ong chúa, ong thợ, ong non... và có sự phân công công việc, chặt chẽ, rõ ràng. Ong được con người nuôi để khai thác sản phẩm như mật ong, sáp ong, sữa ong chúa,...
Nhưng loài ong cũng có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái vì chúng tham gia vào việc thụ phấn cho các loài thực vật, như các loại côn trùng khác, nếu không muốn nói là có vai trò quan trọng nhất.
Thế mà, từ vài năm nay, số phận của loài ong gây lo ngại ngày càng nhiều, với tỷ lệ tử vong lên tới từ 30 đến 35%, thậm chí lên tới 50% vào mùa đông. Đến mức mà các nhà khoa học lo ngại cho sự tồn vong của loài côn trùng này.
Vậy những nguyên nhân gì khiến loài ong có nguy cơ bị tận diệt như vậy ? Nhà nghiên cứu Yves Le Conte giải thích :
"Nguyên nhân quan trọng nhất là những thay đổi của môi trường chung quanh những con ong. Nền nông nghiệp ngày càng mang tính thâm canh, khiến cho không gian của loài ong ngày càng bị thu hẹp. Tiếp đến là việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, cho dù giới nuôi ong đã quyết liệt chống. Các nhà khoa học chúng tôi nay đều nhận thấy rằng thế hệ thuốc trừ sâu mới đang gây tác hại vô cùng nặng nề cho sự tồn vong của loài ong, như chất neonicotinoide. Những chất này không giết ngay, mà giết từ từ những con ong. Bây giờ, giới chính trị, các hiệp hội phải nỗ lực vận động để hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp".
Một yếu tố khác đe dọa đến loài ong là những vật ký sinh, như Varroa destructor, theo lời ông Le Conte :
"Varroa destructor là một loại acari, giống như một con cua nhỏ biết hút máu. Trong một đàn ong có thể có hàng ngàn varroa destructor, chúng sinh sôi nảy nở và cuối cùng tiêu diệt cả đàn ong. Hiện nay chúng ta có thể dùng hóa chất để chống varroa, hoặc là hóa chất tổng hợp, hoặc là những hợp chất mang tính hữu cơ (bio) hơn, nhưng nếu không chữa trị đàn ong thì chúng cũng sẽ chết. Có thể là về ngắn hạn thì không được, nhưng về dài hạn thì phải làm sao mà chúng ta có thể chọn lọc được những con ong có thể kháng cự những vật ký sinh như varroa".
Nhưng theo lời nhà nghiên cứu Lionel Garnery, nguy cơ bị tận diệt của loài ong là do tổng hợp nhiều yếu tố :
"Chúng ta đã nói về hai nguyên nhân quan trọng nhất, nhưng nếu tách riêng ra thì hai nguyên nhân này không thể giải thích được sự tiêu hao của loài ong. Đúng hơn đó là do sự phối hợp của nhiều yếu tố. Đầu tiên dĩ nhiên đó là những loài ký sinh như varroa, nhưng thật ra varroa chỉ là vật chủ trung gian mang virus. Tức là có rất nhiều nhân tố lây nhiễm đe dọa loài ong.
Nguyên nhân cũng là do tác động của con người lên cây trồng với quy mô lớn, đất canh tác không còn đa dạng về môi trường, tức là không còn đa dạng về phấn hoa, hậu quả là nguồn protein, nguồn vitamin cho loài ong giảm đi, khiến chúng không còn đủ khả năng để kháng cự lại những nhân tố tác hại khác.
Như vậy, chính sự tổng hợp của toàn bộ nhân tố khiến cho loài ong bị tiêu hao nhiều như vậy. Biến đổi khi hậu cũng là một trong những nhân tố đó. Yếu tố này khiến loài ong bị rối loạn, người nuôi ong cũng vậy, vì họ phải thay đổi cách nuôi. Riêng tôi thì chủ trương một cách nuôi mang tính thiên nhiên nhiều hơn, tức là làm sao cho các đàn ong dần dần tự thích ứng với những nhân tố đó, qua việc để cho tiến trình chọn lọc tự nhiên tác động nhiều hơn".
Để chống những loài ký sinh, ta cũng có thể tuyển chọn những con ong gọi là "ong vệ sinh", theo giải thích của nhà nghiên cứu Le Conte :
"Giống ong "vệ sinh" có thể tự bảo vệ chống varroa, một loại acari sống ký sinh, vẫn là hiểm họa số một của ong. Ong "vệ sinh" là những "nữ công nhân" có khả năng phát hiện những lỗ tổ ong đang bị varroa sống bám vào, rồi móc sạch lỗ tổ ong đó, để ngăn chận varroa gây tổn hại cho ong. Tại Viện Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp, chúng tôi nghiên cứu rất nhiều về đặc tính đó của giống ong "vệ sinh". Chúng tôi muốn đề nghị cho những người nuôi ong một phương pháp đơn giản để giúp họ kiểm tra xem các lỗ tổ ong có "vệ sinh" không và tăng cường khả năng chống varroa của các tổ ong".
