Filtra per genere
- 289 - Vận tải đường biển qua Bắc Cực : Thách thức và cơ hội
Cách nhau đúng một tuần, Trung Quốc và Hàn Quốc cùng mở tuyến vận tải đường biển qua Bắc Cực, Northern Sea Route -NSR nối liền hai quốc gia Đông Bắc Á này với châu Âu. Sự kiện làm dấy lên nhiều hy vọng cho giao thương hàng hải trong bối cảnh chiến sự làm xáo trộn khu vực Hồng Hải, eo biển Hormuz bị phong tỏa. Con Đường Phương Bắc không chứng minh được khả năng sinh lời. Đây trước hết là một tính toán « chiến lược và chính trị ».
Phần lớn lộ trình NSR bọc theo bờ biển phía đông nước Nga : Các hãng vận tải đường biển châu Âu không muốn bị phụ thuộc vào Nga vốn đang bị nhiều nước phương Tây trừng phạt kinh tế. Bắc Kinh với một « tầm nhìn xa » muốn tận dụng mối quan hệ tốt đẹp với Matxcơva để vừa chen chân vào Bắc Cực, vừa giảm bớt áp lực tại một vùng biển nhậy cảm như eo biển Malacca.
Đối với tổng thống Vladimir Putin, NSR trước hết là công cụ để phá vỡ thế cô lập và chận đứng các đòn trừng phạt mà phương Tây ban hành từ 2014, khi Matxcơva chiếm bán đảo Crimée của Ukraina.
Rút ngắn thời gian giao hàng bằng mọi giá ?
Với hai chuyến tàu, tập đoàn Trung Quốc Sea Legend và Hàn Quốc PanStar - khởi hành ngày 15 và 22/08/2026, đã làm dấy lên hy vọng thu ngắn 1/3 lộ trình và 20 % thời gian cho những chuyến tàu kết nối châu Á với châu Âu qua Bắc Cực và Bắc Băng Dương. Cả hai góp phần « mở đường » cho một tuyến hải trình mới.
Công ty vận tải biển Trung Quốc thậm chí còn thông báo từ nay cho đến « giữa tháng 9/2026 », tức là khi tuyết đóng băng, bảo đảm dịch vụ định kỳ với tần suất mỗi tuần một chuyến khởi hành từ Ninh Ba đến cảng Felixstowe tại Anh Quốc. Nhưng sau chuyến tàu duy nhất đã được rầm rộ loan báo, vẫn chưa thấy Sea Legend thông báo những chuyến tiếp theo.
Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung từng vinh danh Acro là con tàu « tiên phong, khai mở một trục giao thương mới lên Bắc Cực »nhưng cho dù tàu Acro của hãng vận tải PanStar đã cập bến an toàn từ hôm 11/09/2029, Seoul khá kín tiếng về « sự khai mở » quan trọng này.
Tuyến hải trình cho tàu container
Trả lời đài RFI Tiếng Việt, Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR ghi nhận, đằng sau sự hồ hởi ban đầu, các hãng vận tải đường biển đang phải cọ sát với một thực tế : NSR không đáp ứng nhu cầu giải tỏa căng thẳng trên thị trường năng lượng cho Trung Quốc, không chứng minh được khả năng sinh lời và trước mắt còn rất nhiều rủi ro trong việc khai thác hành trình qua Bắc Băng Dương và Bắc Cực.
Paul Tourret : « Từ khoảng 15-20 năm nay, Nga bắt đầu phát triển tuyến hàng hải đi qua Bắc Cực, cho phép rút ngắn hành trình nối liền châu Âu và Viễn Đông của Nga. Trên thực tế con đường biển này chỉ liên quan đến Bắc Âu và Đông Bắc Á, chính xác hơn là liên quan đến các vùng miền bắc Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Cần biết là tuyến đường phương bắc chủ yếu là để vận chuyển hàng hóa chứ không phải để chở năng lượng hay nguyên liệu. Cho nên việc mở thêm lộ trình phương Bắc này không giúp giải tỏa căng thẳng dầu khí do xung đột ở Trung Đông, eo biển Hormuz bị phong tỏa gây nên.
Ngược lại tuyến đường qua Bắc Băng Dương một khi đi vào hoạt động sẽ rất có ý nghĩa với vận chuyển container, cho phép rút ngắn hành trình. Tuy nhiên với các tuyến tàu chở hàng, việc đi qua nhiều thành phố cảng như Thượng Hải, Sài Gòn rồi Singapore cũng có nhiều lợi thế : Tàu có thể nhận thêm hàng hay dỡ hàng trong suốt hành trình. Do vậy, ngành vận tải container không nhất thiết cần một tuyến đường nhanh ở phía Bắc. Nếu muốn vận chuyển nhanh thì có thể sử dụngđường sắt xuyên qua lãnh thổ Nga, hay qua ngả hàng không ».
RFI : Thu ngắn hành trình và thời gian trên biển là hai lợi thế đầu tiên của dự án con đường giao thương phương Bắc, bên cạnh những rủi ro chiến tranh như tình hình ở eo biển Hormuz và Hồng Hải … nhưng rút ngắn thời gian trên biển liệu có là yếu tố quan trọng nhất hay không ?
Paul Tourret : « Kể từ cuối năm 2023, vì chiến tranhGaza rồi việc lực lượng Houthi ở Yemen tham gia vào cuộc xung đột, ngày càng ít tàu container đi qua Hồng Hải (…)Vì lý do an toàn, các hãng vận chuyển đường biển tránh eo biển Hormuz và chọn đi vòng qua phía nam châu Phi, qua mũi Hảo Vọng.Đúng là hành trình giữa Trung Quốc và châu Âu hay Trung Quốc với Mỹ mất thêm khoảng một tuần. Trước đây thời gian vận chuyển khoảng 25–28 ngày, giờ đây cần khoảng 35 ngày, trong khi nếu đi theo tuyến phía Bắc -qua Bắc Băng Dương thì chỉ khoảng 15 ngày. Tuy vậy cần hiểu rằngngành vận tải container gắn liền với các hoạt động phân phối hàng hóa một cách rộng rãi.Và trong lĩnh vực phân phối ở quy mô lớn, ngoại trừ ngành dệt may và những linh kiện giữa châu Á và châu Âu, đối với phần còn lại, nhìn chung không phải lúc nào cũng có nhu cầu vận chuyển nhanh hàng hóa hay phải đạt tốc độ cao. Cho nên không nhất thiết phải có một tuyến đường hàng hải phương Bắc ».
NSR không là một « giải pháp thay thế »
RFI : Khu vực Bắc Băng Dương thuộc khí hậu là môi trường khắc nghiệt, thời gian tàu thuyền có thể qua lại khu vực này chỉ kéo dài vài tháng trong năm. Trái đất bị hâm nóng được coi là thuận lợi cho việc khai thác tuyến đường NSR nhưng hiện tượng tan băng cũng là một rủi ro rất lớn đối với tàu thuyền qua lại khu vực này, chẳng hạn như hiện tượng băng trôi ….
Paul Tourret : « Vâng đúng là thời gian để khai thác tuyến hàng hải này trong năm khá hạn hẹp. Nhờ hiện tượng trái đất bị hâm nóng, cho nên cách nay 40 hay 50 năm, mới khoảng tháng 8- 9 là tất cả đã đóng băng, giờ đây mùa hè rõ ràng là đã được kéo dài hơn, và khả năng vận hành mở ra từ tháng 5 đến khoảng tháng 10.
Tuy nhiên một tuyến đường hàng hải chỉ có lợi và dễ được chiếu cố, nếu giá vận chuyển không quá đắt. Chúng ta đang bàn về một tuyến giao thương ở Bắc Băng Dương, một vùng nước nguy hiểm và còn xa lạ với giới trong ngành. Khí hậu ở đây khắc nghiệt, với những hiện tượng cực đoan, băng trôi … cho nên các hãng vận tải đường biển cần trang bị tàu phá băng, sử dụng tàu chuyên dụng và nhất là cần những phương án cứu hộ riêng : Thí dụ như nếu tàu gặp vấn đề về động cơ ở vùng biển này, thì trước khi lực lượng cứu hộ có thể đến được, sẽ mất khá nhiều thời gian ; hoặc tàu có thể phải được tàu phá băng hộ tống. Các thủy thủ cũng cần được đào tạo một cách phù hợp với tuyến hàng hải đặc biệt này. Với những rủi ro lớn như vậy, chi phí bảo hiểm cũng sẽ rất cao….
(...) Hiện chưa có các nghiên cứu về khả năng sinh lời của dự án nhưng câu hỏi chính là nếu đi qua Bắc Cực thì giá vận chuyển một tấn hàng sẽ lên đến bao nhiêu. Nếu đi qua các ngả truyền thống, -mà chúng tôi gọi là tuyến đường hàng hải phương Nam, với giá là 2000 đô la, tuy rằng đây sẽ là chuyến đi dài ngày và tốn kém nhưng trong trường hợp phí tốn khi đi qua tuyến phương Bắc cao gấp đôi thì liệu rằng tính toán đó có lợi hay không ? Câu trả lời sẽ là có nếu như cần giao hàng gấp và những phí tổn phụ trội đương nhiên sẽ do bên khách hàng chi trả.
Bên cạnh đó còn có vấn đề liên quan đến hình ảnh và uy tín của một tập đoàn vận chuyển đường biển. Ai cũng biết mở thêm tuyến đường qua Bắc Băng Dương sẽ gây ô nhiễm (làm ô nhiễm nguồn nước và không khí) và tàn phá môi trường, phá hoại môi trường sống của các loại sinh và động vật trong khu vực … cho nên có nhiều hãng không muốn thương hiệu của họ bị công luận đả kích là thiếu thân thiện với môi tường và thiên nhiên. Năm 2019 nhiều hãng vận tải đường biển châu Ấu đã từ chối tham gia dự án đi qua Bắc Băng Dương. Tránh để bị quy trách nhiệm làm hâm nóng trái đất ».
