Filtrar por gênero

Tạp chí kinh tế

Tạp chí kinh tế

RFI Tiếng Việt

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

290 - 100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ giúp Venezuela trở thành một cường quốc dầu hỏa thế giới ?
0:00 / 0:00
1x
  • 290 - 100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ giúp Venezuela trở thành một cường quốc dầu hỏa thế giới ?

    Ngày 28/08/2026 tổng thống Donald Trump loan báo Hoa Kỳ đầu tư 100 tỷ đô la vào ngành dầu hỏa Venezuela để đổi lấy quyền khai thác 17 mỏ dầu chiến lược của nước này trong 100 năm. Tại Caracas, quyền tổng thống Delcy Rodriguez nói đến một thỏa thuận « lịch sử » cho phép Venezuela thu hơn 200 tỷ đô la tiền thuế. Với 100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ, Venezuela thực hiện giấc mơ trở thành một nguồn cung cấp dầu hỏa lớn nhất thế giới, ngang hàng với Ả Rập Xê Út ?

    Nói chuyện với báo chí, tổng thống Trump khẳng định : Mỹ sẽ « trở nên giàu có, Venezuela cũng vậy». Trước đó trên mạng xã hội cá nhân Truth Social nguyên thủ Mỹ giải thích : Ngoại trưởng Marco Rubio cùng với bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, Pete Hegseth đã tiến hành đàm phán với Venezuela và đạt được kết quả cụ thể là Mỹ huy động 100 tỷ đô la đầu tư tư nhân, để giành quyền kiểm soát 65 tỷ thùng dầu trong dự trữ của Venezuela và như vậy, trong tương lai, « tổng dự trữ dầu hỏa của Mỹ sẽ được nhân lên gấp đôi » so với hiện tại.

    Quyền tổng thống Venezuela, bà Delcy Rodriguez phấn khởi thông báo với toàn dân viễn cảnh 100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ sẽ mang lại công việc làm cho người dân, nhân viên ngành dầu mỏ được trả lương cao hơn, với nguồn thu  nhập trong tương lai mà dầu hỏa mang lại cho đất nước, chính quyền sẽ bảo đảm cho người dân những dịch vụ công cộng tốt hơn, đầu tư vào giáo dục, người dân sẽ được ấm no … Bà kết luận :  « Đầu tư của Mỹ sẽ là mộtđòn bẩy, một cú hích mạnh mẽ » cho phép Venezuela cất cánh.

    Tính bất thường trong thỏa thuận 

    Trên đài truyền hình Arte, chuyên gia về năng lượng Francis Perrin, thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp thận trọng hơn rất nhiều trước những tuyên bố rất lạc quan từ phía tổng thống Donald Trump cũng như quyền tổng thống Delcy Rodriguez. Ông đồng thời nêu bật « tính bất thường » trong thỏa thuận về dầu hỏa giữa Mỹ và Venezuela lần này. Đó là sự can thiệp của chính quyền Washington : 

    « Trong lĩnh vực năng lượng và dầu hỏa, tầm nhìn thuộc về trung và dài hạn. Điều đó có nghĩa là Venezuela không sản xuất được một giọt dầu nào trước bầu cử giữa kỳ năm nay, sang năm tới hay năm 2028 và kể cả trước cuối nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump. Thỏa thuận giữa Washington và Caracas liên quan đến 17 mỏ dầu với tiềm năng rất lớn. Nhưng đó là một thỏa thuận giữa hai Nhà nước và sau đó còn phải thuyết phục các nhà đầu tư huy động vốn. Đó là những tập đoàn tư nhân. Đừng quên rằng để khai thác dầu của Venezuela, cần 100 tỷ đô la đầu tư. Câu hỏi đặt ra là liệu rằng ba tập đoàn dầu hỏa lớn nhất của Mỹ (ExxonMobil, Chevron và ConocoPhillips) có muốn bỏ vốn vào Venezuela hay không. Cái đó còn phải đợi xem đã. Điểm thứ hai là nét đặc thù của thỏa thuận này liên quan đến vai trò của chính phủ Mỹ. Chính quyền liên bang trực tiếp can thiệp ở ba cấp độ khác nhau : thứ nhất là tham gia khoảng 35 % , tỷ lệ này còn phải được xác định lại, vốn của một tập đoàn dầu hỏa tư nhân Venezuela. Thứ hai là chính Lầu Năm Góc, tức bộ Quốc Phòng Mỹ đứng ra bảo lãnh cho việc huy động vốn. Điều kiện thứ ba là Mỹ đã điều đình để trong tương lai, có thể mua lại 20 % sản lượng dầu của Venezuela với giá thành chứ không phải là với giá thị trường ».

    Trên đài RFI Pháp ngữ, Rafael Ramirez cựu bộ trưởng bộ Dầu Hỏa Venezuela, nguyên chủ tịch Tập Đoàn Dầu Hỏa Quốc Gia PDVSA trả lời câu hỏi liệu « thỏa thuận lịch sử » mà nguyên thủ Hoa Kỳ và lãnh đạo Venezuela cùng nói tới có lợi cho Venezuela hay không :  

    « Không, không, không. Hoàn toàn là không. Thỏa thuận này là một tai họa, đi ngược lại với tất cả lợi ích của Venezuela.Trong lịch sử nền công nghiệp dầu hỏa quốc gia, thì đây là một bước thụt lùi : Mỹ tước đoạt quyền kiểm soát 65 tỷ thùng dầu của Venezuela, tương đương với 21 % dự trữ dầu hỏa quốc gia. Hoa Kỳ hành xử như thể Venezuela là một tỉnh trực thuộc chính quyền liên bang ở Washington. Đây không hơn không kém là một hành vi tịch thu tài sản của Venezuela (…) Hợp đồng 100 năm thực ra là một hành động cướp đoạt trái phép, nhất là khi mà có sự can thiệp trực tiếp của Lầu Năm Góc, tức là của quân đội Hoa Kỳ. Đây là một mô hình thực dân mới mà Mỹ đang áp dụng từ hôm 03/01/2026 khi oanh kích Venezuela  và quân đội Venezuela  thì lại hoàn toàn không kháng cự. Chính quyền Caracas trong tay tổng thống Delcy Rodriguez lại tuyên bố sẵn sàng thực hiện tất cả những yêu sách của Washington … Venezuela từ đó đến nay bị đặt dưới sự bảo hộ của Mỹ ».

    Quyền tổng thống Venezuela cố gắng trình bày thỏa thuận về dầu hỏa ký kết với Washington như một thắng lợi đem lại sự thịnh vượng cho nhân dân và cho quốc gia Nam Mỹ này và nhất là bảo đảm chủ quyền của Venezuela. Tuy nhiên trong lúc tổng thống Donald Trump  nói đến quyền hạn khai thác dầu hỏa của Venezuela trong vòng 100 năm thì lãnh đạo Venezuela lại chỉ nên lên thời hạn là 25 năm mà thôi. Đây là khác biệt đầu tiên đáng chú ý nhất. Hiện tại các chuyên gia và báo chí chưa thể xác định thời hạn Mỹ khai thác dầu của Venezuela là bao lâu.

    Venezuela : Tiềm năng trở thành nhà cung cấp lớn nhất thế giới

    Theo các thống kê chính thức do Caracas cung cấp, Venezuela hiện đang có nguồn dự trữ dầu lớn nhất thế giới còn đợi được khai thác. Dự trữ tiềm ẩn của Venezuela ước tính là hơn 300 tỷ thùng dầu tức là còn cao hơn cả so với dự trữ của Ả Rập Xê Út (267 tỷ thùng) hay Iran (208 tỷ thùng dầu). Để so sánh, Mỹ đang cất giấu khoảng 45 tỷ thùng dầu chưa được khai thác (Nga là 80 tỷ thùng).

    Với một trữ lượng lớn như vậy nhưng Venezuela hiện tại chỉ sản xuất chưa tới 1 triệu thùng dầu mỗi ngày trong lúc Ả Rập Xê Út cho đến trước khi nổ ra chiến tranh Iran và eo biển Hormuz bị phong tỏa, lại sản xuất được hơn 9 triệu thùng mỗi ngày mà phần lớn trong số đó là để cung cấp cho thế giới. hơn 13 triệu thùng dầu cũng được sản xuất tại Mỹ nhưng chủ yếu là để phục vụ thị trường nội địa.

    Vành đai Orinoco

    Nhìn kỹ hơn, các mỏ dầu của Venezuela tập trung ở khu vực miền bắc trong vùng được gọi là Vành đai Orinoco, trải rộng trên diện tích khoảng 55.000 cây số vuông và đây chính là nơi có những mỏ dầu Mỹ đang nhắm tới. « 17 mỏ dầu chiến lược » trong thỏa thuận Washington - Caracas ông Trump nhắc đến hôm 28/08/2026 tập trung cả ở khu vực này.