Tuy rằng loài ong sống rất thọ, tức là trên nguyên tắc khó bị tận diệt, nhưng theo nhà nghiên cứu Garnery, vấn đề chính là nằm ở tác động con người :
"Vấn đề là sự chuyển biến của xã hội con người, là tác động của con người lên đa dạng sinh thái. Cho dù có biến đổi khí hậu, nếu chúng ta cứ để cho thiên nhiên tự tác động, thì cũng sẽ có những con ong sống sót. Chúng đã từng sống sót qua nhiều thời kỳ băng hà ở châu Âu. Vấn đề ở chỗ loài ong có nhiều lợi ích kinh tế, nên bị con người chi phối. Nếu con người cản trở khả năng kháng cự tự nhiên của loài ong, nguy cơ tận diệt của chúng sẽ lớn hơn".
Về phần nhà nghiên cứu Le Conte, ông cảnh báo về việc một số người dự tính những phương cách để thay thế những vai trò loài ong, như thể họ nghĩ rằng sự diệt vong của loài côn trùng này là điều khó tránh khỏi :
"Tôi có biết được thông tin rằng, nhất là tại Hoa Kỳ, một số nhà nghiên cứu dự định sử dụng các "máy bay không người lái" bằng ong, một loại "ong robot" để sau này có thể thay thế cho những con ong thật. Nghe qua có vẻ thú vị, nhưng về mặt công nghệ, đây là một dự án không tưởng và điều này cũng cho thấy là con người quá tự mãn.
Suy cho cùng, chúng ta đang cần và vẫn sẽ cần đến loài ong. Có những loài cây trái cần đến ong để thụ phấn. Nếu loài ong mất, đi chúng ta sẽ gặp nhiều vấn đề về canh tác, về sản xuất thực phẩm cho chúng ta.
Mặt khác, có một điều chưa ai nói đến, đó là trong thiên nhiên có rất nhiều loài cây cỏ sống hoàn toàn cần đến loài ong trong việc thụ phấn. Nếu chúng ta loại trừ một giống ong nào chuyên giúp thu phấn cho một loại cây nào đó, thì cây đó sẽ chết".
Theo nhà nghiên cứu Le Conte, hậu quả của sự diệt vong của loài ong không chỉ rất nặng nề về mặt thực phẩm, mà sự diệt vong này còn là biểu tượng của sự suy thoái một trường nghiêm trọng:
"Tôi nghĩ là chúng ta sẽ không chết đói vì có rất nhiều loại cây trái không cần đến loài côn trùng để thụ phấn, mà chỉ cần có gió, nhưng chắc chắn là nếu không còn loài ong, chúng ta sẽ mất đi một số loại rau quả và điều này rõ ràng là sẽ gây nhiều khó khăn cho nhân loại.
Đây là một tín hiệu báo động rằng chúng ta phải ngăn chận nguy cơ, vì nếu con người lại có thể phá hủy những thứ đó, thế giới coi như tiêu tùng. Cần phải xem sự tồn tại của loài ong như là một cái ngưỡng không nên vượt qua, mà trái lại phải tìm đủ mọi cách để bảo vệ chúng. Bảo vệ loài ong có nghĩa là bảo vệ môi trường chung quanh chúng ta, bởi vì chúng ta cũng đang ăn những thứ có thuốc trừ sâu, hít thở không khí nhiễm thuốc trừ sâu. Chúng ta phải ngăn chận nguy cơ đó".
Wed, 27 Jun 2018 - 17 - Tiềm năng phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam
Chỉ trong vòng ba tháng đầu năm 2018, hai dự án điện mặt trời đầu tiên của Việt Nam và có quy mô lớn được khởi công tại tỉnh Ninh Thuận. Dự án thứ nhất là nhà máy điện mặt trời BIM 1, khởi công ngày 23/01/2018, sẽ lặp đặt 90.000 tấm pin năng lượng mặt trời trên diện tích 35 ha, hàng năm sẽ sản xuất ra 50 triệu kWh điện. Dự án thứ hai là nhà máy điện mặt trời Hồ Bầu Ngứ, được khởi công ngày 31/03, lặp đặt 162.000 tấm pin mặt trời trên diện tích gần 75 ha, sẽ sản suất gần 100 triệu kWh khi hòa vào lưới điện quốc gia.
Trước đó, chính phủ Việt Nam đã có kế hoạch xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân với Nga và Nhật Bản. Tuy nhiên, kế hoạch đã bị hủy vào tháng 11/2016 do chi phí quá lớn, lên đến vài tỉ đô la cho mỗi lò phản ứng.
So với điện hạt nhân, điện gió và điện mặt trời có những lợi thế gì khi được phát triển ở Việt Nam? Trả lời RFI tiếng Việt, ông Nguyễn Trịnh Hoàng Anh, chuyên gia Kinh tế và Chính sách Năng lượng, giảng viên đại học Khoa Học-Công Nghệ Hà Nội (Université des Sciences et des Technologies de Hanoi, USTH), giải thích :
«Ưu điểm rõ ràng nhất đó là đầu vào miễn phí. Yếu tố thứ hai đó là sự phát thải rất ít. Việt Nam là một nước nhiệt đới, vì vậy, tiềm năng về năng lượng mặt trời tại Việt Nam rất là tốt, kể cả phong điện vì chúng ta có một bờ biển dài hơn 3.000 km. Đặc biệt khu vực miền Trung - Nam Bộ và Nam Bộ có tiềm năng gió và mặt trời rất lớn. Đó là một thuận lợi khi chúng ta muốn phát triển phong điện hay điện mặt trời.