Mở rộng ảnh hưởng của Nga
RFI : Tránh để hình ảnh của công ty bị hoen ố vì tàn phá môi trường chỉ là một trong số nhiều lý do khiến các nước phương Tây đứng ngoài các dự án khai thác tuyến đường phương Bắc. Từ 1987 lãnh đạo Liên Xô Michail Gorbatchev đã đề nghị « mở một tuyến đường hàng hải phương Bắc cho các tập đoàn nước ngoài ». Phải chăng Matxcơva giờ đây xem NSR là công cụ giải tỏa áp lực từ các biện pháp trừng phạt của phương Tây khi mà một phần lớn tuyến đường hàng hải này phải đi qua các vùng đặc quyền kinh tế của Nga ?
Paul Tourret : « Đây là cả một vấn đề. Thực ra tuyến hàng hải Bắc Cực là một dự án được Nga khởi động khoảng cuối những năm 2000, khi mà Nga và Vladimir Putin bắt đầu đóng một vai trò quan trọng hơn về mặt địa chính trị và cả trong lĩnh vực địa –kinh tế. Năm 2014 Nga chiếm bán đảo Crimée của Ukraina căng thẳng đã dấy lên giữa Matxcơva với các nước châu Âu. Tình hình xấu đi thêm từ 2022 khi nổ ra chiến tranh Ukraina.
Trong những điều kiện hiện tại, không còn ai muốn mạo hiểm đến Bắc Cực nữa, bởi vì như vậy tàu thuyền sẽ phải sử dụng một phần lãnh hải do Nga kiểm soát. Nhưng lập trường của Trung Quốc và Hàn Quốc thì khác. Seoul có quan điểm tương đối trung lập về xung đột Ukraina. Về phần Trung Quốc, nước này có mối quan hệ đặc biệt với Matxcơva : Nga và Trung Quốc là những đối tác kinh tế nhưng không là những liên minh…
Trung Quốc có thể sử dụng tuyến đường Bắc Cực, nhập khẩu dầu và nguyên liệu của Nga qua ngả này. Tại cuộc gặp gần đây nhất giữa Vladimir Putin và Tập Cận Bình, dự án xây dựng đường ống dẫn khí đốt nối liền Siberie với Hoa Lục rốt cuộc đã bị phía Bắc Kinh từ chối … Cho nên theo tôi, Trung Quốc chỉ sử dụng con đường Tơ Lụa Phương Bắc khi cần và điều này khác hẳn với dự án ‘Con đường tơ lụa qua Bắc Cực’ ».
Cửa ngõ vào Bắc Cực
RFI : Về phía Trung Quốc hành trình phương Bắc qua Bắc Cực và Bắc Băng Dương hình như chỉ là một trong số những giải pháp tránh để xuất và nhập khẩu bị phụ thuộc quá nhiều vào một vài tuyến hàng hải -như qua eo biển Malacca chẳng hạn. Nhưng sự hiện diện của Trung Quốc trong các vùng biển ở Bắc Cực làm dấy lên lo ngại về các hoạt động do thám của nước này trong một khu vực đặc biệt nhậy cảm đối với an ninh châu Âu và với khối NATO.
Paul Tourret : « Quả thực là có khả năng châu Âu có một sự chia rẽ giữa một bên là các quốc gia thân với những nước như Ấn Độ Nhật Bản, Hàn Quốc và bên kia là phe thân với khối Nga- Trung Quốc. Con đường phương Bắc này lại là biểu tượng của sự gần gũi về kinh tế giữa Matxcơva và Bắc Kinh… Tuy nhiên thế giới ngày nay cũng không hẳn là bị phân khối như thời kỳ chiến tranh lạnh. Chuyến công du của ông Tập Cận Bình vừa qua đến Mỹ thể hiện rõ ràng điều đó. Mỗi bên đều theo đuổi những lợi ích của riêng mình : Nga có lập trường riêng, Trung Quốc cũng vậy. Nga và Trung Quốc có thể chia sẻ lợi ích về tuyến đường phương Bắc nhưng lại không tìm được tiếng nói chung về dự án xây dựng đường ống dẫn khí đốt Siberie: Trung Quốc không muốn đầu tư vào dự án này tránh để bị quá phụ thuộc vào Nga. Bắc Kinh muốn phụ thuộc vào nhiều đối tác hơn là phụ thuộc vào một thỏa thuận mang tính cố định với Nga ».
RFI : Chân thành cảm ơn Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR của Pháp vừa trình bày về tuyến vận tải đường biển mới qua Bắc Cực. Công trình này thực ra mang nặng ý nghĩa chính trị, và những tính toán về chiến lược hơn là những lợi ích kinh tế thực sự có thể mang lại. NSR là cánh cửa cho phép Trung Quốc chen chân vào Bắc Cực. Hàn Quốc là một đối tác bị coi là « nhạt mờ ».
Trong khi đó Nga từ gần 20 năm nay xem việc phát triển tuyến đường hàng hải phương Bắc này là phương tiện để mở rộng ảnh hưởng và quyền chủ quyền ở Bắc Cực trước khi tính đến việc khai thác NSR như một trục giao thương mới để xuất khẩu dầu khí từ vùng Siberi.
Tue, 29 Sep 2026 - 288 - Kêu gọi giảm tốc độ phát triển công nghệ AI : Hình thức bảo hộ của Mỹ
Vì sao đột nhiên các « ông lớn » trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo ở Mỹ đồng loạt kêu gọi « giảm tốc độ phát triển các mô hình AI » ? Tại xứ sở của tự do kinh doanh mà lãnh đạo các tập đoàn trị giá hàng trăm tỷ đô la như OpenAI, Anthropic, SpaceXAI … lại đòi chính phủ quản lý chặt chẽ hơn các hoạt động phát triển mô hình Trí tuệ Nhân tạo.
Magnificent Seven quy tụ bảy công ty AI hàng đầu của Mỹ đang tính toán những gì ? Hay đơn giản đây là một hình thức bảo hộ, chận đường AI Trung Quốc tranh giành thị phần ?
Trí tuệ Nhân tạo (AI) không chỉ gây ra những lo ngại cướp đi công việc làm của con người hay cướp đi các nguồn điện và nước của nhân loại vì các công trình khổng lồ xây dựng trung tâm xử lý dữ liệu. Giờ đây, những tập đoàn AI báo động về nguy cơ những mô hình do chính họ kiến tạo vì phát triển quá nhanh, vượt ngoài sự hiểu biết của con người và rồi những phương trình AI càng lúc càng thông minh và hiệu quả sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát của những người đang lập ra chúng.
Hôm 12/09/2029 Dario Amodei, tổng giám đốc Anthropic, một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực này, đã kêu gọi chủ động giảm tốc độ phát triển những mô hình AI mạnh nhất của mình. Lập tức các đối thủ của ông đã hưởng ứng lời kêu gọi đó -từ Elon Musk đến kình địch của Dario Amodei là Sam Altman, chủ nhân OpenAI. Tiếp theo đó các chính trị gia ở Mỹ nhập cuộc. Tất cả cùng đòi chính phủ can thiệp, lập ra những khung pháp lý kiểm soát các hoạt động trong một lĩnh vực còn quá mới mẻ này. Chỉ có mỗi tổng thống Donald Trump chủ trương phải để cho các doanh nghiệp của Mỹ thực sự « tự do » phát triển và có như vậy mới có thể dẫn đầu cuộc chạy đua công nghệ, không lo bị Trung Quốc qua mặt.
Điều đáng nói ở đây là chính chủ nhân những tập đoàn công nghệ AI của Mỹ, những người đã đầu tư hàng trăm tỷ đô la để phát triển một công cụ mới lại dóng lên tiếng chuông báo động và đòi Nhà nước kiểm soát các hoạt động phát triển AI. Theo thẩm định của hãng tin Anh Reuters Google, Amazon, Meta và Microsoft đầu tư 650 tỷ đô la trong năm nay để có những công cụ càng lúc càng « thông minh hơn và hiệu quả hơn ».
Thắng gấp một đoàn tàu cao tốc
Làm thế nào để hiểu được nghịch lý giữa một bên là những khoản đầu tư rất lớn để đào tạo các mô hình AI thông minh nhất, mạnh nhất và hiệu quả nhát với lời kêu gọi giảm tốc độ phát triển những mô hình này, trước nguy cơ AI phát triển quá nhanh và ngày càng độc lập với những chức năng mà con người đặt ra cho chúng ? Sáng lập viên công ty SaferAI, Siméon Campos với chủ trương phát triển Trí tuệ Nhân tạo an toàn hơn cho nhân loại ví von : kêu gọi điều tiết nhịp độ cho ra đời những mô hình AI mới như thể là đòi « thắng gấp một đoàn tàu đang chạy hơn 300 km/giờ ».
Quyền lực trong tay một vài tập đoàn hàng trăm tỷ của Mỹ
Trên đài truyền hình Pháp France24, Edouard Fillias, đồng sáng lập viên và giám đốc điều hành công ty tư vấn chuyên về kỹ thuật số JIN, cho rằng tranh cãi về mức độ nguy hiểm của AI có phần « chệch hướng »
« Bởi vì thực tế cho thấy vấn đề không phải là AI có nguy hiểm hay không và nguy hiểm đến mức nào. Điều đáng sợ ở đây là nhờ công cụ mới là Trí tuệ Nhân tạo mà một vài tập đoàn của Mỹ có thể áp đặt những biện pháp bảo hộ trên thị trường Mỹ và với toàn thế giới. Cho nên những cảnh báo gần đây chính từ phía các đại tập đoàn AI rằng chỉ vài năm nữa công nghệ này sẽ làm chủ nhân loại … chẳng qua là do một thủ thuật của chính các đại công ty này khai thác sự hoang mang của công luận. Không biết trước được AI sẽ thay đổi đời sống của chúng ta như thế nào và đến đâu. Cho nên một tiếng nói như của Jacob Coxon, một cựu nhân viên Anthropic cũng đủ làm mọi người rúng động. Các tập đoàn AI khai thác nỗi sợ hãi của con người trước một công nghệ hoàn toàn mới mẻ và họ đưa ra những tai họa tiềm tàng kiểu như AI sẽ điều khiển thế giới, sẽ là một dạng ‘siêu quyền lực’ kiểm soát và chi phối đời sống của mỗi chúng ta… Thực tế chỉ là một vấn đề kinh tế »
Cũng trên đài France24, nhà kinh tế Julien Pillot, giảng dậy tại trường INSEEC xem những báo động về mức độ nguy hiểm của AI và kêu gọi chính phủ can thiệp, đặt ra những khung pháp lý là một sự giả dối từ phía các đại tập đoàn AI Mỹ. Mục tiêu sau cùng của họ là áp đặt một chính sách bảo hộ :
« Khai thác nỗi sợ hãi để tiếp cận công luận, để kiếm lời là mục đích của các tập đoàn AI ở Mỹ vào thời điểm mà công luận hoang mang vì những hệ quả từ công nghệ Trí tuệ Nhân tạo tạo sinh. Sau một thời gian đầu tư rất nhiều và rất tốn kém vào AI, giới trong ngành bắt đầu cần bảo đảm thu lại tiền lãi, Họ cần đưa ra những tín hiệu rằng AI là một lĩnh vực có tiềm năng và dễ kiếm lời …
Để đạt được mục đích này, thì các ‘ông lớn’ trong ngành vừa phải dẫn đầu cuộc đua, vừa phải áp đảo và thậm chí là loại bớt các đối thủ. Cho nên khi những ông chủ công nghệ AI của Mỹ kêu gọi ‘điều tiết’, ‘đưa ra những chuẩn mực’ để quản lý công nghệ mới này… trước hết là để bảo vệ công nghệ AI của Hoa Kỳ, để bảo vệ kỹ thuật của Mỹ.