    Tại khu vực Vành đai Orinoco, hiện đã có sẵn từ các nhà máy lọc dầu đến hệ thống các đường ống dẫn. Có điều cơ sở hạ tầng tại đây đã bị xuống cấp đáng kể từ nhiều thập niên qua. Công nghiệp dầu hỏa của Venezuela bị Hoa Kỳ trừng phạt từ 2014 dưới thời tổng thống đảng Dân Chủ Barack Obama. Chính quyền Trump trong nhiệm kỳ đầu, vào năm 2019 đã ban hành lệnh cấm vận dầu hỏa Venezuela. Điều đó không cấm cản Caracas lách lệnh trừng phạt của Mỹ và đã tiếp tục xuất khẩu dầu cho nhiều đối tác, quan trọng nhất là Trung Quốc và Cuba.

    Cần 183 tỷ đô la để trở lại với thời kỳ của năm 1997

    Một điểm quan trọng khác đó là khả năng sản xuất và thị phần của Venezuela trên thị trường quốc tế ngày càng bị thu hẹp : năm 1997 Venezuela sản xuất hơn 3,5 triệu thùng dầu mỗi ngày, chiếm 7 % sản lượng toàn cầu. Năm 2024, dù hoạt động hết công suất mỗi ngày, các nhà máy của Venezuela chỉ có thể cung cấp hơn 900 ngàn thùng dầu.

    Sự sụt giảm đó là hậu quả của hơn 20 năm thiếu đầu tư vào công nghiệp dầu hỏa dưới nhiệm kỳ của cố tổng thống Hugo Chavez (cuối 1999-2013) và nhất là dưới nhiệm kỳ của tổng thống Nicolas Maduro (2013-2026) khi mà đảng cầm quyền cánh tả PSUV xem công nghiệp dầu hỏa và nhất là tập đoàn dầu hỏa quốc gia như « máy rút tiền » : PDVSA được đặt dưới sự quản lý của quân đội và từ 2001 Caracas cho ra đời một đạo luật mới cho phép Nhà nước Venezuela « quốc hữu hóa » các tập đoàn khai thác tài nguyên - kể cả các công ty ngoại quốc.

    Dưới thời tổng thống Nicolas Maduro - cho đến hôm 03/01/2026 khi bị áp giải sang Mỹ, GDP Venezuela giảm 70 %, 80 % dân số tại quốc gia được cho là có dự trữ dầu hỏa lớn nhất thế giới, còn hơn cả so với vương quốc dầu hỏa trong Vùng Vịnh là Ả Rập Xê Út lại sống trong cảnh bần cùng, theo các thống kê của Liên Hiệp Quốc. Tệ hơn nữa trong gần 13 năm, một phần tư dân số Venezuela đã bỏ xứ ra đi, trong đó có không ít thành phần tinh hoa và các kỹ sư dầu mỏ.

    Thập niên 2000 cũng là thời điểm mà hai trong số ba tập đoàn dầu hỏa lớn nhất của Mỹ (là ExxonMobil, Chevron và ConocoPhillips) đã rút khỏi Venezuela, nay chỉ còn lại có Chevron. Vào lúc mà các hãng của Mỹ rời Venezuela để phản đối Caracas « tịch thu tài sản » các công ty nước ngoài thì cùng với Chevron của Mỹ, tập đoàn năng lượng Trung Quốc Sinopic và Eni của Ý vẫn tiếp tục cộng tác với chế độ Chavez rồi Maduro.

    Phát triển dầu hỏa : Venezuela cần thời gian

    Thỏa thuận với Mỹ có cho phép công nghiệp dầu hỏa của Venezuela « cất cánh » hay không ? Trước mắt các chuyên gia không mấy lạc quan.

    Các cơ sở hạ tầng của Venezuela đang ở trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, đến mức nước này chỉ sản xuất được 1% lượng dầu thô của thế giới và ai cũng biết, dầu của Venezuela là một loại dầu nặng, khó khai thác và khó kiếm lời.

    Venezuela đã chứng minh nắm giữ 17 % trữ lượng dầu trên thế giới nhưng để khai thác được nguồn dầu này, cần phải đầu tư với quy mô rất lớn. Thỏa thuận giữa Washington và Caracas cuối tháng 8/2026  đòi hỏi huy động 100 tỷ đô la vốn đầu tư tư nhân. Trước mắt, ngoài Chevron đã liên tục hiện diện tại Venezuela từ 1923 đến nay, hai « ông khổng lồ »  trong ngành dầu khí của Mỹ là ExxonMobil và ConocoPhillips không mấy hào hứng với việc trở lại các giếng dầu trong Vành đai Orinoco.

    Chủ tịch ExxonMobil từng tuyên bố vẫn xem Venezuela là điểm khó để đầu tư. Sự ổn định chính trị tại Caracas cũng là một ẩn số khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế (ngoại trừ Sinopec của Trung Quốc, hay Eni của Ý và gần đây hơn là Shell, -liên doanh giữa Anh Quốc và Hà Lan, Repsol của Tây Ban Nha) lo ngại.

    Yếu tố chính trị tại Mỹ trong quyết định đầu tư của các tập đoàn Hoa Kỳ

    Một yếu tố quan trọng khác khiến bản thân các tập đoàn dầu hỏa Mỹ do dự trước khi quyết định bỏ vốn vào Venezuela liên quan đến nguy cơ phải trực tiếp cạnh tranh với một hãng của Mỹ được chính phủ yểm trợ.

    Vào lúc mà tổng thống Trump mở ra viễn cảnh, Hoa Kỳ kiểm soát 1/5 dự trữ dầu hỏa của Venezuela sau này thì hai « ông lớn » ExxonMobil và ConocoPhillips thận trọng trước thông báo chính Lầu Năm Góc - tức là bộ Quốc Phòng Mỹ sẽ yểm trợ cho tập đoàn tư nhân North American Blue Energy Parteners-Nabep. Bộ Quốc Phòng Mỹ kiểm soát 35 % vốn của Nabep và công ty tư nhân này tham gia liên doanh với một tập đoàn của Venezuela trong dự án 100 năm khai thác dầu tại 17 mỏ chiến lược trong Vành Đai Orinoco. Nabep lại do một nhà tỷ phú Venezuela rất thân cận với các chính trị gia ở Caracas điều hành.

    Khúc mắc chính ở đây theo giới quan sát là trong thỏa thuận Washington-Caracas, chính quyền Trump dự trù huy động đầu tư của những tập đoàn dầu khí tư nhân để giành quyền kiếm soát 65 tỷ thùng dầu của Venezuela trong vòng 100 năm. Liệu đây sẽ là một sự « cạnh tranh bất bình đẳng giữa các tập đoàn dầu hỏa của Mỹ » ?

    Để kết luận, có thể nói, có ít nhất 4 yếu tố cho thấy giấc mơ trở thành một cường quốc dầu hỏa của thế giới của chính quyền Caracas hãy còn xa vời : Chưa chắc những mỏ dầu đầy tiềm năng của Venezuela đủ sức thuyết phục các tập đoàn tư nhân Mỹ đầu tư 100 tỷ đô vào quốc gia Nam Mỹ này. Bản chất dầu hỏa của Venezuela « nặng và quánh đặc » đòi hỏi những kỹ thuật để khai thác, bơm và lọc dầu đặc biệt … điều đó đồng nghĩa với việc giá thành sẽ cao hơn so với dầu khai thác ở những nơi khác. Đây là lý do thứ hai khiến các nhà đầu tư thận trọng.

    Điểm thứ ba là lịch sử từng chứng minh rằng, những bất ổn chính trị khiến Venezuela không là một điểm đến an toàn. Hiện tại ExxonMobil vẫn còn hơn 2 tỷ đô la vốn đầu tư bị « kẹt » lại trong các dự án ở Venezuela. Chevron sở dĩ đã trụ lại ở Venezuela từ 2005 đến nay, bởi đã đầu tư hơn 12 tỷ đô la vào những mỏ « tiềm năng » tại quốc gia Nam Mỹ này. 

    Cuối cùng, cơ sở hạ tầng của Venezuela hiện đã xuống cấp đến mức, để tìm lại được mức sản xuất và cung cấp 3,5 triệu thùng dầu một ngày như thời điểm 1997, lập tức Caracas cần 183 tỷ đô la vốn đầu tư. Đó là một số tiền quá lớn và khó có thể xoay xở trong một sớm một chiều. Do vậy giới trong ngành kết luận rằng giấc mơ của Caracas trở thành một « giếng dầu » cho thế giới hãy còn xa vời.

    Vẫn còn 100 câu hỏi chung quanh khoản đầu tư 100 tỷ đô la của Mỹ vào Venezuela.