Tuy nhiên, khi quyết định phát triển một dạng năng lượng nào đó thì người ta phải tính toán đến rất nhiều yếu tố, ví dụ chi phí đầu tư, đảm bảo việc cung cấp điện có liên tục, có an toàn hay không. Đó là một bài toán rất tổng thể, vì vậy, ngay cả hiện nay, khi nhà nước đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ điện mặt trời hay điện gió, thì việc triển khai trên thực tế cũng gặp một số trở ngại mà hiện nay, nhà nước cũng như các nhà đầu tư đang cùng nhau giải quyết vấn đề này ».
Theo báo chí trong nước, tỉnh Ninh Thuận đã chấp thuận chủ trương khảo sát cho 48 dự án điện mặt trời, trong đó có 18 dự án được cấp quyết định chủ trương đầu tư. Riêng tập đoàn Thiên Tân, theo báo Nhật Nikkei (05/02/2018), đã có 5 dự án tại tỉnh Ninh Thuận, từ nay cho đến năm 2020, với tổng trị giá gần 2 tỉ đô la. Theo dự kiến, nhà máy đầu tiên, có công suất 50 MW, sẽ đi vào hoạt động trong năm 2018, bốn nhà máy tiếp theo sẽ có công suất từ 200-300 MW. Còn tập đoàn TTC đề ra kế hoạch xây 20 dự án điện mặt trời, cho đến năm 2020, tại tỉnh Tây Ninh (324 MW), Bình Thuận (300 MW), Ninh Thuận (300 MW)…
Điện mặt trời : Từ quy mô nhỏ đến dự án nguồn năng lượng chính
Đúng là các tỉnh Trung-Nam Bộ và Nam Bộ thu hút các dự án điện mặt trời có quy mô lớn, vì có số giờ nắng cả năm trên 2.600 giờ, tổng lượng nhiệt gần 10.000 độ C, nhưng rất nhiều dự án nhỏ hơn đã được triển khai ở các tỉnh thành trên cả nước, như giải thích của chuyên gia Hoàng Anh :
«Theo như quy định hiện nay cho điện mặt trời thì những dự án điện nối với lưới điện ở quy mô gia đình cũng được hỗ trợ về mặt chính sách, cũng như hỗ trợ về mặt giá. Chính vì vậy, ở Hà Nội và một số tỉnh khác ở miền bắc, họ cũng xem xét phát triển những dự án đó ở quy mô từ gia đình, chứ không chỉ ở quy mô công nghiệp.
Thực ra ở quy mô gia đình, phải nói là gần như các tỉnh đều có, ngay cả các tỉnh miền núi phía bắc, nơi mà không ai nghĩ tiềm năng năng lượng mặt trời là nhiều, nhưng mà ở một số xí nghiệp làm nông nghiệp (như trồng cây trà, hoặc các cây nông nghiệp khác), họ cũng đã và đang phát triển những hệ thống năng lượng mặt trời để phục vụ cho chính việc sản xuất của họ.
Lấy một ví dụ ở Hà Nội, tòa nhà của Liên Hiệp Quốc ở Hà Nội cũng có một hệ thống điện mặt trời trên mái nhà có công suất là 119 KW. Họ đã vận hành từ trước đến nay và họ cũng đã đấu nối với lưới điện rồi. Tuy nhiên, trước đây những dự án như vậy chưa nhận được những hỗ trợ về mặt chính sách về giá nhưng giờ đây các dự án tương tự sẽ nhận được những hỗ trợ khuyến khích đó. Đó cũng là một điều cho chúng ta thấy ở các tỉnh thành khác ở miền bắc, hoặc là toàn quốc, cũng có khả năng phát triển dự án điện mặt trời công suất tương đối lớn hơn so với hiện tại ».
Việt Nam đang cố gắng phát triển điện mặt trời thành một nguồn năng lượng chính của đất nước. Theo dự kiến, năng lượng mặt trời sẽ chiếm 3,3% tổng công suất phát điện vào năm 2030, tiếp theo là chiếm 20% vào năm 2050. Tuy nhiên, thị phần năng lượng mặt trời hiện còn rất nhỏ :
« Thực tế là hiện nay, ngay cả phong điện, điện mặt trời, tức là những dạng năng lượng tái tạo mà không tính đến thủy điện, đều đóng góp một tỉ trọng rất nhỏ, dưới 1%, vào trong hệ thống. Chính vì vậy, Nhà nước mới có chính sách muốn phát triển nhiều hơn nữa để đáp ứng được cho nhu cầu phát triển điện trong thời gian tới khi mà nhu cầu ngày càng tăng và các nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng cạn kiệt. Trong tương lai, nó cũng là nguồn thay thế để chúng ta sử dụng, đáp ứng được nhu cầu. Còn hiện tại, chúng ta cũng đang phải giải quyết rất nhiều việc, từ kỹ thuật đến kinh tế, chính sách để làm sao cho những dự án này được phát triển một cách hiệu quả nhất ».
Rút kinh nghiệm từ những nước đi trước
Điện mặt trời nói riêng, và năng lượng tái tạo nói chung, đã và đang được phát triển nhanh chóng trên thế giới. Đây chính là một điểm thuận lợi cho Việt Nam vì có thể học hỏi kinh nghiệm và nhận được hỗ trợ từ những dự án trước đó.