Qua đó cấm các đối thủ khác xâm nhập vào thị trường Mỹ. Hiện tại Hoa Kỳ và Trung Quốc đang đi theo hai mô hình phát triển khác nhau, sử dụng những công nghệ và kỹ thuật khác nhau … Cho nên những báo động về mối nguy AI, những kêu gọi kiểm soát thị trường AI … vừa cho phép các hãng của Mỹ tự vệ, vừa loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, mà nguy hiểm nhất trong mắt họ là các mô hình Trí tuệ Nhân tạo của Trung Quốc ».
Mũi tên nhắm vào AI Trung Quốc
Hiện tại chỉ có Trung Quốc là đối thủ duy nhất khiến các ông lớn trong lĩnh vực AI của Hoa Kỳ lo ngại. Siméon Campos sáng lập viên công ty SaferAI phân tích
« Liên quan đến Trung Quốc, vấn đề khá phức tạp bởi vì Trung Quốc vừa có một đội ngũ các chuyên gia về AI rất giỏi, công nghệ của họ cũng rất tốt. Tuy nhiên so với Hoa Kỳ thì ở thời điểm hiện tại Trung Quốc thua Mỹ trên hai phương diện : một là năng xuất của các bộ xử lý đồ họa GPU của Mỹ cao gấp 20 lần so với của Trung Quốc. Nhược điểm thứ hai là công nghệ Trung Quốc phát triển từ những mô hình của Hoa Kỳ : Trung Quốc vẫn đi sau Mỹ một bước ».
Điều đó không cấm cản Trung Quốc có hướng đi riêng của chính mình. Lãnh đạo SafeAI Siméon Campos nhắc lại :
« Trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản, Anthropic là công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất : Doanh thu của tập đoàn này đang từ 10 tỷ đô la đầu năm, mà hiện tại là 60 tỷ. Để so sánh, tập đoàn Meta đã mất rất nhiều năm mới có được nhịp độ phát triển tương đương ».
Chính sách bảo hộ trá hình
Cho nên theo giới trong ngành, các tập đoàn Mỹ chẳng chỉ « giả vờ báo động để bảo vệ quyền lợi của chính mình, kêu gọi chính phủ đặt ra quy định đạo đức trong ngành AI để áp đặt những chuẩn mực của mình với thế giới ».
Theo chuyên gia kinh tế Julien Pillot Magnificent Seven ở Mỹ đang rất cần trấn an các cổ đông rằng AI là một lĩnh vực cho phép nhanh chóng thu về lợi nhuận và cần xua tan đe dọa « một quả bóng AI vỡ tung »
« Quả thực, OpenAI hiện phải đối mặt với một vấn đề, đó là không chứng minh khả năng sinh lời từ những mô hình AI họ phát triển. Trong khi đó thì Anthopic trong hai quý gần đây đã hòa vốn. Đây không là thời điểm thuận lợi để đưa OpenAI lên sàn chứng khoán. Tuy nhiên không thể phủ nhận là các công ti Trí tuệ Nhân tạo đã đầu tư rất, rất nhiều - chủ yếu là qua nhóm 7 tập đoàn lớn nhất ở Mỹ. Đầu tư của họ tiếp tục tăng hàng năm và đã đạt đến những số tiền không tưởng : Có lẽ đến cuối năm nay, tổng vốn đầu tư vào AI vượt quá ngưỡng 750 tỷ đô la, trong đó bao gồm đầu tư xây dựng hạ tầng (data center) và đầu tư để huấn luyện cho các mô hình AI càng lúc càng thông minh hơn. Những khoản đầu tư không lồ đó có thể sẽ dẫn đến hiện tượng vỡ bong bóng. Câu hỏi còn lại là quả bóng công nghệ AI sẽ vỡ tung, hay chỉ âm ỉ xì hơi ».
Vào lúc tranh luân tại Mỹ đang cao trào nhất là trước nguy cơ AI đe dọa tương lai của nhân loại, thì tại Bắc Kinh bộ trưởng bộ An Ninh Trần Nhất Tân hôm 14/09/2026 cảnh báo AI có thể đe dọa « an ninh chính trị » và « sự kiểm soát của đảng Cộng Sản Trung Quốc ».
Không ai tự bắn vào chân mình
Về câu hỏi liệu các tập đoàn Mỹ sẽ giảm đầu tư và điều tiết nhịp độ phát triển các mô hình AI mới hay không, thì câu trả lời rõ ràng là không. Julien Pillot phân tích :
« Hiện tại có rất ít lý do để nghĩ rằng giữa hai cường quốc trên thế giới là Mỹ và Trung Quốc cuộc chạy đua về AI và đầu tư trong lĩnh vực này sẽ giảm tốc độ. Cả hai cùng lâm vào thế ‘tiến thoái lưỡng nan’ : không bên nào có lợi khi giảm tốc nếu họ không chắc chắn rằng đối thủ của mình cũng sẽ điều tiết nhịp độ phát triển. Là bên đầu tiên dừng bước, chẳng khác nào tự bắn vào chân mình. Thêm vào đó còn có một hiện tượng thứ hai được biết đến dưới tên gọi ‘bi kịch của chân trời thời gian’, có nghĩa là các khoản đầu tư vào AI đang hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của Mỹ và của Trung Quốc - ở một mức độ thấp hơn. Trong ngắn hạn, hai quốc gia này cùng cần tăng trưởng : đây là một cái thước đo lường chắc chắn, khác hẳn với những cảnh báo về những mối rủi ro - nếu có, còn vừa mơ hồ, vừa xa xôi… Kết hợp cả hai lý do này, ít có hy vọng Washington hay Bắc Kinh yêu cầu các tập đòn AI quốc gia giảm tốc độ phát triển. Nhưng nếu Trung Quốc và Mỹ có thể bắt đầu đàm phán về những phương tiện để kiểm soát những rủi ro mà công nghệ này gây ra cho nhân loại, thì đó đã là một điểm khởi đầu ».
Tue, 22 Sep 2026 - 287 - Thượng đỉnh BRICS : Chiến tranh Ukraina và Trung Đông, cơ hội của Trung Quốc và Nga
Thượng đỉnh nhóm các nền kinh tế đang trỗi dậy BRICS 2026 tại New Delhi là cơ hội tốt đối với Nga và Trung Quốc để mở rộng ảnh hưởng kinh tế với các nước « phương Nam ». Là hai cột trụ chính trong khối, Matxcơva và Bắc Kinh tranh thủ cảm tình của nước chủ nhà là Ấn Độ nhất là khi vì chiến tranh Iran và Ukraina, thủ tướng Modi và các lãnh đạo trong nhóm BRICS bị đẩy vào thế kẹt.
Quan hệ giữa Ấn Độ và Mỹ rạn nứt. Những khó khăn quân sự của Mỹ ở Trung Đông và chính sách đối ngoại của Washington làm suy yếu đồng đô la : Chuyên gia kinh tế Jean-Joseph Boillot cố vấn Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp phân tích về những cơ hội đang mở ra cho hai đối thủ của Hoa Kỳ là Nga và Trung Quốc.
Từ thượng đỉnh Ekaterinbourg - Nga năm 2009 đến hội nghị tại New Delhi, Ấn Độ hôm 12-13/09/2029, khối các nền kinh tế đang trỗi dậy với 4 rồi 5 thành viên sáng lập ban đầu, đã mở rộng đến một số nước ở Trung Đông, Đông Nam Á và châu Phi.
Trong số 11 thành viên chính thức hiện tại, có Iran, Ai Cập, Ả Rập Xê Út… và đương nhiên là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi. Vai trò nước chủ nhà của thủ tướng Narendra Modi lần này không đơn giản. Vì chiến tranh Trung Đông, drone và tên lửa Iran đang nhắm vào nhiều quốc gia vùng Vịnh đồng minh của Hoa Kỳ như Ả Rập Xê Út hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất.
Kết thúc hai ngày họp, các bên đã ra thông cáo chung nhưng tránh sử dụng cụm từ « chiến tranh Iran » cho dù vì cuộc chiến này eo biển Hormuz bị phong tỏa, ngăn cản Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất xuất khẩu dầu hỏa.
Cùng lúc chiến tranh Iran đang làm thay đổi cách nhìn của các nước trong Vùng Vịnh về Hoa Kỳ, ô dù an ninh của toàn khu vực. Cũng vì dầu hỏa và năng lượng, bản thân nước chủ nhà, Ấn Độ bị dồn vào thế « trên đe dưới búa ». Chỉ riêng bài toán năng lượng đã khiến thủ tướng Narendra Modi phải đau đầu : Để thay thế nguồn cung cấp dầu khí của Trung Đông, New Delhi buộc phải trông cậy nhiều hơn vào nhà cung cấp truyền thống là Nga, thế nhưng Ấn Độ lại liên tục bị Hoa Kỳ gây sức ép để hạn chế nhập khẩu dầu của Nga và mua thêm dầu của Mỹ.
Trả lời RFI Việt Ngữ chuyên gia Jean-Joseph Boillot, cố vấn Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp phân tích về những điểm quan trọng nhất của thượng đỉnh khối BRICS lần này.