    Tue, 06 Oct 2026
  • 289 - Vận tải đường biển qua Bắc Cực : Thách thức và cơ hội

    Cách nhau đúng một tuần, Trung Quốc và Hàn Quốc cùng mở tuyến vận tải đường biển qua Bắc Cực, Northern Sea Route -NSR nối liền hai quốc gia Đông Bắc Á này với châu Âu. Sự kiện làm dấy lên nhiều hy vọng cho giao thương hàng hải trong bối cảnh chiến sự làm xáo trộn khu vực Hồng Hải, eo biển Hormuz bị phong tỏa. Con Đường Phương Bắc không chứng minh được khả năng sinh lời. Đây trước hết là một tính toán « chiến lược và chính trị ».  

    Phần lớn lộ trình NSR bọc theo bờ biển phía đông nước Nga : Các hãng vận tải đường biển châu Âu không muốn bị phụ thuộc vào Nga vốn đang bị nhiều nước phương Tây trừng phạt kinh tế. Bắc Kinh với một « tầm nhìn xa » muốn tận dụng mối quan hệ tốt đẹp với Matxcơva để vừa chen chân vào Bắc Cực, vừa giảm bớt áp lực tại một vùng biển nhậy cảm như eo biển Malacca.

    Đối với tổng thống Vladimir Putin, NSR trước hết là công cụ để phá vỡ thế cô lập và chận đứng các đòn trừng phạt mà phương Tây ban hành từ 2014, khi Matxcơva chiếm bán đảo Crimée của Ukraina.

    Rút ngắn thời gian giao hàng bằng mọi giá ?

    Với hai chuyến tàu, tập đoàn Trung Quốc Sea Legend và Hàn Quốc PanStar - khởi hành ngày 15 và 22/08/2026, đã làm dấy lên hy vọng thu ngắn 1/3 lộ trình và 20 % thời gian cho những chuyến tàu kết nối châu Á với châu Âu qua Bắc Cực và Bắc Băng Dương. Cả hai góp phần « mở đường » cho một tuyến hải trình mới. 

    Công ty vận tải biển Trung Quốc thậm chí còn thông báo từ nay cho đến « giữa tháng 9/2026 », tức là khi tuyết đóng băng, bảo đảm dịch vụ định kỳ với tần suất mỗi tuần một chuyến khởi hành từ Ninh Ba đến cảng Felixstowe tại Anh Quốc. Nhưng sau chuyến tàu duy nhất đã được rầm rộ loan báo, vẫn chưa thấy Sea Legend thông báo những chuyến tiếp theo.

    Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung từng vinh danh Acro là con tàu « tiên phong, khai mở một trục giao thương  mới lên Bắc Cực »nhưng cho dù tàu Acro của hãng vận tải PanStar đã cập bến an toàn từ hôm 11/09/2029, Seoul khá kín tiếng về « sự khai mở » quan trọng này.

    Tuyến hải trình cho tàu container

    Trả lời đài RFI Tiếng Việt, Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR ghi nhận, đằng sau sự hồ hởi ban đầu, các hãng vận tải đường biển đang phải cọ sát với một thực tế : NSR không đáp ứng nhu cầu giải tỏa căng thẳng trên thị trường năng lượng cho Trung Quốc, không chứng minh được khả năng sinh lời và trước mắt còn rất nhiều rủi ro trong việc khai thác hành trình qua Bắc Băng Dương và Bắc Cực. 

    Paul Tourret : « Từ khoảng 15-20 năm nay, Nga bắt đầu phát triển tuyến hàng hải đi qua Bắc Cực, cho phép rút ngắn hành trình nối liền châu Âu và Viễn Đông của Nga. Trên thực tế con đường biển này chỉ liên quan đến Bắc Âu và Đông Bắc Á, chính xác hơn là liên quan đến các vùng miền bắc Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Cần biết là tuyến đường phương bắc chủ yếu là để vận chuyển hàng hóa chứ không phải để chở năng lượng hay nguyên liệu. Cho nên việc mở thêm lộ trình phương Bắc này không giúp giải tỏa căng thẳng dầu khí do xung đột ở Trung Đông, eo biển Hormuz bị phong tỏa gây nên.

    Ngược lại tuyến đường qua Bắc Băng Dương một khi đi vào hoạt động sẽ rất có ý nghĩa với vận chuyển container, cho phép rút ngắn hành trình. Tuy nhiên với các tuyến tàu chở hàng, việc đi qua nhiều thành phố cảng như Thượng Hải, Sài Gòn rồi Singapore cũng có nhiều lợi thế : Tàu có thể nhận thêm hàng hay dỡ hàng trong suốt hành trình. Do vậy, ngành vận tải container không nhất thiết cần một tuyến đường nhanh ở phía Bắc. Nếu muốn vận chuyển nhanh thì có thể sử dụngđường sắt xuyên qua lãnh thổ Nga, hay qua ngả hàng không ».

    RFI : Thu ngắn hành trình và thời gian trên biển là hai lợi thế đầu tiên của dự án con đường giao thương phương Bắc, bên cạnh những rủi ro chiến tranh như tình hình ở eo biển Hormuz và Hồng Hải … nhưng rút ngắn thời gian trên biển liệu có là yếu tố quan trọng nhất hay không ?

    Paul Tourret : « Kể từ cuối năm 2023, vì chiến tranhGaza rồi việc lực lượng Houthi ở Yemen tham gia vào cuộc xung đột, ngày càng ít tàu container đi qua Hồng Hải (…)Vì lý do an toàn, các hãng vận chuyển đường biển tránh eo biển Hormuz và chọn đi vòng qua phía nam châu Phi, qua mũi Hảo Vọng.Đúng là hành trình giữa Trung Quốc và châu Âu hay Trung Quốc với Mỹ mất thêm khoảng một tuần. Trước đây thời gian vận chuyển khoảng 25–28 ngày, giờ đây cần khoảng 35 ngày, trong khi nếu đi theo tuyến phía Bắc -qua Bắc Băng Dương thì chỉ khoảng 15 ngày. Tuy vậy cần hiểu rằngngành vận tải container gắn liền với các hoạt động phân phối hàng hóa một cách rộng rãi.Và trong lĩnh vực phân phối ở quy mô lớn, ngoại trừ ngành dệt may và những linh kiện giữa châu Á và châu Âu, đối với phần còn lại, nhìn chung không phải lúc nào cũng có nhu cầu vận chuyển nhanh hàng hóa hay phải đạt tốc độ cao. Cho nên không nhất thiết phải có một tuyến đường hàng hải phương Bắc ».

    NSR không là một « giải pháp thay thế »

    RFI : Khu vực Bắc Băng Dương thuộc khí hậu là môi trường khắc nghiệt, thời gian tàu thuyền có thể qua lại khu vực này chỉ kéo dài vài tháng trong năm. Trái đất bị hâm nóng được coi là thuận lợi cho việc khai thác tuyến đường NSR nhưng hiện tượng tan băng cũng là một rủi ro rất lớn đối với tàu thuyền qua lại khu vực này, chẳng hạn như hiện tượng băng trôi ….  

    Paul Tourret : « Vâng đúng là thời gian để khai thác tuyến hàng hải này trong năm khá hạn hẹp. Nhờ hiện tượng trái đất bị hâm nóng, cho nên cách nay 40 hay 50 năm, mới khoảng tháng 8- 9 là tất cả đã đóng băng, giờ đây mùa hè rõ ràng là đã được kéo dài hơn, và khả năng vận hành mở ra từ tháng 5 đến khoảng tháng 10.

    Tuy nhiên một tuyến đường hàng hải chỉ có lợi và dễ được chiếu cố, nếu giá vận chuyển không quá đắt. Chúng ta đang bàn về một tuyến giao thương ở Bắc Băng Dương, một vùng nước nguy hiểm và còn xa lạ với giới trong ngành.  Khí hậu ở đây khắc nghiệt, với những hiện tượng cực đoan, băng trôi  … cho nên các hãng vận tải  đường biển cần trang bị tàu phá băng, sử dụng tàu chuyên dụng và nhất là cần những phương án cứu hộ riêng : Thí dụ như nếu tàu gặp vấn đề về động cơ ở vùng biển này, thì trước khi lực lượng cứu hộ có thể đến được, sẽ mất khá nhiều thời gian ; hoặc tàu có thể phải được tàu phá băng hộ tống. Các thủy thủ cũng cần được đào tạo một cách phù hợp với tuyến hàng hải đặc biệt này. Với những rủi ro lớn như vậy, chi phí bảo hiểm cũng sẽ rất cao….

    (...) Hiện chưa có các nghiên cứu về khả năng sinh lời của dự án nhưng câu hỏi chính là nếu đi qua Bắc Cực thì giá vận chuyển một tấn hàng sẽ lên đến bao nhiêu. Nếu đi qua các ngả truyền thống, -mà chúng tôi gọi là tuyến đường hàng hải phương Nam, với giá là 2000 đô la, tuy rằng đây sẽ là chuyến đi dài ngày và tốn kém nhưng trong trường hợp phí tốn khi đi qua tuyến phương Bắc cao gấp đôi thì liệu rằng tính toán đó có lợi hay không ? Câu trả lời sẽ là có nếu như cần giao hàng gấp và những phí tổn phụ trội đương nhiên sẽ do bên khách hàng chi trả.