« Có thể nói là không chỉ có điện mặt trời, mà cả phong điện, chúng ta nhận được rất nhiều hỗ trợ từ các nước phát triển. Ví dụ từ Đức, họ đã có những chương trình về năng lượng tái tạo, và đặc biệt là điện gió, từ những năm 2008 ở Việt Nam.
Đối với điện mặt trời, nhiều tổ chức nước ngoài, như Ngân hàng Thế giới, hoặc các tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ), hoặc tổ chức phát triển của Mỹ, hoặc của Pháp AFD. Hiện AFD có những dự án về phát triển lưới điện cho Việt Nam hoặc những dự án tiết kiệm năng lượng, kể cả những dự án về năng lượng tái tạo cho Việt Nam. Vào đầu tháng Năm (2018), AFD cũng tổ chức một số hội thảo hoặc một số buổi làm việc cùng với các nhà làm chính sách của Việt Nam, cũng như các công ty điện ở Việt Nam để tìm ra những hướng phát triển hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực năng lượng.
Hoặc ngay từ những nước láng giềng như Thái Lan, là một nước rất thành công về phát triển năng lượng mặt trời ở khu vực Đông Nam Á. Tất cả để làm sao cho chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ họ, không chỉ là kinh nghiệm thành công, mà còn cả kinh nghiệm thất bại.
Ngay như Pháp, chúng ta có thể thấy là khoảng 5 đến 6 năm trước, cũng như Tây Ban Nha, họ phát triển năng lượng mặt trời rất nhiều, có nhiều chính sách hỗ trợ. Nhưng sau một thời gian, họ phải tạm ngừng những chính sách hỗ trợ đó để đánh giá lại bởi vì nhiều khi ra một chính sách, không thể khẳng định được rằng nó tốt ngay lập tức được mà phải qua quá trình thực hiện, sau đó mới biết được chính sách đó có tốt hay không và cần bổ sung, chỉnh sửa như nào cho phù hợp với thực tế của từng nước.
Đây cũng chính là một thuận lợi của Việt Nam và hiện nay chúng ta vẫn đang trong giai đoạn hợp tác với các nước để xem làm thế nào có được một chiến lược phát triển tốt nhất cho năng lượng tái tạo nói riêng, cũng như năng lượng cho Việt Nam nói chung ».
Chính phủ Việt Nam sẽ khuyến khích được người dân tự sản xuất và sử dụng điện mặt trời, một mặt nhờ giá thành của các tấm pin mặt trời ngày càng giảm, mặt khác nhờ chính sách mua điện mặt trời dư thừa :
« Sử dụng năng lượng mặt trời ở các hộ gia đình đã có từ lâu rồi, khi mà họ chuyển năng lượng mặt trời sang nhiệt để sử dụng trong bình nước nóng. Và đến thời gian gần đây, khi mà điện mặt trời phát triển với sự phát triển về mặt kỹ thuật, có nghĩa là có tiềm năng lớn, rồi công nghệ phát triển, khiến cho là pin năng lượng mặt trời hiệu quả hơn, thì người dân đã bắt đầu sử dụng.
Nhà nước cũng thấy đây là một lĩnh vực tiềm năng và cũng muốn hỗ trợ cho người dân. Chính vì vậy mà có chính sách từ tháng 06/2017, nếu hộ dân có những tấm pin năng lượng mặt trời kết nối với lưới điện thì Nhà nước cũng trợ giá. Chính vì vậy mà năng lượng mặt trời trong các hộ gia đình cũng rất tăng hiện nay ».
Wed, 16 May 2018 - 16 - Loài kiến : « Những chiến lược gia đáng gờm »
Dân gian có câu : « Kiến tha lâu cũng đầy tổ », hàm ý chỉ sự chăm chỉ, cần cù rồi cũng được đền bù xứng đáng. Thế nhưng, với nhà nghiên cứu Erik Frank, loài kiến còn có nhiều đặc tính thú vị khác. Khi quan sát cuộc chiến giữa loài kiến và mối tại Bờ Biển Ngà, Erik Frank phát hiện ra rằng kiến còn là những binh gia tuyệt vời và có một dịch vụ « quân y » rất hiệu quả.
Không phải giống kiến nào cũng có những « thói quen nhà binh » kiểu ấy. Đặc tính « quân nhân » này đặc biệt chỉ có ở giống kiến có tên khoa học là Megaponera analis, giống kiến Hạ Sahara, những giống kiến càng to khỏe, có chiều dài đôi khi lên đến 2cm. Đây là một trong những giống kiến được cho là rất « hiếu chiến ».
Sau 29 tháng bám lấy tổ kiến từ sáng đến tối, Erik Frank đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ sinh học, chuyên ngành nghiên cứu về Kiến tại trường đại học Wurzburg (Đức) vào tháng Giêng năm 2018, và cho đăng liên tiếp 5 bài nghiên cứu trên một tạp chí khoa học rất có uy tín của Anh, Proceeding B.
Nghiên cứu của anh về giống kiến Megaponera analis khiến báo Le Monde (14/03/2018) phải thốt lên đây quả là « những binh gia đáng gờm ». Quá trình đi săn mồi, tấn công mồi, các công tác hậu chiến của Megaponera chẳng khác gì một chiến dịch quân sự bao gồm các bước : Thăm dò đối thủ, bố trí quân lực, dàn trận, khai chiến, thu gom chiến lợi phẩm, thu nhặt "thương phế binh" và chăm sóc bệnh binh.