Jean-Joseph Boillot : "Rõ ràng là hiện nay chúng ta đang đối diện với một khối ‘Phương Nam' toàn cầu đã được mở rộng. Ngày càng có nhiều quốc gia không còn chấp nhận sự bá quyền của Mỹ khi thấy chính sách ngoại giao của Donald Trump hoàn toàn đi ngược lại lợi ích của họ. Trong số này, có các nước Trung Đông như Ả Rập Xê Út, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), cả hai đã gia nhập nhóm BRICS từ 2024. Nhưng đừng quên ba đầu tàu của BRICS là Trung Quốc, Nga và Ấn Độ."
RFI Tiếng Việt: Thượng đỉnh New Delhi 2026 thắt chặt thêm quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Lần cuối ông Tập Cận Bình công du Ấn Độ là hồi 2019. Đôi bên thực sự sưởi ấm quan hệ cả về ngoại giao, lẫn kinh tế?
Jean-Joseph Boillot : Kinh tế và địa chính trị thực ra là hai mặt của cùng một đồng tiền. Về mặt địa chính trị, giữa Ấn Độ và Trung Quốc vẫn tồn tại những bất đồng đáng kể, đặc biệt là tranh chấp tại đường biên giới. Bên cạnh đó, chính sách ngoại giao của Ấn Độ, vốn chủ trương liên kết đa chiều, nhưng khoảng 15 năm trở lại đây, rõ ràng New Delhi ngày càng có xu hướng thân Mỹ hơn.
Tuy nhiên, hiện tại trên phương diện này, Trung Quốc và Ấn Độ đang bước vào giai đoạn tan băng. Đôi bên đang nối lại đối thoại về đường biên giới.
Còn đối với Hoa Kỳ, sự ‘phản bội’ từ phía Mỹ là một gáo nước lạnh đối với chính sách của thủ tướng Modi khi mà Washington đưa Ấn Độ vào nhóm các quốc gia phải chịu mức thuế quan cao nhất. Mặt khác, Nhà Trắng còn cấm Ấn Độ nhập khẩu dầu hỏa của Nga, trong khi đối với các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ, nguồn dầu này đã trở thành một ‘món quà từ trên trời rơi xuống’ kể từ khi chiến tranh Ukraina bắt đầu.
Vì vậy, rõ ràng phía Ấn Độ đang có một sự thất vọng rất lớn. Điều này tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho việc xích lại gần Trung Quốc. Cùng lúc thì Trung Quốc, ở thời điểm này, đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ trong khoảng 3 năm trở lại đây, đặc biệt trong những lĩnh vực thiết yếu như thiết bị năng lượng mặt trời, năng lượng gió, cũng như trong lĩnh vực điện tử. Trung Quốc cũng là một nguồn đầu tư rất lớn đối với Ấn Độ, vào thời điểm các nhà đầu tư thận trọng hơn với Ấn Độ.
Về kinh tế và thương mại, Ấn Độ và Trung Quốc vừa cần nhau, vừa là những đối thủ của lẫn nhau?
Jean-Joseph Boillot : Tôi nghĩ rằng trên thực tế, giữa Ấn Độ và Trung Quốc đang trong tình huống ‘đôi bên cùng có lợi’ thuần túy trên phương diện kinh tế mà nói. Song cần lưu ý rằng, từ trước đến nay New Delhi hoàn toàn không tin tưởng Trung Quốc. Các chiến lược gia Ấn Độ hiểu rất rõ rằng giữa hai nước hiện nay tồn tại một khoảng cách rất lớn và Trung Quốc có năng lực công nghệ cũng như tiềm lực đầu tư mạnh đến mức có thể khiến Ấn Độ trở nên phụ thuộc.
Vì vậy, Ấn Độ sẽ luôn duy trì một mức độ dè chừng nhất định và áp dụng các biện pháp kiểm soát đối với đầu tư của Trung Quốc, xét theo từng lĩnh vực. Điều này nhằm tránh một thực tế mà ai cũng biết về Trung Quốc : chính sách dumping. Bắc Kinh trợ giá cho các doanh nghiệp quốc gia để hàng hóa tràn ngập các thị trường trên thế giới. Ấn Độ không muốn đi vào vết xe đổ của phương Tây, tức là để rồi các nhà máy của mình cũng phải đóng cửa vì cạnh tranh không lại với hàng rẻ của Trung Quốc.
Còn về phía Trung Quốc, Bắc Kinh ý thức được rằng tình hình hiện nay không mấy thuận lợi. Nếu chỉ dựa vào xuất khẩu như hiện nay, thúc đẩy tăng trưởng thì không đủ : Trung Quốc lại không thể trông cậy vào các thị trường phương Tây Âu-Mỹ. Washington thì đã dần đóng cửa với hàng xuất khẩu của Trung Quốc, trong lúc châu Âu cũng đang xây dựng hàng loạt biện pháp kiểm soát đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, chỉ còn lại thị trường từ các quốc gia đang trỗ dậy và trong số này thì Ấn Độ là ông khổng lồ với gần 1,5 triệu dân.
Nhìn từ Ấn Độ, chúng ta có thể thấy rất rõ rằng cả các nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng đều ưa chuộng dùng đồ ‘Made in China’ : Ấn Độ là một quốc gia mà người dân nhìn chung còn khá nghèo chỉ có hàng của Trung Quốc mới đủ rẻ để cho phép họ mua vào từ đôi giày cho đến điện thoại di động… Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia duy nhất có khả năng bán những sản phẩm như vậy trên thị trường Ấn Độ. Các nhà sản xuất Ấn Độ chưa thực sự có thể sản xuất hàng loạt những sản phẩm như vậy.
Nhìn từ phía các nhà sản xuất Ấn Độ, máy móc và thiết bị của Trung Quốc đang rất được ưa chuộng. Tôi biết khá rõ các tập đoàn lớn của Ấn Độ, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng, từ Tata đến Reliance : Họ hiện gần như chỉ sử dụng thiết bị của Trung Quốc. Vì vậy, đối với ngành công nghiệp Ấn Độ hiện nay thì Trung Quốc là nguồn cung cấp thiết bị tốt nhất xét về mặt giá cả và chất lượng.
Thúc đẩy thêm quan hệ với Ấn Độ đặc biệt là trên vấn đề năng lượng, chinh phục cảm tình của 11 thành viên khối BRICS và 10 quốc gia đối tác của khối này : phải chăng đó là mục tiêu chuyến công du Ấn Độ dài ngày của tổng thống Vladimir Putin?
Jean-Joseph Boillot : Khi Vladimir Putin khởi xướng thành lập nhóm BRICS, ban đầu chỉ có 4 quốc gia: Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, sau đó thêm quốc gia thứ 5 là Nam Phi, ý tưởng lúc đó thực ra không hẳn là tạo ra một mặt trận chống phương Tây. Bởi ngay từ đầu, lập trường của Ấn Độ, xin nhắc lại, khi ấy ngày càng có xu hướng xích lại gần thế giới phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Chính phủ đầu tiên có đường lối thân Mỹ là dưới thời Manmohan Singh.
Còn về phía Matxcơva thì đầu những năm 2000 là thời điểm Nga đang bắt đầu lấy lại vị thế sau cuộc khủng hoảng lớn dưới thời Yeltsin. Tổng thống Putin khi đó muốn đưa Nga trở lại vị trí một cường quốc thế giới. Ý thức được là phương Tây có lập trường chống Nga, vì vậy điện Kremlin tận dụng cơ hội, dựa vào các nền kinh tế đang trỗi dậy và đã chọn Ấn Độ và Trung Quốc làm hai đối tác chính. 2009 là thời điểm Nga đã trông thấy ở Trung Quốc một một quốc gia rất mạnh mà lại không cùng với phương Tây bài xích Matxcơva. Về địa chính trị, Trung Quốc cần một môi trường hòa bình trên quy mô toàn cầu để có thể tiếp tục phát triển về kinh tế và thu hẹp khoảng cách với nước giàu.
Ngoài ra, Nga cũng hiểu rõ rằng Ấn Độ và Trung Quốc đang cạnh tranh với nhau, trong khi quan hệ giữa Matxcơva và New Delhi thì lại rất tốt. Nga là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho Ấn Độ, đồng thời cũng hợp tác trong lĩnh vực các nhà máy điện hạt nhân.
Từ 2023, Nga đã đề nghị khối BRICS cần có một đồng tiền chung. Chủ đích là để bớt phụ thuộc vào đô la. Dự án đó đến đây đã có tiến triển nào và có mang tính khả thi hay không ?
Jean-Joseph Boillot : Không. BRICS sẽ không có đồng tiền chung và cũng không có ý định tiến tới một đồng tiền chung. Không ai thực sự có lợi ích trong việc đó. Đúng là Nga, trên hết đã thúc đẩy ý tưởng này nhưng không có sức thuyết phục.
Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia vùng Vịnh đều không có lợi ích gì và cũng không muốn bị một đồng tiền chung. Bắc Kinh không muốn, bởi nếu có một đồng tiền chung, thì có nghĩa là ở một mức độ nào đó, Trung Quốc sẽ phải phụ thuộc vào phần còn lại của nhóm trong việc quản lý chính sách tiền tệ của mình. Trung Quốc hoàn toàn không muốn điều đó.
Ấn Độ cũng không muốn, bởi đây là một quốc gia vẫn còn tương đối yếu về mặt kinh tế, và một đồng tiền chung cũng sẽ đi ngược lại lợi ích của chính New Delhi. Vì vậy, chủ quyền tiền tệ của cả hai nước lớn đến mức ý tưởng do Nga đề xuất trên thực tế đã bị gạt sang một bên.
Tuy nhiên, điều đã thay đổi là uy tín của đồng tiền Mỹ đã suy giảm tại các nền kinh tế đang trỗi dậy, đặc biệt là các quốc gia Trung Đông, kể từ khi cuộc chiến ở Iran bắt đầu. Ngược lại, dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương đang tăng lên. Điều đó cho thấy họ đang hướng tới một hệ thống mới, có thể gần giống với chế độ bản vị vàng, mặc dù hiện vẫn chưa hoàn toàn rõ cơ chế cụ thể sẽ được sử dụng như thế nào.