    Bên cạnh đó còn có vấn đề liên quan đến hình ảnh và uy tín của một tập đoàn vận chuyển đường biển. Ai cũng biết mở thêm tuyến đường qua Bắc Băng Dương sẽ gây ô nhiễm (làm ô nhiễm nguồn nước và không khí) và tàn phá môi trường, phá hoại môi trường sống của các loại sinh và động vật trong khu vực … cho nên có nhiều hãng không muốn thương hiệu của họ bị công luận đả kích là thiếu thân thiện với môi tường và thiên nhiên. Năm 2019 nhiều hãng vận tải đường biển châu Ấu đã từ chối tham gia dự án đi qua Bắc Băng Dương. Tránh để bị quy trách nhiệm làm hâm nóng trái đất ».

    Mở rộng ảnh hưởng của Nga

    RFI : Tránh để hình ảnh của công ty bị hoen ố vì tàn phá môi trường chỉ là một trong số nhiều lý do khiến các nước phương Tây đứng ngoài các dự án khai thác tuyến đường phương Bắc. Từ 1987 lãnh đạo Liên Xô Michail Gorbatchev đã đề nghị « mở một tuyến đường hàng hải phương Bắc cho các tập đoàn nước ngoài ». Phải chăng Matxcơva giờ đây xem NSR là công cụ giải tỏa áp lực từ các biện pháp trừng phạt của phương Tây khi mà một phần lớn tuyến đường hàng hải này phải đi qua các vùng đặc quyền kinh tế của Nga ?  

    Paul Tourret : « Đây là cả một vấn đề. Thực ra tuyến hàng hải Bắc Cực là một dự án được Nga khởi động khoảng cuối những năm 2000, khi mà Nga và Vladimir Putin bắt đầu đóng một vai trò quan trọng hơn về mặt địa chính trị và cả trong lĩnh vực địa –kinh tế. Năm 2014 Nga chiếm bán đảo Crimée của Ukraina căng thẳng đã dấy lên giữa Matxcơva với các nước châu Âu. Tình hình xấu đi thêm từ 2022 khi nổ ra chiến tranh Ukraina.

    Trong những điều kiện hiện tại, không còn ai muốn mạo hiểm đến Bắc Cực nữa, bởi vì như vậy tàu thuyền sẽ phải sử dụng một phần lãnh hải do Nga kiểm soát. Nhưng lập trường của Trung Quốc và Hàn Quốc thì khác. Seoul có quan điểm tương đối trung lập về xung đột Ukraina. Về phần Trung Quốc, nước này có mối quan hệ đặc biệt với Matxcơva : Nga và Trung Quốc là những đối tác kinh tế nhưng không là những liên minh…

    Trung Quốc có thể sử dụng tuyến đường Bắc Cực, nhập khẩu dầu và nguyên liệu của Nga qua ngả này. Tại cuộc gặp gần đây nhất giữa Vladimir Putin và Tập Cận Bình, dự án xây dựng đường ống dẫn khí đốt nối liền Siberie với Hoa Lục rốt cuộc đã bị phía Bắc Kinh từ chối … Cho nên theo tôi, Trung Quốc chỉ sử dụng con đường Tơ Lụa Phương Bắc khi cần và điều này khác hẳn với dự án ‘Con đường tơ lụa qua Bắc Cực’ ».

    Cửa ngõ vào Bắc Cực

    RFI : Về phía Trung Quốc hành trình phương Bắc qua Bắc Cực và Bắc Băng Dương hình như chỉ là một trong số những giải pháp tránh để xuất và nhập khẩu bị phụ thuộc quá nhiều vào một vài tuyến hàng hải -như qua eo biển Malacca chẳng hạn. Nhưng sự hiện diện của Trung Quốc trong các vùng biển ở Bắc Cực làm dấy lên lo ngại về các hoạt động do thám của nước này trong một khu vực đặc biệt nhậy cảm đối với an ninh châu Âu và với khối NATO.

    Paul Tourret : « Quả thực là có khả năng châu Âu có một sự chia rẽ giữa một bên là các quốc gia thân với những nước như Ấn Độ Nhật Bản, Hàn Quốc và bên kia là phe thân với khối Nga- Trung Quốc. Con đường phương Bắc này lại là biểu tượng của sự gần gũi về kinh tế giữa Matxcơva và Bắc Kinh… Tuy nhiên thế giới ngày nay cũng không hẳn là bị phân khối như thời kỳ chiến tranh lạnh. Chuyến công du của ông Tập Cận Bình vừa qua đến Mỹ thể hiện rõ ràng điều đó. Mỗi bên đều theo đuổi những lợi ích của riêng mình : Nga có lập trường riêng, Trung Quốc cũng vậy. Nga và Trung Quốc có thể chia sẻ lợi ích về tuyến đường phương Bắc nhưng lại không tìm được tiếng nói chung về dự án xây dựng đường ống dẫn khí đốt Siberie: Trung Quốc không muốn đầu tư vào dự án này tránh để bị quá phụ thuộc vào Nga. Bắc Kinh muốn phụ thuộc vào nhiều đối tác hơn là phụ thuộc vào một thỏa thuận mang tính cố định với Nga ».       

    RFI : Chân thành cảm ơn Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR của Pháp vừa trình bày về tuyến vận tải đường biển mới qua Bắc Cực. Công trình này thực ra mang nặng ý nghĩa chính trị, và những tính toán về chiến lược hơn là những lợi ích kinh tế thực sự có thể mang lại. NSR là cánh cửa cho phép Trung Quốc chen chân vào Bắc Cực. Hàn Quốc là một đối tác bị coi là « nhạt mờ ».

    Trong khi đó Nga từ gần 20 năm nay xem việc phát triển tuyến đường hàng hải phương Bắc này là phương tiện để mở rộng ảnh hưởng và quyền chủ quyền ở Bắc Cực trước khi tính đến việc khai thác NSR như một trục giao thương mới để xuất khẩu dầu khí từ vùng Siberi.  

    Tue, 29 Sep 2026
  • 288 - Kêu gọi giảm tốc độ phát triển công nghệ AI : Hình thức bảo hộ của Mỹ

    Vì sao đột nhiên các « ông lớn » trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo ở Mỹ đồng loạt kêu gọi « giảm tốc độ phát triển các mô hình AI » ? Tại xứ sở của tự do kinh doanh mà lãnh đạo các tập đoàn trị giá hàng trăm tỷ đô la như OpenAI, Anthropic, SpaceXAI … lại đòi chính phủ quản lý chặt chẽ hơn các hoạt động phát triển mô hình Trí tuệ Nhân tạo.

    Magnificent Seven quy tụ bảy công ty AI hàng đầu của Mỹ đang tính toán những gì ? Hay đơn giản đây là một hình thức bảo hộ, chận đường AI Trung Quốc tranh giành thị phần ?

    Trí tuệ Nhân tạo (AI) không chỉ gây ra những lo ngại cướp đi công việc làm của con người hay cướp đi các nguồn điện và nước của nhân loại vì các công trình khổng lồ xây dựng trung tâm xử lý dữ liệu. Giờ đây, những tập đoàn AI báo động về nguy cơ những mô hình do chính họ kiến tạo vì phát triển quá nhanh, vượt ngoài sự hiểu biết của con người và rồi những phương trình AI càng lúc càng thông minh và hiệu quả sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát của những người đang lập ra chúng.

    Hôm 12/09/2029 Dario Amodei, tổng giám đốc Anthropic, một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực này, đã kêu gọi chủ động giảm tốc độ phát triển những mô hình AI mạnh nhất của mình. Lập tức các đối thủ của ông đã hưởng ứng lời kêu gọi đó -từ Elon Musk đến kình địch của Dario Amodei là Sam Altman, chủ nhân OpenAI. Tiếp theo đó các chính trị gia ở Mỹ nhập cuộc. Tất cả cùng đòi chính phủ can thiệp, lập ra những khung pháp lý kiểm soát các hoạt động trong một lĩnh vực còn quá mới mẻ này. Chỉ có mỗi tổng thống Donald Trump chủ trương phải để cho các doanh nghiệp của Mỹ thực sự « tự do » phát triển và có như vậy mới có thể dẫn đầu cuộc chạy đua công nghệ, không lo bị Trung Quốc qua mặt.

    Điều đáng nói ở đây là chính chủ nhân những tập đoàn công nghệ AI của Mỹ, những người đã đầu tư hàng trăm tỷ đô la để phát triển một công cụ mới lại dóng lên tiếng chuông báo động và đòi Nhà nước kiểm soát các hoạt động phát triển AI. Theo thẩm định của hãng tin Anh Reuters Google, Amazon, Meta và Microsoft đầu tư 650 tỷ đô la trong năm nay để có những công cụ càng lúc càng « thông minh hơn và hiệu quả hơn ».