Trả lời phỏng vấn Le Monde, anh Erick Frank cho biết điều gì đã thôi thúc anh nghiên cứu về loài kiến này :
« Trong khoảng một tháng, tôi đã nhận thấy rằng những con khỏe mạnh tha về tổ những con bị thương. Nhưng tôi không biết là phát hiện này có thật sự là mới hay không và vì lúc ấy tôi cũng không có mạng Wifi để kiểm chứng, cũng như điện thoại để hỏi giáo sư. Thế là tôi cứ tiếp tục quan sát.
Những con kiến bị thương đó rồi sẽ thế nào ? Ai chuyển chúng đi và bằng cách nào ? Trong một hành trình dài ra sao ? Loài kiến này sẽ tổ chức tấn công như thế nào, bao nhiêu chiến binh, tỷ lệ thương vong trong giao chiến là bao nhiêu ? Để rồi ba tháng sau đó, khi giáo sư của tôi trở về, ông ấy tỏ ra có hứng thú. Ông ấy hỏi ngay là tôi có muốn làm tiến sĩ hay không ».
Xác định mồi và bố trí lực lượng
Với giống kiến Megaponera, miếng mồi ngon nhất chính là mối. Thế nhưng, tổ chức tấn công ổ mối lại không dễ chút nào. Những ụ mối, theo như cách ví von của giới khoa học, giống như là những vương cung thu nhỏ, thành trì vững chắc, có hệ thống điều hòa không khí tự nhiên, và lại rất hòa nhập với môi trường.
Nhưng giống kiến vùng Hạ Sahara này lại hiểu rất rõ là, để có thức ăn, loài mối phải bò ra khỏi cứ địa của mình, đi gom nhặt các vật liệu chết (lá cây, cành, vỏ cây) để cung cấp dinh dưỡng cho những luống nấm của mình. Mối buộc phải tìm chọn cho mình một địa điểm, phủ lên đấy một lớp mai bằng đất để tránh nắng và đương nhiên là cả những kẻ săn mồi, đồng thời nối điểm kiếm ăn với ổ mối bằng một con đường hầm.
Do đó, việc truy tìm địa bàn kiếm ăn của mối chính là nhiệm vụ đầu tiên của kiến "trinh sát". Khi phát hiện được mục tiêu, những con kiến này tiếp cận cẩn trọng, một cách từ từ, để thẩm định số lượng mối được triển khai. « Kiến dọ thám phải tỏ ra thật kín đáo, bởi vì nếu như những con mối canh gác phát hiện ra, chúng sẽ phát tín hiệu báo động và tất cả các con mối sẽ quay về nơi trú ẩn ».
Một khi đã thu thập đầy đủ các thông tin, kiến trinh sát trở về tổ để gây dựng một đạo quân mà nó cần. Khoảng từ 100 đến 600 con sẽ được huy động, xếp hàng hành quân. Đi đầu đàn là kiến trinh sát, nối theo sau là hai hàng sĩ quan phụ trách đánh dấu đường đi bằng cách tiết ra chất pheromone. Kế đến là những con kiến « to », còn có nhiệm vụ bảo vệ tiền tuyến của lực lượng chủ đạo. Phần quân còn lại đi ở phía sau theo từng hàng 4 con, được bọc hậu bởi những con « to » khác.
Dàn trận và giao chiến
Khi đã áp sát mục tiêu, kiến bắt đầu dàn trận. Những con kiến to có thân dài 2cm được xếp vào vị trí tiên phong. Ai tung tín hiệu tấn công ? Điều này anh Erik Frank vẫn chưa rõ. Nhưng bất thình lình cả đội kiến « lớn » cùng lao lên đánh. Mục tiêu là gì ? Phá tan lớp đất phủ do mối dựng nên. Nhiệm vụ được hoàn thành một cách chóng vánh. Tiếp đến là đợt tấn công của những con kiến nhỏ hơn, nhưng đôi càng có đến 5mm cơ bắp.
Về phía loài mối, chúng cũng phải tổ chức phản công, chia thành hai giới. Những chú lính mối có đôi hàm to khỏe xung trận chặn kẻ thù một cách kiên cường, trong khi những con mối thợ tìm cách trở về hầm để đào thoát.
« Hành động kháng cự của chú lính mối thật là anh hùng. Chúng cắn ở bất kỳ đâu có thể, cắt đứt càng và râu, ôm chặt lấy bụng kiến, và không buông ra nữa. Nhưng có những con kiến khác đến tăng viện, chúng cào cấu để cho mối phải nhả ra, đến lượt chúng cắn lại, cho đến khi nào con mối đầu gần lìa thân… Và kiến bao giờ cũng là kẻ thắng trận và tiếp tục lao vào những con mối thợ còn lại. Nhưng đương nhiên, kiến cũng phải trả một cái giá khá cao ».
Theo ghi nhận của Erik Frank, sau mỗi trận như thế, ít nhất có đến 1/3 quân kiến bị thương trong một cuộc giao chiến chỉ kéo dài từ 10-15 phút.