Các quốc gia xuất khẩu dầu trước đây là những bên mua rất lớn công trái phiếu của Hoa Kỳ. Giờ đây thì khác. Điều này giải thích vì sao lãi suất dài hạn ở Mỹ đang tăng mạnh. Ngược lại, ở Trung Quốc, lãi suất đối với trái phiếu Trung Quốc đang giảm. Đây là một tình hình hoàn toàn mới. Nói cách khác trong lĩnh vực tiền tệ, hiện có hai thay đổi quan trọng : một là đồng đô la kém hấp dẫn và khối BRICS đang thúc đẩy những hình thức sử dụng đồng tiền quốc gia làm phương tiện thanh toán song phương. Điểm thứ nhì và có lẽ đây là điều khá mới mẻ : Trong nội bộ BRICS, các thành viên có thể sử dụng đồng tiền quốc gia của mình như một dạng tài sản đối ứng được nắm giữ trong kho dự trữ của các ngân hàng trung ương đối tác.
Thí dụ cụ thể là Trung Quốc có thể quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, nhưng không nhất thiết thông qua các thị trường tài chính. Thay vào đó, việc này có thể được thực hiện trong khuôn khổ các thỏa thuận với những ngân hàng trung ương khác.
Như vậy, chúng ta thực sự đang hướng tới một dạng trật tự tiền tệ mới - có lẽ chỉ mang tính tạm thời - nhưng điều này giúp cộng đồng quốc tế bớt bị phụ thuộc vào đồng tiền của Hoa Kỳ, giúp cho giao thương quốc tế bớt bị đồng đô la chi phối.
RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà nghiên cứu Jean-Joseph Boillot.
Wed, 16 Sep 2026 - 286 - Thương mại : Mỹ phải hoàn trả hơn 100 tỷ đô la thuế nhập khẩu. Ai hưởng lợi ?
Nếu là một doanh nghiệp xuất khẩu từng là nạn nhân của chính sách bảo hộ Washington ban hành từ 2025, thì làm thế nào để thu hồi những khoản thuế đã nộp cho Hải Quan Mỹ ? Tính đến cuối tháng 7/2026 chính phủ đã phải hoàn trả 100 tỷ đô la cho các công ty nhập khẩu và các nhà phân phối của Hoa Kỳ. Hơn 40 tập doàn trong danh sách S&P500 đã nhận lại được gần 10 tỷ đô la. Các công ty xuất khẩu sang Mỹ có hy vọng gì hay không ?
Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng 90 % gánh nặng thuế quan Nhà Trắng ban hành, là do người Mỹ hứng chịu. Vậy, 10 % còn lại thì sao ?
Để trả lời câu hỏi làm thế nào đòi lại tiền từ chính phủ Mỹ nếu là một doanh nghiệp nước ngoài giao thương với Hoa Kỳ, Le Figaro hôm 01/09/2026 có một bài viết với hàng tựa : « Các khoản thuế quan do Donald Trump áp đặt mà các doanh nghiệp Pháp đang kín đáo thu hồi ».
Về mặt lý thuyết các hãng của Pháp có thể đòi lại 10 tỷ đô la do là nạn nhân của chính sách « thuế đối ứng » « không hợp lệ » mà Donald Trump đã ban hành hồi đầu tháng 4/2025.
Tiền của Mỹ vẫn ở lại trên đất Mỹ
Luật gia Olivier Dorgans, chuyên về luật thương mại của văn phòng Stephenson Harwood được tờ báo trích dẫn giải thích ngắn gọn : Tiền của Mỹ thì vẫn ở lại trên đất Mỹ.
Một doanh nghiệp Pháp xuất khẩu sang Hoa Kỳ qua trung gian cơ quan dưới tên gọi IOR - Importer of Record. Đây có thể là một chi nhánh đại diện tại Mỹ, hay là một nhà phân phối độc lập, hoạt động tại Hoa Kỳ.
Cho nên khi Hoa Kỳ hoàn trả lại các khoản thuế đã thu vào « bất hợp pháp » thì bên nhận lại cũng phải là IOR. Điều đó có nghĩa là « tiền của Mỹ thì vẫn ở lại trên đất Mỹ ». Trong trường hợp của Pháp, do Liên Âu và Mỹ đã đạt thỏa thuận về mức thuế đối ứng 15 % thì các hãng của Pháp đã phải giảm giá để « chia sẻ gánh nặng » với khách hàng. Đối lại khi khoản thuế đối này này bị hủy, thì Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) phải hoàn trả lại tiền cho IOR. Điều đó không có nghĩa là số tiền đó được đưa trở lại về Pháp. Đây chỉ là một dàn xếp « bí mật » giữa IOR và nhà sản xuất của Pháp.
Trả lời đài truyền hình France5, Baptiste Reybier, tổng giám đốc FerMob chuyên cung cấp bàn và ghế sắt sử dụng trong vườn giải thích, ông thực sự đau đầu khi bị Mỹ đánh thuế 15 %
« Chúng tôi không được hướng dẫn rõ ràng về quy trình để biết phải làm những gì. Các quy định về hạn ngạch thuế quan thay đổi liên tục. FerMob do vậy bắt buộc phải thích nghi với tình huống, phải giải quyết một cách nhanh gọn và thực tế nhất (…) Chúng tôi tin rằng Mỹ là một quốc gia có chính sách thân thiện với các doanh nghiệp, ủng hộ kinh doanh và lại rất thực tiễn. Cho nên các chính sách của Washington cũng có thể dễ được điều chỉnh một khi họ thấy là các biện pháp ban hành gây rối loạn các hoạt động kinh tế, kinh doanh ».
Christine Sévillano, chủ một hầm rượu tại Champagne mà Hoa Kỳ là thị trường quan trọng nhất, trong một năm qua, xuất khẩu sang Mỹ chỉ còn bằng 1 phần 6 so với trước đây. Hầm rượu của bà bị thiệt hại rất nhiều :
« Trước khi bị đánh thuế, loại phân khúc thấp, tức là loại rượu phổ thông chúng tôi bán sang Mỹ với giá cao nhất 55-60 đô la một chai. Nhưng từ vì mức thuế đối ứng 15 %, mỗi chai rượu champagne đẩy giá lên đến 70 đô la. Hệ quả kèm theo là chúng tôi khó bán sang Hoa Kỳ. Thị trường này bị đóng băng. 2025 là một năm cực kỳ khó khăn, như thể là hàng của mình cấm xuất khẩu sang Mỹ vậy ! »
Cuộc chiến còn dài
Từ khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặt các hàng rào thuế quan với toàn thế giới, nhiều hãng lớn của Hoa Kỳ như Apple, Nike hay FedEx đã nhanh chóng thu về lại được những khoản tiền lớn. Theo báo tài chính The Wall Street Journal tính đến ngày 31/07/2026 đã có hơn 250.000 trong số 330.000 công ty nhập khẩu của Mỹ nộp đơn yêu cầu Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) trả lại tiền. Đến trung tuần tháng 8/2026 CBP thông báo đã xử lý các hồ sơ để hoàn trả 128,7 tỷ đô la cho các doanh nghiêp Mỹ.
Apple đã nhận lại được hơn 2 tỷ đô la, nhà cung cấp quần áo, giày… thể thao Nike được hoàn trả gần 1 tỷ đô la, hãng xe Ford cũng thu về lại được 500 triệu …
Một số doanh nghiệp khác của Mỹ kém may mắn hơn. Thủ tục đòi lại những khoản thuế phụ trội phức tạp hơn, số tiền thu hồi lại ít hơn và chậm hơn so với mong đợi.
Đau đầu hơn nữa là lập tức sau khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ ra phán quyết bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặc các hàng rào thuế quan, Donald Trump trong hai ngày liên tiếp (20 và 21/02/2026) thông báo thêm hai mức thuế bổ sung 10 rồi 15 %.
Những lớp thuế chồng chất
Cho đến hôm nay 08/09/2026 quy định về mức thuế quan của Hoa Kỳ với thế giới là một vùng sương mù dày đặc.
Cho dù mức thuế đối ứng (đối với hàng của Việt Nam là 20 %, đối với Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc là 15 %...) đã bị hủy nhưng các đối tác thương mại xuất khẩu sang Hoa Kỳ vẫn tạm thời phải chịu một mức thuế phụ thu 10 %. Bên cạnh đó là mức thuế đánh vào những sản phẩm đặc biệt như nhôm, thép ... Lúc thì Washington ấn định thuế nhôm, thép là 25 %, lúc lại đẩy mức thuế này lên tới 50 % như đang áp dụng với Canada.
Trên đài phát thanh Pháp France Info, Denis Ferrand thuộc Viện nghiên cứu và dự phóng kinh tế vĩ mô độc lập Rexecode cho rằng chính sách thuế quan của Hoa Kỳ giờ đây đang mở ra những trận đấu pháp lý gay go. Để đòi lại tiền từ chính phủ Mỹ đã là một chuyện khó đối với một doanh nghiệp hay một nhà phân phối ở Hoa Kỳ. Với một nhà xuất khẩu ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới,điều đó lại càng khó hơn.
« Đây là một nguồn gốc tranh chấp cơ bản. Trong bối cảnh bất ổn định vừa nêu, chúng ta ở vào đúng thời điểm mà chưa ai biết tình hình sẽ lắng xuống như thế nào. Tranh chấp sẽ dẫn tới những vụ kiện kéo dài. Các doanh nghiệp sẽ đòi phải được hoàn trả những khoản thuế quan mà họ đã nộp cho Hoa Kỳ trong khuôn khổ chính sách bảo hộ ông Trump ban hành. Thí dụ như hãng xe Toyota đang đòi được trả lại tiền. Nhưng bên cạnh đó là rất nhiều những câu hỏi. Theo các ước tính, chính phủ phải hoàn lại hàng trăm tỷ đô la cho các doanh nghiệp. Nhưng cụ thể thì sẽ phải chia sẻ số tiền hàng trăm tỷ đô như thế nào cho các công ty nhập khẩu của Mỹ, số tiền đó liệu có được trả lại cho người tiêu dùng hay không ? Chi nhánh của Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ ở New York thẩm định, 90 % thuế hải quan ông Trump ban hành do các doanh nghiệp, các nhà phân phối và người tiêu dùng ở Mỹ hứng chịu ».