    Thắng gấp một đoàn tàu cao tốc 

    Làm thế nào để hiểu được nghịch lý giữa một bên là những khoản đầu tư rất lớn để đào tạo các mô hình AI thông minh nhất, mạnh nhất và hiệu quả nhát với lời kêu gọi giảm tốc độ phát triển những mô hình này, trước nguy cơ AI phát triển quá nhanh và ngày càng độc lập với những chức năng mà con người đặt ra cho chúng ? Sáng lập viên công ty SaferAI, Siméon Campos với chủ trương phát triển Trí tuệ Nhân tạo an toàn hơn cho nhân loại ví von : kêu gọi điều tiết nhịp độ cho ra đời những mô hình AI mới như thể là đòi « thắng gấp một đoàn tàu đang chạy hơn 300 km/giờ ».

    Quyền lực trong tay một vài tập đoàn hàng trăm tỷ của Mỹ

    Trên đài truyền hình Pháp France24, Edouard Fillias, đồng sáng lập viên và giám đốc điều hành công ty tư vấn chuyên về kỹ thuật số JIN, cho rằng tranh cãi về mức độ nguy hiểm của AI có phần « chệch hướng »

    « Bởi vì thực tế cho thấy vấn đề không phải là AI có nguy hiểm hay không và nguy hiểm đến mức nào. Điều đáng sợ ở đây là nhờ công cụ mới là Trí tuệ Nhân tạo mà một vài tập đoàn của Mỹ có thể áp đặt những biện pháp bảo hộ trên thị trường Mỹ và với toàn thế giới. Cho nên những cảnh báo gần đây chính từ phía các đại tập đoàn AI rằng chỉ vài năm nữa công nghệ này sẽ làm chủ nhân loại … chẳng qua là do một thủ thuật của chính các đại công ty này khai thác sự hoang mang của công luận. Không biết trước được AI sẽ thay đổi đời sống của chúng ta như thế nào và đến đâu. Cho nên một tiếng nói như của Jacob Coxon, một cựu nhân viên Anthropic cũng đủ làm mọi người rúng động. Các tập đoàn AI khai thác nỗi sợ hãi của con người trước một công nghệ hoàn toàn mới mẻ và họ đưa ra những tai họa tiềm tàng kiểu như AI sẽ điều khiển thế giới, sẽ là một dạng ‘siêu quyền lực’ kiểm soát và chi phối đời sống của mỗi chúng ta… Thực tế chỉ là một vấn đề kinh tế »

    Cũng trên đài France24, nhà kinh tế Julien Pillot, giảng dậy tại trường INSEEC xem những báo động về mức độ nguy hiểm của AI và kêu gọi chính phủ can thiệp, đặt ra những khung pháp lý là một sự giả dối từ phía các đại tập đoàn AI Mỹ. Mục tiêu sau cùng của họ là áp đặt một chính sách bảo hộ :   

    « Khai thác nỗi sợ hãi để tiếp cận công luận, để kiếm lời là mục đích của các tập đoàn AI ở Mỹ vào thời điểm mà công luận hoang mang vì những hệ quả từ công nghệ Trí tuệ Nhân tạo tạo sinh. Sau một thời gian đầu tư rất nhiều và rất tốn kém vào AI, giới trong ngành bắt đầu cần bảo đảm thu lại tiền lãi,  Họ cần đưa ra những tín hiệu rằng AI là một lĩnh vực có tiềm năng và dễ kiếm lời …

    Để đạt được mục đích này, thì các ‘ông lớn’ trong ngành vừa phải dẫn đầu cuộc đua, vừa phải áp đảo và thậm chí là loại bớt các đối thủ. Cho nên khi những ông chủ công nghệ AI của Mỹ kêu gọi ‘điều tiết’, ‘đưa ra những chuẩn mực’ để quản lý công nghệ mới này… trước hết là để bảo vệ công nghệ AI của Hoa Kỳ, để bảo vệ kỹ thuật của Mỹ.

    Qua đó cấm các đối thủ khác xâm nhập vào thị trường Mỹ. Hiện tại Hoa Kỳ và Trung Quốc đang đi theo hai mô hình phát triển khác nhau, sử dụng những công nghệ và kỹ thuật khác nhau … Cho nên những báo động về mối nguy AI, những kêu gọi kiểm soát thị trường AI … vừa cho phép các hãng của Mỹ tự vệ, vừa loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, mà nguy hiểm nhất trong mắt họ là các mô hình Trí tuệ Nhân tạo của Trung Quốc ».  

    Mũi tên nhắm vào AI Trung Quốc

    Hiện tại chỉ có Trung Quốc là đối thủ duy nhất khiến các ông lớn trong lĩnh vực AI của Hoa Kỳ lo ngại. Siméon Campos sáng lập viên công ty SaferAI phân tích

    « Liên quan đến Trung Quốc, vấn đề khá phức tạp bởi vì Trung Quốc vừa có một đội ngũ các chuyên gia về AI rất giỏi, công nghệ của họ cũng rất tốt. Tuy nhiên so với Hoa Kỳ thì ở thời điểm hiện tại Trung Quốc thua Mỹ trên hai phương diện : một là năng xuất của các bộ xử lý đồ họa GPU của Mỹ cao gấp 20 lần so với của Trung Quốc. Nhược điểm thứ hai là công nghệ Trung Quốc phát triển từ những mô hình của Hoa Kỳ : Trung Quốc vẫn đi sau Mỹ một bước ».

    Điều đó không cấm cản Trung Quốc có hướng đi riêng của chính mình. Lãnh đạo SafeAI Siméon Campos nhắc lại : 

    « Trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản, Anthropic là công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất : Doanh thu của tập đoàn này đang từ 10 tỷ đô la đầu năm, mà hiện tại là  60 tỷ. Để so sánh, tập đoàn Meta đã mất rất nhiều năm mới có được nhịp độ phát triển tương đương ».

    Chính sách bảo hộ trá hình

    Cho nên theo giới trong ngành, các tập đoàn Mỹ chẳng chỉ « giả vờ báo động để bảo vệ quyền lợi của chính mình, kêu gọi chính phủ đặt ra quy định đạo đức trong ngành AI để áp đặt những chuẩn mực của mình với thế giới ».

    Theo chuyên gia kinh tế Julien Pillot Magnificent Seven ở Mỹ đang rất cần trấn an các cổ đông rằng AI là một lĩnh vực cho phép nhanh chóng thu về lợi nhuận và cần xua tan đe dọa « một quả bóng AI vỡ tung »  

    « Quả thực, OpenAI hiện phải đối mặt với một vấn đề, đó là không chứng minh khả năng sinh lời từ những mô hình AI họ phát triển. Trong khi đó thì Anthopic trong hai quý gần đây đã hòa vốn. Đây không là thời điểm thuận lợi để đưa OpenAI lên sàn chứng khoán. Tuy nhiên không thể phủ nhận là các công ti Trí tuệ Nhân tạo đã đầu tư rất, rất nhiều - chủ yếu là qua nhóm 7 tập đoàn lớn nhất ở Mỹ. Đầu tư của họ tiếp tục tăng hàng năm và đã đạt đến những số tiền không tưởng : Có lẽ đến cuối năm nay, tổng vốn đầu tư vào AI vượt quá ngưỡng 750 tỷ đô la, trong đó bao gồm đầu tư xây dựng hạ tầng (data center) và đầu tư để huấn luyện cho các mô hình AI càng lúc càng thông minh hơn. Những khoản đầu tư không lồ đó có thể sẽ dẫn đến hiện tượng vỡ bong bóng. Câu hỏi còn lại là quả bóng công nghệ AI sẽ vỡ tung, hay chỉ âm ỉ xì hơi ».  

    Vào lúc tranh luân tại Mỹ đang cao trào nhất là trước nguy cơ AI đe dọa tương lai của nhân loại, thì tại Bắc Kinh bộ trưởng bộ An Ninh Trần Nhất Tân hôm 14/09/2026 cảnh báo AI có thể đe dọa « an ninh chính trị » và « sự kiểm soát của đảng Cộng Sản Trung Quốc ».