Vận chuyển phế binh
Chính vào lúc này, điều đáng ngạc nhiên nhất diễn ra. Đứng ngoài trong suốt cuộc chiến, những con kiến to khỏe giờ lại bắt tay vào việc. Số thì tha về tổ chiến lợi phẩm, mỗi con có thể tha đến 6 con mối. Số khác thì chuyển thành lính cứu thương, vận chuyển những con kiến bị thương.
« Sau trận đánh, mỗi trận kéo dài từ 10-15 phút, các chú kiến không những bắt đầu thu gom chiến lợi phẩm là những con mối, mà còn thu nhặt cả những con kiến lính bị thương, những con bị mất một hay hai càng. Những con này sau trận đánh đã tiết ra loại chất pheromone để cầu cứu kiến cứu thương đến hỗ trợ. Nhờ vào loại hóa chất này kiến cứu thương có thể đến xem những con bị thương, ngậm chúng vào miệng và tha chúng về tổ».
Những con nào bị thương quá nặng, mất hơn 3 càng thì đành chấp nhận số phận hẩm hiu bị bỏ rơi. Một sự sàng lọc đòi hỏi sự tham gia của chính những con kiến bị thương. Chúng sẽ không phát đi tín hiệu hóa học nào, cũng như không chấp nhận vị thế ưu tiên.
Anh Erik Frank lưu ý : « Đó không phải là một sự hy sinh tình nguyện, một hành động tự phát. Những con kiến này không thể đứng dậy và phát tín hiệu tuyệt vọng được. Nhưng cách hành xử này, mang tính tập thể, dựa trên một cơ chế rất đơn giản, lại có vẻ rất hiệu quả ».
Dịch vụ quân y hiệu quả
Một khi về đến tổ, trách nhiệm được giao lại cho các con kiến « bác sĩ quân y ». Chúng sẽ chăm sóc những con kiến « phế binh » đó như thế nào ? Đến đây, các nhà khoa học Đức đành phải dùng đến một thiết bị camera cực kỳ nhỏ để quan sát 6 ổ kiến được gây dựng trong phòng thí nghiệm.
Những con kiến đóng vai trò « bác sĩ » này phải hành động nhanh và tỉ mỉ, bởi vì chúng chỉ có một giờ để chữa trị, do các vết thương lành sẹo rất nhanh và tình trạng nhiễm trùng sẽ lan toàn thân. Chúng rửa sạch các vết bẩn hay gỡ bỏ những phần còn thừa của mối còn dính trên vết thương bằng cách liếm thật nhiều lên đấy, theo như giải thích của nhà khoa học với đài phát thanh Radio Canada.
« Ngay ở trong các tổ kiến, có những điều mà chúng tôi đã quan sát thấy và chúng tôi cho rằng đây là điều mới mẻ : đó là những con kiến cũng biết chăm sóc vết thương cho con khác, như là dùng móng để lau chùi vết thương hoặc phòng ngừa vết thương bị viêm nhiễm.
Tôi không chắc liệu có thể nói đó là một sự chữa trị thuốc thang hay không bởi vì có thể đó là những chất phòng ngừa giúp rửa vết thương, lau chùi đất, có rất nhiều khả năng để phòng ngừa sự viêm nhiễm. Tuy nhiên, người ta không rõ là vết thương đó đã bị viêm nhiễm rồi hay chưa và các con kiến khác có chăm sóc chống viêm nhiễm bằng chất kháng sinh hay không »
Một thế hệ thuốc kháng sinh tương lai ?
Một câu hỏi khác cũng được Erik Frank và ông K. Eduard Linsenmair, giáo sư hướng dẫn đặc biệt quan tâm : Hiệu quả chữa trị như thế nào ? Để tìm hiểu vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã chọn ra 120 con kiến « phế binh » chỉ mất có hai càng và chia làm ba nhóm : Một số không được điều trị, số khác được đặt vào môi trường vô khuẩn và số còn lại được hưởng chế độ điều trị. Kết quả là : « 80% trong nhóm đầu đều chết trong vòng 24 giờ, 20% tử vong trong nhóm thứ hai và duy chỉ có 10% tử vong trong nhóm thứ ba ».
Kết quả nghiên cứu này của Erik Frank được giới khoa học chuyên nghiên cứu về kiến trên thế giới hoan nghênh. Đây là lần đầu tiên, người ta có thể tập hợp các tài liệu chứng minh một cách khoa học về việc kiến chăm sóc trực tiếp các vết thương cho các con khác đồng loại.
« Chính xác là như vậy. Đây là lần đầu tiên người ta đã nhìn thấy một hệ thống, các bác sĩ, có thể gọi như vậy, cùng với các xe cứu thương của các con kiến. Bởi vì bình thường ra, các con vật chỉ tự chăm sóc các vết thương của bản thân, ví dụ con tinh tinh tự chăm sóc vết thương của nó. Thế nhưng, chăm sóc vết thương cho các con khác thì đây là lần đầu tiên, người ta quan sát thấy được một hệ thống chăm sóc có tổ chức hẳn hoi. »
Erik Frank cho biết thêm trong quá trình làm nghiên cứu sau đại học tại trường đại học Lausanne Thụy Sĩ, anh hy vọng có thể tìm ra lời giải cho những câu hỏi : Những nạn nhân đó chết vì cái gì, hay nói một cách khác bản chất của tình trạng nhiễm trùng là gì ? Thành phần nước dãi mầu nhiệm của kiến có gì ? Bản chất của việc điều trị là phòng bệnh hay chữa bệnh ? Những lời giải này có thể giúp các nhà sinh học khai mở hướng đi tìm ra những thế hệ thuốc kháng sinh mới.