Cũng trên đài phát thanh France Info, nhà kinh tế Stéphane Carcillo, cộng tác với Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế nói đến những thiệt hại đối với Mỹ do các biện pháp bảo hộ gây nên :
« Về phương diện pháp lý, ẩn số ở đây liên quan đến việc sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp đòi được trả lại tiền. Hơn nữa chính sách thuế quan của Mỹ tác hại đến các doanh nghiệp, đến các nhà phân phối ở Mỹ đến mức độ nào và cũng không biết là các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, hay những cá nhân có kiện và đòi chính phủ trả lại tiền hay không. Còn đối với chính phủ, thì đây cũng là một gánh nặng tài chính : ngân sách của Liên Bang thiếu đi mất 175 tỷ đô la. Đây là một khoản tiền lớn. Hiện tại chính quyền Trump liên tục thông báo áp thêm các biện pháp thuế quan, rồi đòi mở điều tra từng quốc gia, xem đối tác thương mại đó có cạnh tranh bất bình đẳng làm phương hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ hay không… »
Có một điều chắc chắn là trong thời gian tới, các nhà sản xuất các chủ doanh nghiệp sẽ rất mệt mỏi vì các chính sách thuế quan, vì các đòn trừng phạt. Cây bút xã luận của báo kinh tế Pháp Les Echos, Dominique Seux đánh giá, các đòn thuế quan mà Hoa Kỳ liên tục sử dụng đã làm thay đổi hẳn cách tiếp cận của các doanh nghiệp về môi trường chung quanh. Để tồn tại, một doanh nhân ngày càng phải chú ý đến yếu tố « địa chính trị », đến chính sách mà các quốc gia cách xa họ cả ngàn cây số ban hành.
Tue, 08 Sep 2026 - 285 - Chiến tranh kinh tế Iran giúp Ấn Độ - Trung Quốc sưởi ấm quan hệ
Chiến tranh Iran là một bước ngoặt trong bang giao giữa Ấn Độ và Trung Quốc ? Vì lợi ích kinh tế, đôi bên tạm gạt sang một bên những tranh chấ lãnh thổ để đối phó với một cuộc xung đột Washington đã khai mào và đang đe dọa tăng trưởng của hai quốc gia đông dân nhất địa cầu. Bắc Kinh và New Delhi có thể hợp tác trên những lĩnh vực nào ? Đâu là giới hạn trong những nỗ lực sưởi ấm quan hệ song phương ?
Ngày 01/09/2026 lãnh đạo hai nước cùng tham dự thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải - SCO lần thứ 26 diễn ra tại Bishkek, thủ đô Kyrgyzstan. Có nhiều khả năng trong chưa đầy 2 tuần nữa, (12-13/09/2026) chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến New Delhi dự thượng đỉnh BRICS.
Ấn Độ và Trung Quốc cùng đang chịu áp lực sau hơn nửa năm chiến tranh Iran kéo dài và từ mặt trận quân sự, Hoa Kỳ đòi mở rộng cuộc xung đột này sang mặt trận kinh tế. New Delhi và Bắc Kinh cùng là những khách hàng lớn mua dầu hỏa Trung Đông, chiến tranh Iran đã ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Ấn Độ và Trung Quốc như thế nào ?
Theo các số liệu chính thức, tăng trưởng của quốc gia Nam Á này vẫn còn vững chắc trong 6 tháng đầu năm 2026. GDP tăng 7,8 % trong quý 1, cao hơn so với dự báo của Ngân Hàng Trung Ương.
Tuy nhiên, do phụ thuộc đến 90 % năng lượng nhập khẩu, giá dầu tăng vì chiến tranh Trung Đông, do eo biển Hormuz bị phong tỏa, chi phí nhập khẩu, thâm hụt cán cân thương mại bị đẩy lên cao, lạm phát gia tăng. Theo báo Financial Times, lạm phát tại Ấn Độ tăng 4,45 % trong tháng 7/2026, vượt ngoài dự phóng của New Delhi.
Tương tự như Ấn Độ, Trung Quốc cũng là một nguồn nhập khẩu dầu của thế giới, đặc biệt là dầu của Vùng Vịnh, của Iran, cho nên khi giá dầu vì chiến tranh vượt ngưỡng 100 đô la/thùng thay vì 68 đô la như trước ngày Mỹ và Israel tấn công Iran, Bắc Kinh cũng phải đối mặt với những thách thức tương tự như New Delhi. Cỗ máy sản xuất, công nghiệp và qua đó là các hoạt động xuất khẩu của « công xưởng » thế giới này bị đe dọa.
Tình huống càng thêm khó khăn sau khi Nhà Trắng đòi trừng phạt gián tiếp mọi quốc gia giao dịch với Iran, tức là nhắm trực tiếp vào các doanh nghiệp, ngân hàng ... của Trung Quốc vẫn liên hệ với Teheran.
Trung Quốc và Ấn Độ cùng là những đối tác thương mại quan trọng bậc nhất của Iran, cả hai cùng là những khách hàng lớn nhất mua vào dầu hỏa Iran. Do vậy, đối thoại giữa nguyên thủ hai nước tại Bishkek đặc biệt được truyền thông chú ý.
Chiến tranh Iran và cơ hội cho Bắc Kinh
Thế nhưng về mặt ngoại giao và địa chính trị, đối với Bắc Kinh chiến tranh Trung Đông lần này cũng là một cơ hội tốt ngoài mong đợi. Tuần báo uy tín ấn hành tại New Delhi, Economic&Policy Weekly ghi nhận : Chiến tranh Iran đánh dấu một « bước ngoặt về địa chính trị » của Ấn Độ đối với Trung Quốc. Vào lúc Washington « sa lầy » ở Trung Đông, Bắc Kinh « củng cố vị thế chiến lược của mình mà không cần hao công tổn sức ».
Đây cũng là cơ hội để Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng trên nhiều phương diện từ kinh tế đến đối tác chiến lược, tài chính, công nghệ … Hơn nữa, Mỹ bị chia trí vì Trung Đông, bớt « kềm tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc » ở châu Á -Thái Bình Dương.
Cải thiện quan hệ từ trước khi chiến tranh Iran khai mào
Thực ra bang giao giữa hai nước đông dân nhất địa cầu đã liên tục được cải thiện từ năm ngoái. Tháng 9/2025, sau 7 năm không đặt chân đến Hoa Lục và 5 năm từ khi xảy ra xung đột ở biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc trên dãy Himalaya, thủ tướng Narendra Modi đã trở lại Trung Quốc. Ông dự thượng đỉnh SCO tại Thiên Tân, hội đàm với chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh. Đó là thời điểm Washington đánh thuế 50 % vào hàng của Ấn Độ xuất khẩu sang Hoa Kỳ và trong nửa đầu nhiệm kỳ 2, tổng thống Donald Trump chọn đứng về phía Pakistan, kẻ thù của Ấn Độ trong tranh chấp lãnh thổ giữa New Delhi và Islamabad tại Cachemire.
Cách nay đúng một năm nhà báo Pierre Haski chuyên về địa chính trị giải thích : Ấn Độ xích lại gần Trung Quốc không phải vì Bắc Kinh có sức thu hút hơn Washington. Trong mắt kinh tế gia Agath Kratz chuyên nghiên cứu về Trung Quốc bất luận động lực nào thúc đẩy Ấn Độ sưởi ấm quan hệ với Trung Quốc, nhưng về dài hạn, lợi ích kinh tế của New Delhi vẫn được đặt tại Hoa Kỳ. Cũng trên đài truyền hình Arte ngày 03/09/2025 bà phân tích :
« Xích lại gần Trung Quốc, về phương diện kinh tế, Ấn Độ không hưởng lợi được bao nhiêu. Trái lại, mở rộng quan hệ với Mỹ để trong tương lai, thay thế Trung Quốc trở thành một nhà cung cấp, một nguồn xuất khẩu cho Hoa Kỳ và cho châu Âu : đó mới là lợi ích thực sự mà New Delhi muốn nhắm tới. Thâm hụt mật dịch của Ấn Độ với Trung Quốc lên tới 100 tỷ đô la, cao gấp đôi so với 5 năm trước đây. Ấn Độ cũng đã phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc, cho nên, chỉ cần xảy ra tranh chấp ở biên giới là cũng đủ để đe dọa một số các lợi ích cốt lõi của New Delhi. Thủ tướng Modi muốn giảm mức độ phụ thuộc của Ấn Độ vào Trung Quốc ».
Về phần nhà nghiên cứu Valérie Niquet Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược – FRS của Pháp, và cũng là giám đốc đặc trách chương trình nghiên cứu về châu Á của quỹ này, bà nhấn mạnh đến chính sách đối ngoại rất cân bằng của thủ tướng Modi từ trước đến nay.
« Ngay trước chuyến đi Bắc Kinh của thủ tướng Ấn Độ, New Delhi đã cho thử một loại tên lửa mới có khả năng nhắm trúng mọi nơi trên lãnh thổ Trung Quốc. Trước khi đi Trung Quốc, Narendra Modi cũng đã công du Nhật Bản, một đối tác kinh tế và quân sự quan trọng khác. Điều đó chứng tỏ chính sách đối ngoại của New Delhi rất cân bằng. Đó là chưa kể đến vai trò của Nga. Nói cách khác, Ấn Độ trong cách đối đầu với những áp lực từ phía Hoa Kỳ vẫn không quên đâu mới là những lợi ích cơ bản của chính mình ».
Mỹ « đánh mất » Ấn Độ ?
Trở lại với câu hỏi vì xung đột Iran và trước đó nữa là vì chiến tranh thuế quan của Hoa Kỳ Bắc Kinh và New Delhi có thể hợp tác trên những lĩnh vực nào và đâu là giới hạn trong những nỗ lực của các ông Tập Cận Bình, Narendra Modi để cải thiện quan hệ song phương, Sylvia Malinbaum, chuyên gia về Nam Á Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI ghi nhận từ thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải – mà Iran là một thành viên toàn phần, tổ chức Thiên Tân 2025 – hình ảnh các lãnh đạo Trung Quốc, Ấn Độ và Nga đoàn kết đã là một thông điệp mạnh. Khi đó tổng thống Mỹ cay đắng bình luận trên mạng xã hội Truth Social : « Dường như chúng ta đã để Ấn Độ và Nga rơi vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, một quốc gia ngày sàng sâu sắc và đen tối hơn ».