    Không ai tự bắn vào chân mình

    Về câu hỏi liệu các tập đoàn Mỹ sẽ giảm đầu tư và điều tiết nhịp độ phát triển các mô hình AI mới hay không, thì câu trả lời rõ ràng là không. Julien Pillot phân tích : 

    « Hiện tại có rất ít lý do để nghĩ rằng giữa hai cường quốc trên thế giới là Mỹ và Trung Quốc cuộc chạy đua về AI và đầu tư trong lĩnh vực này sẽ giảm tốc độ. Cả hai cùng lâm vào thế ‘tiến thoái lưỡng nan’ : không bên nào có lợi khi giảm tốc nếu họ không chắc chắn rằng đối thủ của mình cũng sẽ điều tiết nhịp độ phát triển. Là bên đầu tiên dừng bước, chẳng khác nào tự bắn vào chân mình. Thêm vào đó còn có một hiện tượng thứ hai được biết đến dưới tên gọi ‘bi kịch của chân trời thời gian’, có nghĩa là các khoản đầu tư vào AI đang hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của Mỹ và của Trung Quốc - ở một mức độ thấp hơn. Trong ngắn hạn, hai quốc gia này cùng cần tăng trưởng : đây là một cái thước đo lường chắc chắn, khác hẳn với những cảnh báo về những mối rủi ro - nếu có, còn vừa mơ hồ, vừa xa xôi… Kết hợp cả hai lý do này, ít có hy vọng Washington hay Bắc Kinh yêu cầu các tập đòn AI quốc gia giảm tốc độ phát triển. Nhưng nếu Trung Quốc và Mỹ có thể bắt đầu đàm phán về những phương tiện để kiểm soát những rủi ro mà công nghệ này gây ra cho nhân loại, thì đó đã là một điểm khởi đầu ». 

    Tue, 22 Sep 2026
  • 287 - Thượng đỉnh BRICS : Chiến tranh Ukraina và Trung Đông, cơ hội của Trung Quốc và Nga

    Thượng đỉnh nhóm các nền kinh tế đang trỗi dậy BRICS 2026 tại New Delhi là cơ hội tốt đối với Nga và Trung Quốc để mở rộng ảnh hưởng kinh tế với các nước « phương Nam ». Là hai cột trụ chính trong khối, Matxcơva và Bắc Kinh tranh thủ cảm tình của nước chủ nhà là Ấn Độ nhất là khi vì chiến tranh Iran và Ukraina, thủ tướng Modi và các lãnh đạo trong nhóm BRICS bị đẩy vào thế kẹt.

    Quan hệ giữa Ấn Độ và Mỹ rạn nứt. Những khó khăn quân sự của Mỹ ở Trung Đông và chính sách đối ngoại của Washington làm suy yếu đồng đô la : Chuyên gia kinh tế Jean-Joseph Boillot cố vấn Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp phân tích về những cơ hội đang mở ra cho hai đối thủ của Hoa Kỳ là Nga và Trung Quốc.

    Từ thượng đỉnh Ekaterinbourg - Nga năm 2009 đến hội nghị tại New Delhi, Ấn Độ hôm 12-13/09/2029, khối các nền kinh tế đang trỗi dậy với 4 rồi 5 thành viên sáng lập ban đầu, đã mở rộng đến một số nước ở Trung Đông, Đông Nam Á và châu Phi.

    Trong số 11 thành viên chính thức hiện tại, có Iran, Ai Cập, Ả Rập Xê Út… và đương nhiên là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi. Vai trò nước chủ nhà của thủ tướng Narendra Modi lần này không đơn giản. Vì chiến tranh Trung Đông, drone và tên lửa Iran đang nhắm vào nhiều quốc gia vùng Vịnh đồng minh của Hoa Kỳ như Ả Rập Xê Út hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất.

    Kết thúc hai ngày họp, các bên đã ra thông cáo chung nhưng tránh sử dụng cụm từ « chiến tranh Iran » cho dù vì cuộc chiến này eo biển Hormuz bị phong tỏa, ngăn cản Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất xuất khẩu dầu hỏa.

    Cùng lúc chiến tranh Iran đang làm thay đổi cách nhìn của các nước trong Vùng Vịnh về Hoa Kỳ, ô dù an ninh của toàn khu vực. Cũng vì dầu hỏa và năng lượng, bản thân nước chủ nhà, Ấn Độ bị dồn vào thế « trên đe dưới búa ». Chỉ riêng bài toán năng lượng đã khiến thủ tướng Narendra Modi phải đau đầu : Để thay thế nguồn cung cấp dầu khí của Trung Đông, New Delhi buộc phải trông cậy nhiều hơn vào nhà cung cấp truyền thống là Nga, thế nhưng Ấn Độ lại liên tục bị Hoa Kỳ gây sức ép để hạn chế nhập khẩu dầu của Nga và mua thêm dầu của Mỹ.

    Trả lời RFI Việt Ngữ chuyên gia Jean-Joseph Boillot, cố vấn Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp phân tích về những điểm quan trọng nhất của thượng đỉnh khối BRICS lần này.

    Jean-Joseph Boillot : "Rõ ràng là hiện nay chúng ta đang đối diện với một khối ‘Phương Nam' toàn cầu đã được mở rộng. Ngày càng có nhiều quốc gia không còn chấp nhận sự bá quyền của Mỹ khi thấy chính sách ngoại giao của Donald Trump hoàn toàn đi ngược lại lợi ích của họ. Trong số này, có các nước Trung Đông như Ả Rập Xê Út, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), cả hai đã gia nhập nhóm BRICS từ 2024. Nhưng đừng quên ba đầu tàu của BRICS là Trung Quốc, Nga và Ấn Độ."

    RFI Tiếng Việt: Thượng đỉnh New Delhi 2026 thắt chặt thêm quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Lần cuối ông Tập Cận Bình công du Ấn Độ là hồi 2019. Đôi bên thực sự sưởi ấm quan hệ cả về ngoại giao, lẫn kinh tế?

    Jean-Joseph Boillot : Kinh tế và địa chính trị thực ra là hai mặt của cùng một đồng tiền. Về mặt địa chính trị, giữa Ấn Độ và Trung Quốc vẫn tồn tại những bất đồng đáng kể, đặc biệt là tranh chấp tại đường biên giới. Bên cạnh đó, chính sách ngoại giao của Ấn Độ, vốn chủ trương liên kết đa chiều, nhưng khoảng 15 năm trở lại đây, rõ ràng New Delhi ngày càng có xu hướng thân Mỹ hơn.

    Tuy nhiên, hiện tại trên phương diện này, Trung Quốc và Ấn Độ đang bước vào giai đoạn tan băng. Đôi bên đang nối lại đối thoại về đường biên giới.

    Còn đối với Hoa Kỳ, sự ‘phản bội’ từ phía Mỹ là một gáo nước lạnh đối với chính sách của thủ tướng Modi khi mà Washington đưa Ấn Độ vào nhóm các quốc gia phải chịu mức thuế quan cao nhất. Mặt khác, Nhà Trắng còn cấm Ấn Độ nhập khẩu dầu hỏa của Nga, trong khi đối với các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ, nguồn dầu này đã trở thành một ‘món quà từ trên trời rơi xuống’ kể từ khi chiến tranh Ukraina bắt đầu.

    Vì vậy, rõ ràng phía Ấn Độ đang có một sự thất vọng rất lớn. Điều này tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho việc xích lại gần Trung Quốc. Cùng lúc thì Trung Quốc, ở thời điểm này, đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ trong khoảng 3 năm trở lại đây, đặc biệt trong những lĩnh vực thiết yếu như thiết bị năng lượng mặt trời, năng lượng gió, cũng như trong lĩnh vực điện tử. Trung Quốc cũng là một nguồn đầu tư rất lớn đối với Ấn Độ, vào thời điểm các nhà đầu tư thận trọng hơn với Ấn Độ.

    Về kinh tế và thương mại, Ấn Độ và Trung Quốc vừa cần nhau, vừa là những đối thủ của lẫn nhau?

    Jean-Joseph Boillot : Tôi nghĩ rằng trên thực tế, giữa Ấn Độ và Trung Quốc đang trong tình huống ‘đôi bên cùng có lợi’ thuần túy trên phương diện kinh tế mà nói. Song cần lưu ý rằng, từ trước đến nay New Delhi hoàn toàn không tin tưởng Trung Quốc. Các chiến lược gia Ấn Độ hiểu rất rõ rằng giữa hai nước hiện nay tồn tại một khoảng cách rất lớn và Trung Quốc có năng lực công nghệ cũng như tiềm lực đầu tư mạnh đến mức có thể khiến Ấn Độ trở nên phụ thuộc.

    Vì vậy, Ấn Độ sẽ luôn duy trì một mức độ dè chừng nhất định và áp dụng các biện pháp kiểm soát đối với đầu tư của Trung Quốc, xét theo từng lĩnh vực. Điều này nhằm tránh một thực tế mà ai cũng biết về Trung Quốc : chính sách dumping. Bắc Kinh trợ giá cho các doanh nghiệp quốc gia để hàng hóa tràn ngập các thị trường trên thế giới. Ấn Độ không muốn đi vào vết xe đổ của phương Tây, tức là để rồi các nhà máy của mình cũng phải đóng cửa vì cạnh tranh không lại với hàng rẻ của Trung Quốc.