Wed, 21 Mar 2018 - 15 - Hạt « nano » : Bạn hay kẻ thù của con người ?
Những năm gần đây người ta nói nhiều về hạt nano và các ứng dụng của chúng trong cuộc sống loài người. Khen có mà chỉ trích cũng có. Hạt nano hiện diện khắp nơi ngay cả trong các loại sản phẩm có thể tiếp xúc trực tiếp với cơ thể con người như thực phẩm hay mỹ phẩm. Nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe con người vẫn chưa được biết đến. Người ta bắt đầu đặt câu hỏi : « Có nên sợ hay không hạt nano ? ».
Thế giới « nano »
Vậy thật ra « hạt nano » là gì ? Trả lời các câu hỏi của RFI Tiếng Việt, Jean-François Guillemols, giám đốc trung tâm nghiên cứu năng lượng mặt trời thuộc Tập đoàn Điện lực Pháp EDF và thành viên Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp CNRS có giải thích đơn giản như sau :
« Hạt nano phân tử là những hạt phân tử có kích thước của nanomét, tức bằng 1/100 kích thước một sợi tóc. Một kích thước cực kỳ nhỏ đến mức người ta e sợ chúng có thể thâm nhập vào tất cả mọi thứ (…) Những năm gần đây, nhất là trong một thập niên nay, người ta đã có thể bắt đầu chế tạo ra được chúng, kiểm soát được chúng, thậm chí là sử dụng cả chúng nữa. Chính vì thế chúng ta có thể thấy chúng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực ».
Thuật ngữ « nano » bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ XX trong giới công nghiệp. Có nguồn gốc Hy Lạp cổ, «nano » có nghĩa là « lùn », « nhỏ bé », và thuật ngữ này giờ đã đi vào trong đời sống thường ngày của chúng ta và làm nảy sinh ra một dạng từ vựng : công nghệ nano, ngành khoa học nano, máy móc nano, phòng thí nghiệm nano, mỹ phẩm nano, hạt phân tử nano, vật liệu nano… Nói tóm lại, xin chào mừng quý vị đến với thế giới nano !
«Người ta có thể tìm thấy các hạt nano trong các loại trang thiết bị ; các loại mỹ phẩm trang điểm như kem chống nắng, kem đánh răng ; trong các loại sơn… Trong y khoa, hạt nano được sử dụng như là một chất chỉ thị, cho phép quan sát và nghiên cứu chức năng các cơ quan sinh học để đưa các chẩn đoán y khoa. Hay như người ta cũng có thể tìm thấy hạt nano trong các mạch điện tử… Nói tóm lại, trong cuộc sống thường nhật hạt nano có mặt khắp nơi, ví dụ trong một số mặt hàng may mặc, người ta sử dụng hạt nano bạc để chống khuẩn. »
Lợi và hại của « nano »
Nhờ có nhiều các đặc tính vật lý, hóa học, điện, điện từ, nên công nghệ nano cho phép phát triển các loại nguyên vật liệu mang các đặc tính mới như có tính dẫn điện và nhiệt, có độ dẻo và độ bền cao. Do vậy, chất lượng các loại đồ vật mang công nghệ nano hoàn toàn khác hẳn so với những món đồ có cùng thành phần được sản xuất theo kỹ thuật truyền thống.
Có thể nói « hạt nano » có muôn vàn ứng dụng tiện ích và được sử dụng rộng rãi đến mức dường như hầu hết các sản phẩm xung quanh ta đều có mặt hạt nano. Câu hỏi đặt ra : Phải chăng là chúng ta đang bị « ngụp lặn » trong thế giới nano ? Liệu cơ thể con người có bị « quá tải » hạt nano hay không, bởi vì ngoài những hạt nano « nhân tạo », cơ thể chúng ta bình thường cũng đã hấp thụ phần nào các loại hạt nano « tự nhiên ».
«Người ta nói nhiều về các hạt nano là bởi vì ngày nay chúng ta biết cách nhận dạng, chế tạo cũng như là biết cách sử dụng chúng. Tuy nhiên, chúng ta lại không biết rằng có nhiều vật chất có kích thước nanomet đã hiện hữu tự nhiên trong môi trường mà chúng ta tiếp xúc hàng ngày trong cuộc sống, trong lúc hít thở, ăn uống…
Thế nhưng cơ thể chúng ta cũng đã quen thuộc với các hạt nano « tự nhiên » này rồi. Do đó, mọi tranh luận hiện nay về hạt nano chủ yếu có liên quan đến các loại hạt nano « nhân tạo ». Bởi vì người ta nghi ngờ về những loại hạt do chúng ta tạo ra mà không hề tồn tại trong môi trường. Họ nghi ngờ về tính không độc hại của chúng cho sức khỏe con người».
Quả thật, tính độc hại của các hạt nano đối với con người ra sao hiện vẫn chưa được khoa học chứng minh. Thế nhưng, các đặc tính cũng như cách thức phản ứng của các chất nano đang làm dấy lên nhiều mối quan ngại. Các loại chất như nhôm, chì, titan dioxit hay như sắt oxit, với kích thước nano, có thể thâm nhập dễ dàng và đi sâu vào trong cơ thể. Các loại chất này dễ dàng vượt qua các lớp bảo vệ tự nhiên như da hay các màng, và tích tụ trong cơ thể. Vậy chúng ta nên ủng hộ hay nên từ bỏ hoàn toàn việc dùng đến các hạt nano ?