Trước mắt về kinh tế thương mại, Trung Quốc và Ấn Độ có chung một mục đích : Đối phó với các biện pháp bảo hộ của Hoa Kỳ. Cả hai cùng có cán cân thương mại thặng dư so với Mỹ nên cùng bị Nhà Trắng trừng phạt bằng các đòn thuế quan. Nhưng bản thân Trung Quốc và Ấn Độ vừa là đối tác vừa là những đối thủ cạnh tranh của lẫn nhau.
Trung Quốc trong thế xuất siêu với Ấn Độ, cán cân thương mại của Bắc Kinh với bạn hàng Nam Á này thặng dự gần 100 tỷ đô la. Nền công nghiệp của Ấn Độ phụ thuộc vào Trung Quốc từ nguyên vật liệu đến linh kiện, phụ tùng xe hơi, các bộ phận lắp ráp điện tử, máy móc, các hoạt chất dược phẩm để vẫn được mệnh danh là « tủ thuốc của thế giới ».
New Delhi cũng muốn cạnh tranh với Trung Quốc để trở thành « công xưởng của thế giới trong lĩnh vực điện thoại thông minh » và đồ dùng điện tử nhưng các chuỗi sản xuất của Ấn Độ lại phải nhập khẩu kinh kiện và phụ tùng made in China.
Liên minh tình thế ?
Vào lúc Ấn Độ là nguồn nhập khẩu dầu thô lớn thứ 3 toàn cầu, nhập khí tự nhiên lớn thứ tư trên thế giới, vừa cần dầu hỏa của Nga và của Trung Đông, đặc biệt là của Iran, thì chính quyền Trump gia tăng sức ép đòi New Delhi mua dầu của Mỹ, Washington đòi đánh thuế 100 % vào hàng của Ấn Độ bán sang Mỹ nếu như New Delhi kháng cự. Cho nên thủ tướng Narendra Modi bắt buộc phải cải thiện bang giao với Trung Quốc. Về phía Bắc Kinh, ông Tập Cận Bình cũng không thể để xuất khẩu Trung Quốc gặp bất kỳ một trở ngại nào với đối tác có trọng lượng như Ấn Độ với trên dưới 1,4 tỷ dân.
Dù vậy nhà địa chính trị học Alain Lamballe, chuyên nghiên cứu về Nam Á, trong bài tham luận hồi tháng 7/2026 đăng trên tạp chí Areion24 nêu bật nhiều những hiềm khích, những mối cạnh tranh khó để san bằng giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Bên cạnh tranh chấp từ hàng chục năm qua ở biên giới trên dãy Himalaya, vấn đề cốt lõi vẫn là « quyết tâm của Bắc Kinh để thống lĩnh vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương ». New Delhi vẫn luôn lo ngại bị Trung Quốc bao vây. Ông Tập Cận Bình đã liên tục mở rộng quan hệ với các nước Nam Á, qua hành làng kinh tế Trung Quốc -Pakistan, qua những chương trình hợp tác hay viện trợ của Bắc Kinh cho Bangladesh, Nepal và thậm chí Bhutan.
Cân nhắc giữa lợi ích kinh tế và an ninh
Trên biển, New Delhi tìm cách kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc tại Ấn Độ – Thái Bình Dương thông qua những hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn với các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN, quan hệ với Việt Nam và Philippines...) qua các chương trình tập trận quân sự, hoạt động thăm dò dầu khí và các diễn đàn như Đối Thoại an ninh Shangri-La ...
Ở góc đài bên kia, Bắc Kinh càng lúc càng dùng những chiêu bài kinh tế để lôi kéo Pakistan về phía mình để mở ra những cửa ngõ vào Ấn Độ Dương và sang đến tận Trung Đông.
Trong bối cảnh đó, cho rằng chiến tranh Iran -và chính sách bảo hộ của Hoa Kỳ trước đó, giúp Ấn Độ và Trung Quốc sưởi ấm quan hệ chỉ đúng một phần. New Delhi và Bắc Kinh như giới phân tích ghi nhận, xích lại gần nhau chỉ là một giải pháp « tình thế ». Hơn nữa trong quan hệ giữa hai cường quốc châu Á này, Trung Quốc rõ ràng đang nắm nhiều lá chủ bài.
Tue, 01 Sep 2026 - 284 - Với 40.000 tỷ đô la nợ, Mỹ vẫn là nam châm hút đầu tư và tín dụng
Cường quốc kinh tế số 1 cũng là quốc gia mang nợ nhiều nhất toàn cầu. Hoa Kỳ vừa vượt ngưỡng 40.000 tỷ đô la nợ công. Các chuyên gia lo ngại khi thấy phí tổn ngân hàng để trả nợ của chính quyền liên bang cao hơn cả so với ngân sách quốc phòng của siêu cường quân sự hàng đầu thế giới này. Điều đó không cấm cản, Mỹ vẫn là khối « nam châm » hút đầu tư, tín dụng của thế giới.
Hôm 18/08/2026 bộ Tài Chính Mỹ thông báo nợ của chính phủ lần đầu tiên vượt ngưỡng tâm lý 40.000 tỷ đô la. Cùng lúc, lãi suất từ công trái phiếu thời hạn 30 năm đạt mức cao nhất từ năm 2007 đến nay (hơn 5,7 %). Điều đó có nghĩa là chính phủ Hoa Kỳ phải trả giá đắt hơn khi cần huy động vốn.
Gánh nợ của chính quyền Liên bang thêm nặng và làm dấy lên lo ngại Mỹ thiếu hụt thanh khoản. Bộ trưởng Tài Chính Hoa Kỳ đã gấp rút can thiệp. Scott Bessent thông báo chuẩn bị mua vào từ 2 đến 4 tỷ đô la công trái phiếu do chính Hoa Kỳ phát hành.
Thêm 3.000 tỷ đô la nợ trong 12 tháng
Có nhiều vấn đề khiến giới tài chính, ngân hàng và tiền tệ quốc tế lo ngại.
Đầu tiên hết là mức nợ của Hoa Kỳ tăng quá nhanh so với các dự báo. Năm 2017, chính quyền liên bang nợ 20.000 tỷ đô la, tức là bằng một nửa so với hiện tại. Chưa hết năm 2026 mà nợ công đã vượt ngưỡng 40.000 tỷ đô la trong lúc các dự phóng của Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội Hoa Kỳ -Congressional Budget Office - CBO thì nợ công cho đến cuối năm nay vẫn chưa chạm ngưỡng tâm lý 40.000 tỷ đô la, tương đương với 125 % GDP. So với một năm trước đây, vào tháng 8/2025, nợ công của Mỹ tăng thêm 3.000 tỷ đô la như báo Financial Times ghi nhận.
Về khoản nợ thêm 3.000 tỷ đô la trong một năm, báo The Wall Street Journal giải thích, nợ của Mỹ bị thổi phồng lên nhanh như vậy vì chiến tranh Iran, lạm phát và bội chi ngân sách.
Nhìn xa hơn về quá khứ, bội chi ngân sách và nợ của Mỹ không ngừng gia tăng, do Hoa Kỳ trải qua nhiều cuộc khủng hoảng : Vụ « vỡ quả bóng tin học đầu những năm 2000, đến khủng hoảng tín dụng địa ốc 2007 rồi ngân hàng Lehman Brothers phá sản năm 2008 (…) rồi đến lượt đại dịch Covid 19 năm 2020 làm tê liệt tăng trưởng. Thuế thu vào giảm sụt trong lúc các chi phí về y tế, xã hội lại tăng nhanh. Thâm hụt ngân sách lớn dần ».
Những cuộc khủng hoảng chồng chất
Một lý do khác nữa là dân số Mỹ cũng như tại các nước công nghiệp phát triển đang lão hóa : « Bảo hiểm y tế, lương hưu bị đẩy lên cao … ». Trở lại với tình trạng tài chính của Hoa Kỳ từ đầu 2025 cho dù tổng thống Trump tái đắc cử với hứa hẹn giảm bội chi ngân sách và trong những tháng đầu nhiệm kỳ hai ông đã đã mạnh tay cắt giảm nhân sự trong guồng máy hành chính nhà nước, trong các cơ quan của chính phủ liên bang nhưng thâm hụt ngân sách tháng 7/2026 lên tới 432 tỷ đô la thay vì 291 tỷ cùng thời kỳ năm ngoái (tăng 11,85 %).
Cùng thời kỳ, chi tiêu của chính quyền liên bang tăng thêm hơn 130 tỷ. Vì chiến tranh Iran, tổng thống Trump đã yêu cầu Quốc Hội bổ sung thêm 500 tỷ đô la cho ngân sách quốc phòng. Nhà Trắng cũng đòi cho tài khóa 2027 ngân sách của Lầu Năm Góc phải được đẩy lên tới 1.500 tỷ đô la thay vì hơn 800 tỷ như hiện tại.
Trả 3 tỷ tiền lãi cho chủ nợ mỗi ngày
Cũng chính trong hoàn cảnh chiến tranh hiện nay, kinh tế gia kiêm giám đốc cơ quan tư vấn Pete G. Peterson, ông Michael Peterson trên đài truyền hình Arte nói đến một hiện tượng bất thường khi mà Mỹ trả tiền lãi cho các chủ nợ nhiều hơn cả tổng ngân sách quốc phòng và đáng quan ngại hơn nữa là chỉ trong 10 năm nữa, chi phí lãi vay của khoản nợ công Mỹ có thể tăng gấp đôi :
« Tiền lãi phải trả cho ngân hàng là khoản chi tiêu liên tục tăng lên và tăng mạnh nhất trong khoảng thời gian gần đây. Hiện tại mỗi ngày Hoa Kỳ phải trả hơn 3 tỷ đô la tiền lãi cho các chủ nợ. Có nghĩa là Mỹ trả tiền lãi còn nhiều hơn cả số tiền để trang trải những phí tổn quốc phòng. Trong 10 năm sắp tới, Hoa Kỳ sẽ phải trả đến 16.000 tỷ đô la tiền lãi ngân hàng. Khoản nợ 40.000 tỷ đô la của chính phủ liên bang hiện tại nhắc nhở chúng ta chấn chỉnh lại các khoản chi tiêu công (…) Khi mà lãi suất chỉ đạo tăng, sẽ kéo theo những lãi suất khác, như là tiền lãi khi ta phải đi vay để mua nhà, để mua xe. Chi phí cho dịch vụ dùng thẻ tín dụng cũng sẽ bị đẩy lên cao. Do vậy để vẫn tiếp cận được với các nguồn tín dụng thì cần phải đòi Washington nhanh chóng giải quyết vấn đề nợ công này ».