    Còn về phía Trung Quốc, Bắc Kinh ý thức được rằng tình hình hiện nay không mấy thuận lợi. Nếu chỉ dựa vào xuất khẩu như hiện nay, thúc đẩy tăng trưởng thì không đủ : Trung Quốc lại không thể trông cậy vào các thị trường phương Tây Âu-Mỹ. Washington thì đã dần đóng cửa với hàng xuất khẩu của Trung Quốc, trong lúc châu Âu cũng đang xây dựng hàng loạt biện pháp kiểm soát đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, chỉ còn lại thị trường từ các quốc gia đang trỗ dậy và trong số này thì Ấn Độ là ông khổng lồ với gần 1,5 triệu dân.

    Nhìn từ Ấn Độ, chúng ta có thể thấy rất rõ rằng cả các nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng đều ưa chuộng dùng đồ ‘Made in China’ : Ấn Độ là một quốc gia mà người dân nhìn chung còn khá nghèo chỉ có hàng của Trung Quốc mới đủ rẻ để cho phép họ mua vào từ đôi giày cho đến điện thoại di động… Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia duy nhất có khả năng bán những sản phẩm như vậy trên thị trường Ấn Độ. Các nhà sản xuất Ấn Độ chưa thực sự có thể sản xuất hàng loạt những sản phẩm như vậy.

    Nhìn từ phía các nhà sản xuất Ấn Độ, máy móc và thiết bị của Trung Quốc đang rất được ưa chuộng. Tôi biết khá rõ các tập đoàn lớn của Ấn Độ, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng, từ Tata đến Reliance : Họ hiện gần như chỉ sử dụng thiết bị của Trung Quốc. Vì vậy, đối với ngành công nghiệp Ấn Độ hiện nay thì Trung Quốc là nguồn cung cấp thiết bị tốt nhất xét về mặt giá cả và chất lượng.

    Thúc đẩy thêm quan hệ với Ấn Độ đặc biệt là trên vấn đề năng lượng, chinh phục cảm tình của 11 thành viên khối BRICS và 10 quốc gia đối tác của khối này : phải chăng đó là mục tiêu chuyến công du Ấn Độ dài ngày của tổng thống Vladimir Putin?

    Jean-Joseph Boillot : Khi Vladimir Putin khởi xướng thành lập nhóm BRICS, ban đầu chỉ có 4 quốc gia: Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, sau đó thêm quốc gia thứ 5 là Nam Phi, ý tưởng lúc đó thực ra không hẳn là tạo ra một mặt trận chống phương Tây. Bởi ngay từ đầu, lập trường của Ấn Độ, xin nhắc lại, khi ấy ngày càng có xu hướng xích lại gần thế giới phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Chính phủ đầu tiên có đường lối thân Mỹ là dưới thời Manmohan Singh.

    Còn về phía Matxcơva thì đầu những năm 2000 là thời điểm Nga đang bắt đầu lấy lại vị thế sau cuộc khủng hoảng lớn dưới thời Yeltsin. Tổng thống Putin khi đó muốn đưa Nga trở lại vị trí một cường quốc thế giới. Ý thức được là phương Tây có lập trường chống Nga, vì vậy điện Kremlin tận dụng cơ hội, dựa vào các nền kinh tế đang trỗi dậy và đã chọn Ấn Độ và Trung Quốc làm hai đối tác chính. 2009 là thời điểm Nga đã trông thấy ở Trung Quốc một một quốc gia rất mạnh mà lại không cùng với phương Tây bài xích Matxcơva. Về địa chính trị, Trung Quốc cần một môi trường hòa bình trên quy mô toàn cầu để có thể tiếp tục phát triển về kinh tế và thu hẹp khoảng cách với nước giàu.

    Ngoài ra, Nga cũng hiểu rõ rằng Ấn Độ và Trung Quốc đang cạnh tranh với nhau, trong khi quan hệ giữa Matxcơva và New Delhi thì lại rất tốt. Nga là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho Ấn Độ, đồng thời cũng hợp tác trong lĩnh vực các nhà máy điện hạt nhân.

    Từ 2023, Nga đã đề nghị khối BRICS cần có một đồng tiền chung. Chủ đích là để bớt phụ thuộc vào đô la. Dự án đó đến đây đã có tiến triển nào và có mang tính khả thi hay không ?

    Jean-Joseph Boillot : Không. BRICS sẽ không có đồng tiền chung và cũng không có ý định tiến tới một đồng tiền chung. Không ai thực sự có lợi ích trong việc đó. Đúng là Nga, trên hết đã thúc đẩy ý tưởng này nhưng không có sức thuyết phục.

    Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia vùng Vịnh đều không có lợi ích gì và cũng không muốn bị một đồng tiền chung. Bắc Kinh không muốn, bởi nếu có một đồng tiền chung, thì có nghĩa là ở một mức độ nào đó, Trung Quốc sẽ phải phụ thuộc vào phần còn lại của nhóm trong việc quản lý chính sách tiền tệ của mình. Trung Quốc hoàn toàn không muốn điều đó.

    Ấn Độ cũng không muốn, bởi đây là một quốc gia vẫn còn tương đối yếu về mặt kinh tế, và một đồng tiền chung cũng sẽ đi ngược lại lợi ích của chính New Delhi. Vì vậy, chủ quyền tiền tệ của cả hai nước lớn đến mức ý tưởng do Nga đề xuất trên thực tế đã bị gạt sang một bên.

    Tuy nhiên, điều đã thay đổi là uy tín của đồng tiền Mỹ đã suy giảm tại các nền kinh tế đang trỗi dậy, đặc biệt là các quốc gia Trung Đông, kể từ khi cuộc chiến ở Iran bắt đầu. Ngược lại, dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương đang tăng lên. Điều đó cho thấy họ đang hướng tới một hệ thống mới, có thể gần giống với chế độ bản vị vàng, mặc dù hiện vẫn chưa hoàn toàn rõ cơ chế cụ thể sẽ được sử dụng như thế nào.

    Các quốc gia xuất khẩu dầu trước đây là những bên mua rất lớn công trái phiếu của Hoa Kỳ. Giờ đây thì khác. Điều này giải thích vì sao lãi suất dài hạn ở Mỹ đang tăng mạnh. Ngược lại, ở Trung Quốc, lãi suất đối với trái phiếu Trung Quốc đang giảm. Đây là một tình hình hoàn toàn mới. Nói cách khác trong lĩnh vực tiền tệ, hiện có hai thay đổi quan trọng : một là đồng đô la kém hấp dẫn và khối BRICS đang thúc đẩy những hình thức sử dụng đồng tiền quốc gia làm phương tiện thanh toán song phương. Điểm thứ nhì và có lẽ đây là điều khá mới mẻ : Trong nội bộ BRICS, các thành viên có thể sử dụng đồng tiền quốc gia của mình như một dạng tài sản đối ứng được nắm giữ trong kho dự trữ của các ngân hàng trung ương đối tác.

    Thí dụ cụ thể là Trung Quốc có thể quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, nhưng không nhất thiết thông qua các thị trường tài chính. Thay vào đó, việc này có thể được thực hiện trong khuôn khổ các thỏa thuận với những ngân hàng trung ương khác.

    Như vậy, chúng ta thực sự đang hướng tới một dạng trật tự tiền tệ mới - có lẽ chỉ mang tính tạm thời - nhưng điều này giúp cộng đồng quốc tế bớt bị phụ thuộc vào đồng tiền của Hoa Kỳ, giúp cho giao thương quốc tế bớt bị đồng đô la chi phối. 

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà nghiên cứu Jean-Joseph Boillot.

    Wed, 16 Sep 2026
  • 286 - Thương mại : Mỹ phải hoàn trả hơn 100 tỷ đô la thuế nhập khẩu. Ai hưởng lợi ?

    Nếu là một doanh nghiệp xuất khẩu từng là nạn nhân của chính sách bảo hộ Washington ban hành từ 2025, thì làm thế nào để thu hồi những khoản thuế đã nộp cho Hải Quan Mỹ ? Tính đến cuối tháng 7/2026 chính phủ đã phải hoàn trả 100 tỷ đô la cho các công ty nhập khẩu và các nhà phân phối của Hoa Kỳ. Hơn 40 tập doàn trong danh sách S&P500 đã nhận lại được gần 10 tỷ đô la. Các công ty xuất khẩu sang Mỹ có hy vọng gì hay không ? 

    Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng 90 % gánh nặng thuế quan Nhà Trắng ban hành, là do người Mỹ hứng chịu. Vậy, 10 % còn lại thì sao ?

    Để trả lời câu hỏi làm thế nào đòi lại tiền từ chính phủ Mỹ nếu là một doanh nghiệp nước ngoài giao thương với Hoa Kỳ, Le Figaro hôm 01/09/2026 có một bài viết với hàng tựa : « Các khoản thuế quan do Donald Trump áp đặt mà các doanh nghiệp Pháp đang kín đáo thu hồi ».

    Về mặt lý thuyết các hãng của Pháp có thể đòi lại 10 tỷ đô la do là nạn nhân của chính sách « thuế đối ứng » « không hợp lệ » mà Donald Trump đã ban hành hồi đầu tháng 4/2025.