« Quả thật, những gì mà người ta gọi là hạt nano chỉ là một thuật ngữ chỉ chủng loại, dùng để chỉ kích cỡ, kích thước một vật chất cực kỳ nhỏ. Vậy có nên chống hay ủng hộ việc sử dụng hạt nano chẳng có liên quan gì đến kích thước của vật chất mà phải xem xem đó là loại hạt phân tử gì, bởi vì chúng hiện diện khắp nơi. Do đó cần phải xem xét từng trường hợp, nhất là đối với các hạt nano tự do phân tán trong không khí, vốn dĩ có thể thâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp.
Nếu như đó là những hạt nano mới, bởi vì có một số loại hạt mà cơ thể chúng ta đã quen thuộc như trong nước hay không khí…, thì những hạt nano mới có thể gây ra các chứng dị ứng. Hiện tại chúng ta chưa biết được tác động của các loại hạt nano mới lên các loài sinh vật. »
Một dạng chất thải mới cho môi trường ?
Ngoài những nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe con người cho đến giờ vẫn chưa được khoa học kiểm chứng, việc sử dụng ồ ạt các hạt nano trong mọi lĩnh vực đời sống con người đang đặt ra một thách thức mới cho môi trường.
«Đó là những thứ được thải ra môi trường như các loại phân tử, các loại thuốc hay như các loại rác thải khác. Đó là một phần chất thải cực kỳ nhỏ. Ở một khía cạnh nào đó, việc dùng công nghệ nano cho phép sử dụng ít hơn các chất liệu, và như vậy cũng hạn chế rác thải ra môi trường.
Ngược lại, công nghệ nano lại làm tăng lượng hạt nano phân tán trong môi trường. Đây là một dạng chất thải mới. Người ta sản xuất ít hơn nhưng chúng lại có một tác động mới lên môi trường mà chúng ta vẫn chưa biết rõ. Một số chất xúc tác, có chứa kim loại nặng, có thể đồng hóa một cách khác đi so với các loại chất thải khác mà chúng ta tạo ra cho dù chúng có cùng một thành phần hóa học ».
Về điểm này, nhà nghiên cứu về độc tính học, bà Francelyne Marano, thành viên của Hội Đồng Sức Khỏe Công Cộng, có khuyến nghị rằng các nhà sản xuất không nên đưa vào thị trường các dòng sản phẩm nano mà chưa qua thử nghiệm. Cũng như mọi tiến bộ khoa học khác, lợi và hại của công nghệ nano đều phải được đưa ra tranh luận để có được một thông tin minh bạch, qua việc phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, các nhà sản xuất công nghiệp và người dân.
Chính trong mối lo này, ngày 23/01/2018, Hiệp Hội Bảo Vệ Người Tiêu Dùng của Pháp, UFC – Que Choisir đã thông báo kiện 9 tập đoàn công nghiệp lớn của Pháp. Hiệp hội cáo buộc những hãng này đã đưa ra thị trường các loại thực phẩm và mỹ phẩm, mà không ghi rõ sự hiện diện dày đặc các hạt «nano», theo như quy định của nước Pháp và Liên Hiệp Châu Âu.
Wed, 07 Feb 2018
Podcasts ähnlich wie Tạp chí khoa học
Closing Bell CNBC
CNBC's "Fast Money" CNBC
Power Lunch CNBC
El Partidazo de COPE COPE
Herrera en COPE COPE
Es la Mañana de Federico esRadio
La noche de Cuesta esRadio
Hondelatte Raconte Europe 1
Au Coeur du Crime Europe1
Affaires sensibles France Inter
LEGEND Guillaume Pley
LA TREMENDA CORTE Mario G Fuentes
Les grands dossiers de l'Histoire par Franck Ferrand Radio Classique
Entrez dans l'Histoire RTL
Le grand récit RTL
Les Grosses Têtes RTL
L'Heure Du Crime RTL
El Larguero SER Podcast
SER Historia SER Podcast
Todo Concostrina SER Podcast
Un Libro Una Hora SER Podcast
Dossiers OVNI Les dossiers OVNI
BBC Inside Science BBC Radio 4
Choses à Savoir SCIENCES Choses à Savoir
Thinkerview Thinkerview
Entre mystères & secrets : la fascinante histoire des OVNIS RTBF
El colegio invisible OndaCero
Espacio en blanco Radio Nacional
Mystères et étoiles Zebroloss
La Rosa de los Vientos OndaCero
Muy Interesante - Grandes Reportajes Zinet Media
Face cachée – Aux frontières du phénomène OVNI/UAP/PAN Hélène
TED en Français TED Audio Collective
Unexplained iHeartPodcasts
Geopop - Le Scienze nella vita di tutti i giorni Geopop
BBC Gardeners’ World Magazine Podcast Immediate Media
الأعمال الكاملة لـ د. مصطفى محمود Podcast Record
ZOE Science & Nutrition ZOE
TED Radio Hour NPR
Astronomie - En route vers les etoiles Radio RVE - Association Albiréo78 - Lionel Bourhis