    Tiền của Mỹ vẫn ở lại trên đất Mỹ

    Luật gia Olivier Dorgans, chuyên về luật thương mại của văn phòng Stephenson Harwood được tờ báo trích dẫn giải thích ngắn gọn : Tiền của Mỹ thì vẫn ở lại trên đất Mỹ.

    Một doanh nghiệp Pháp xuất khẩu sang Hoa Kỳ qua trung gian cơ quan dưới tên gọi IOR - Importer of Record. Đây có thể là một chi nhánh đại diện tại Mỹ, hay là một nhà phân phối độc lập, hoạt động tại Hoa Kỳ.

    Cho nên khi Hoa Kỳ hoàn trả lại các khoản thuế đã thu vào « bất hợp pháp » thì bên nhận lại cũng phải là IOR. Điều đó có nghĩa là « tiền của Mỹ thì vẫn ở lại trên đất Mỹ ». Trong trường hợp của Pháp, do Liên Âu và Mỹ đã đạt thỏa thuận về mức thuế đối ứng 15 % thì các hãng của Pháp đã phải giảm giá để « chia sẻ gánh nặng » với khách hàng. Đối lại khi khoản thuế đối này này bị hủy, thì Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) phải hoàn trả lại tiền cho IOR. Điều đó không có nghĩa là số tiền đó được đưa trở lại về Pháp. Đây chỉ là một dàn xếp « bí mật » giữa IOR và nhà sản xuất của Pháp.

    Trả lời đài truyền hình France5, Baptiste Reybier, tổng giám đốc FerMob chuyên cung cấp bàn và ghế sắt sử dụng trong vườn giải thích, ông thực sự đau đầu khi bị Mỹ đánh thuế 15 %

    « Chúng tôi không được hướng dẫn rõ ràng về quy trình để biết phải làm những gì. Các quy định về hạn ngạch thuế quan thay đổi liên tục. FerMob do vậy bắt buộc phải thích nghi với tình huống, phải giải quyết một cách nhanh gọn và thực tế nhất (…) Chúng tôi tin rằng Mỹ là một quốc gia có chính sách thân thiện với các doanh nghiệp, ủng hộ kinh doanh và lại rất thực tiễn. Cho nên các chính sách của Washington cũng có thể dễ được điều chỉnh một khi họ thấy là các biện pháp ban hành gây rối loạn các hoạt động kinh tế, kinh doanh ».

    Christine Sévillano, chủ một hầm rượu tại Champagne mà Hoa Kỳ là thị trường quan trọng nhất, trong một năm qua, xuất khẩu sang Mỹ chỉ còn bằng 1 phần 6 so với trước đây. Hầm rượu của bà bị thiệt hại rất nhiều : 

    « Trước khi bị đánh thuế, loại phân khúc thấp, tức là loại rượu phổ thông chúng tôi bán sang Mỹ với giá cao nhất 55-60 đô la một chai. Nhưng từ vì mức thuế đối ứng 15 %, mỗi chai rượu champagne đẩy giá lên đến 70 đô la. Hệ quả kèm theo là chúng tôi khó bán sang Hoa Kỳ. Thị trường này bị đóng băng. 2025 là một năm cực kỳ khó khăn, như thể là hàng của mình cấm xuất khẩu sang Mỹ vậy ! »

    Cuộc chiến còn dài

    Từ khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặt các hàng rào thuế quan với toàn thế giới, nhiều hãng lớn của Hoa Kỳ như Apple, Nike hay FedEx đã nhanh chóng thu về lại được những khoản tiền lớn. Theo báo tài chính The Wall Street Journal tính đến ngày 31/07/2026 đã có hơn 250.000 trong số 330.000 công ty nhập khẩu của Mỹ nộp đơn yêu cầu Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) trả lại tiền. Đến trung tuần tháng 8/2026 CBP thông báo đã xử lý các hồ sơ để hoàn trả 128,7 tỷ đô la cho các doanh nghiêp Mỹ.

    Apple đã nhận lại được hơn 2 tỷ đô la, nhà cung cấp quần áo, giày… thể thao Nike được hoàn trả gần 1 tỷ đô la, hãng xe Ford cũng thu về lại được 500 triệu …

    Một số doanh nghiệp khác của Mỹ kém may mắn hơn. Thủ tục đòi lại những khoản thuế phụ trội phức tạp hơn, số tiền thu hồi lại ít hơn và chậm hơn so với mong đợi. 

    Đau đầu hơn nữa là lập tức sau khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ ra phán quyết bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặc các hàng rào thuế quan, Donald Trump trong hai ngày liên tiếp (20 và 21/02/2026) thông báo thêm hai mức thuế bổ sung 10 rồi 15 %.  

    Những lớp thuế chồng chất

    Cho đến hôm nay 08/09/2026 quy định về mức thuế quan của Hoa Kỳ với thế giới là một vùng sương mù dày đặc.

    Cho dù mức thuế đối ứng (đối với hàng của Việt Nam là 20 %, đối với Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc là 15 %...) đã bị hủy nhưng các đối tác thương mại xuất khẩu sang Hoa Kỳ vẫn tạm thời phải chịu một mức thuế phụ thu 10 %. Bên cạnh đó là mức thuế đánh vào những sản phẩm đặc biệt như nhôm, thép ... Lúc thì Washington ấn định thuế nhôm, thép là 25 %, lúc lại đẩy mức thuế này lên tới 50 % như đang áp dụng với Canada. 

    Trên đài phát thanh Pháp France Info, Denis Ferrand thuộc Viện nghiên cứu và dự phóng kinh tế vĩ mô độc lập Rexecode cho rằng chính sách thuế quan của Hoa Kỳ giờ đây đang mở ra những trận đấu pháp lý gay go. Để đòi lại tiền từ chính phủ Mỹ đã là một chuyện khó đối với một doanh nghiệp hay một nhà phân phối ở Hoa Kỳ. Với một nhà xuất khẩu ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới,điều đó lại càng khó hơn.

    « Đây là một nguồn gốc tranh chấp cơ bản. Trong bối cảnh bất ổn định vừa nêu, chúng ta ở vào đúng thời điểm mà chưa ai biết tình hình sẽ lắng xuống như thế nào. Tranh chấp sẽ dẫn tới những vụ kiện kéo dài. Các doanh nghiệp sẽ đòi phải được hoàn trả những khoản thuế quan mà họ đã nộp cho Hoa Kỳ trong khuôn khổ chính sách bảo hộ ông Trump ban hành. Thí dụ như hãng xe Toyota đang đòi được trả lại tiền. Nhưng bên cạnh đó là rất nhiều những câu hỏi. Theo các ước tính, chính phủ phải hoàn lại hàng trăm tỷ đô la cho các doanh nghiệp. Nhưng cụ thể thì sẽ phải chia sẻ số tiền hàng trăm tỷ đô như thế nào cho các công ty nhập khẩu của Mỹ, số tiền đó liệu có được trả lại cho người tiêu dùng hay không ? Chi nhánh của Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ ở New York thẩm định, 90 % thuế hải quan ông Trump ban hành do các doanh nghiệp, các nhà phân phối và người tiêu dùng ở Mỹ hứng chịu ».  

    Cũng trên đài phát thanh France Info, nhà kinh tế Stéphane Carcillo, cộng tác với Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế  nói đến những thiệt hại đối với Mỹ do các biện pháp bảo hộ gây nên :  

    « Về phương diện pháp lý, ẩn số ở đây liên quan đến việc sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp đòi được trả lại tiền. Hơn nữa chính sách thuế quan của Mỹ tác hại đến các doanh nghiệp, đến các nhà phân phối ở Mỹ đến mức độ nào và cũng không biết là các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, hay những cá nhân có kiện và đòi chính phủ trả lại tiền hay không. Còn đối với chính phủ, thì đây cũng là một gánh nặng tài chính : ngân sách của Liên Bang thiếu đi mất 175 tỷ đô la. Đây là một khoản tiền lớn. Hiện tại chính quyền Trump liên tục thông báo áp thêm các biện pháp thuế quan, rồi đòi mở điều tra từng quốc gia, xem đối tác thương mại đó có cạnh tranh bất bình đẳng làm phương hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ hay không… »

    Có một điều chắc chắn là trong thời gian tới, các nhà sản xuất các chủ doanh nghiệp sẽ rất mệt mỏi vì các chính sách thuế quan, vì các đòn trừng phạt. Cây bút xã luận của báo kinh tế Pháp Les Echos, Dominique Seux đánh giá, các đòn thuế quan mà Hoa Kỳ liên tục sử dụng đã làm thay đổi hẳn cách tiếp cận của các doanh nghiệp về môi trường chung quanh. Để tồn tại, một doanh nhân ngày càng phải chú ý đến yếu tố « địa chính trị », đến chính sách mà các quốc gia cách xa họ cả ngàn cây số ban hành. 

    Tue, 08 Sep 2026
Mostrar mais episódios