Cần thêm 39 tỷ đô la mỗi tuần
Nói cách khác, Washington liên tục trong thế phải « đi vay nợ mới để thanh toán nợ cũ - thậm chí là chỉ để trả tiền lãi cho các chủ nợ ». Nhưng Hoa Kỳ vẫn dễ dàng thu hút đầu tư và tín dụng trên thế giới.
Ngân hàng JP Morgan trong một nghiên cứu dựa trên các dữ liệu hồi 2024 đưa ra ba yếu tố giải thích vì sao cả thế giới vẫn muốn đầu tư vào Mỹ.
Một là năng suất của người lao động Mỹ 171.000 đô la/năm, (tính theo sức mua tương đương) trong lúc của Đức là 120.000 đô la. Giải thích cho năng suất lao động cao đó, ngân hàng Mỹ Goldman Sachs đưa ra vài con số cụ thể : Xét về số năm một người lao động được đào tạo để có chuyên môn cao, Mỹ chỉ thua có Hàn Quốc. Hoa Kỳ cũng là nơi có những trường đại học hàng đầu thế giới và số giờ lao động tại Hoa Kỳ cũng cao hơn khoảng 20 % so với ở Pháp.
Bí quyết thứ hai giải thích vì sao dù Mỹ có mang nợ chồng chất vẫn là điểm đầu tư được ưa chuộng nhất đó là « sức sáng tạo » của các doanh nghiệp Hoa Kỳ.
Vẫn theo điều tra của ngân hàng Goldman Sachs, chi tiêu cho khâu nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Hoa Kỳ là 800 tỷ đô la một năm, cao gấp đôi so với Trung Quốc. Hoa Kỳ đang dẫn đầu thế giới với 48 công ty có lợi nhuận hơn 1 tỷ đô la/ năm. Để so sánh, toàn khu vực eurozone với 19 quốc gia cũng mới chỉ có được 7 tập đoàn lãi hàng năm hơn 1 tỷ đô la.
Cũng không một nơi nào có sức tiêu thụ « khủng khiếp như ở Mỹ » và xét về chỉ số này thì Trung Quốc dù là nền kinh tế thứ hai thế giới nhưng vẫn còn cách xa nước Mỹ đến « nhiều năm với tốc độ ánh sáng » như một nhà báo đã ví von.
Đặc quyền quá lớn của đô la
Lý do thứ ba và có lẽ cũng là lợi thế mạnh nhất của Hoa Kỳ là sức hút của đồng đô la. Năm 1964 bộ trưởng Kinh Tế Pháp, Valéry Giscard d’Estaing từng nói, « chừng nào mà đồng đô la còn thống lĩnh hệ thống tiền tệ quốc tế, thì Washington muốn đi vay bao nhiêu tín dụng cũng được ».
Kinh tế trưởng công ty kiểm toán BDO France Anne - Sophie Alsif được tuần báo Le Point trích dẫn cho rằng, ai cũng muốn đầu tư bằng đô la. Giới tư bản trên toàn thế giới đều muốn đầu tư vào Mỹ. Công trái phiếu của Hoa Kỳ vẫn là « sản phẩm tài chính có sức thu hút cao nhất, an toàn nhất ».
Vì thế dù có nợ đến đâu đi chăng nữa, thì bộ Tài Chính Mỹ vẫn dễ dàng huy động vốn và với những điều kiện thuận lợi hơn bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới.
Theo các số liệu chính thức từ Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội Mỹ CBO, trung bình mỗi tháng Hoa Kỳ phải đi vay thêm 155 tỷ đô la và trong 8 tháng đầu năm 2026 bộ Tài Chính đã thanh toán 857 tỷ đô la tiền lãi cho các chủ nợ !
Hãng tin Anh Reuters lưu ý, không một quốc gia nào trên thế giới hàng tuần có thể đi vay thêm 39 tỷ đô la như Hoa Kỳ. Nhưng cũng chính « lợi thế quá mức đó đẩy nguy cơ Mỹ bị thiếu tiền mặt ra xa », bởi vì như chuyên gia tài chính Philippe Trainar nhận định, nếu như « đầu tàu kinh tế và tài chính này của thế giới mà sụp đổ thì coi như là ngày tận thế đã đến ».
Phát biểu lần cuối trước khi rời khỏi chức vụ thống đốc ngân hàng trung ương, Jerome Powell cảnh báo chính quyền về mức nợ của Mỹ đang tăng nhanh và nhất là trước viễn cảnh các giới chức Hoa Kỳ « không có khả năng đảo ngược tình thế » bởi vì, với nợ công 40.000 tỷ đô la có nghĩa trung bình mỗi công dân Mỹ mang nợ 115.000 đô !
Trái với những báo động từ phía các chuyên gia ngân hàng về mức nợ quá lớn của Mỹ, trong mắt đại đa số các nhà đầu tư quốc tế, Hoa Kỳ vẫn là một điểm đến dễ kiếm lời hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.
Hoa Kỳ không chỉ là một thị trường với 340 triệu dân với mức tiêu thụ cao, cho nên đầu tư vào Mỹ là cách tốt nhất để tiếp cận thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng được xem là trung tâm công nghệ của thế giới : trong tất cả những lĩnh vực AI, chip, phần mềm, dược phẩm, hàng không vũ trụ, quốc phòng, công nghệ sinh học. Cho nên đầu ưừ vào Mỹ là đầu tư vào khả năng sinh lợi nhuận cao của các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Sau cùng, mua vào công trái phiếu của Mỹ được xem là một khoản đầu tư an toàn nhất, bởi đó là những sản phẩm tài chính luôn rất được ưa chuộng ...
Tue, 25 Aug 2026 - 283 - Công nghiệp quốc phòng Iran : Chiến lược phát triển dưới trừng phạt quốc tế
Chịu nhiều lớp trừng phạt của quốc tế nhất trên thế giới từ năm 1979, Iran đã tìm một hướng đi riêng để cứu vãn nền kinh tế. Bên cạnh ngành dầu khí, sản xuất vũ khí là cột trụ thứ nhì của kinh tế quốc gia Hồi Giáo này. Đâu là những bí quyết để « công nghiệp quốc phòng » trở thành điểm mạnh của nền kinh tế luôn bên bờ vực thẳm ? Giới chuyên gia thậm chí nói đến « những nét đặc thù » trong mô hình công nghiệp quốc phòng Iran.
Từ khi khai chiến với Teheran cuối tháng 2/2026, Washington chủ trương bóp ngạt kinh tế Iran dẫn đến sự sụp đổ của chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng. Sau gần nửa năm xung đột với Iran, tổng thống Trump bắt đầu nóng ruột.
Hôm 09/08/2026 ông cam đoan sẽ « giáng đòn mạnh vào kinh tế Iran ». Bộ trưởng Tài Chính Scott Bessent đe dọa Iran sẽ sớm « hứng chịu những biện pháp mạnh tay chưa từng thấy ». Báo chí bình luận Nhà Trắng không chỉ đe dọa « dội bom, xóa sổ Iran », nay đang nhắm tới những loại vũ khí « kinh tế » để Teheran phải nhượng bộ, đặc biệt là giải tỏa eo biển Hormuz.
Chính sách cấm vận và hiệu quả ?
Cuối tháng 7/2026 Mỹ đánh tiếng sẽ áp dụng một loạt các biện pháp trừng phạt mới, phong tỏa kinh tế Iran. Trả lời báo Les Echos chuyên gia về Iran Clément Therme, cộng tác viên Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI nói đến một « kỷ lục » Iran đang nắm giữ về những « lớp » trừng phạt chồng chất khác nhau.
« Có nhiều cấp trừng phát khác nhau : có những biện pháp của cộng đồng quốc tế, của một số quốc gia trong khối phương Tây, của Liên Hiệp Quốc ... Bên cạnh đó là những quyết định đơn phương, nhắm vào một số các tổ chức tư nhân hay của chính phủ, nhắm vào một số nhân vật trong chính quyền, trong giới tướng lĩnh Iran. Về mặt lý thuyết, Iran liên tục bị trừng phạt từ năm 1979 sau vụ Teheran bắt giữ 52 nhà ngoại giao Hoa Kỳ làm con tin ».
Lệnh trừng phạt đa phương hay song phương của cộng đồng quốc tế nhắm vào Iran bao gồm các biện pháp phong tỏa, cấm mua bán dầu hỏa, khí đốt của Iran, cấm cung cấp vũ khí cho quốc gia Hồi Giáo này, cấm xuất khẩu thiết bị và phần mềm cho Teheran, hạn chế các khoản giao dịch tài chính, ngân hàng, cấm thanh toán bằng đô la, cấm đầu tư vào Iran, phong tỏa tài sản của một số cá nhân và doanh nghiệp… Đương nhiên tất cả những biện pháp này đè nặng lên đời sống của người dân Iran.
300 % lạm phát ?
Tình hình càng trở nên ngặt nghèo hơn dưới tác động của chiến tranh Ukraina từ 2022, của cuộc xung đột vũ trang 12 ngày đêm với Nhà nước Do Thái hồi tháng 6/2025 và nhất là với cuộc chiến với Mỹ và Israel từ cuối tháng 2/2026. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế thẩm định, GDP của Iran năm nay do tác động chiến tranh sẽ giảm 5,4 %. Teheran cũng thừa nhận vì chiến tranh, lạm phát trong cả năm sẽ ở mức ngạt thở gần 90 %. Tại Washington, Donald Trump nói đến một nền kinh tế của Iran đã « hoàn toàn khánh tận » với lạm phát lên tới 300 %.
Trong mắt chuyên gia kinh tế Ahamad Alavi làm việc cho một tổ chức tại Thụy Điển được báo Deutsche Welle trích dẫn thì cuộc chiến lần này đang đẩy thêm từ 3,5 đến 4,5 triệu dân Iran vào cảnh bần cùng. Nhưng đó không phải là mối quan tâm số 1 của chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo, như Thierry Coville, Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS phân tích với báo Les Echos. Người dân có khổ cực, thì cỗ máy kinh tế để kiếm tiền nuôi chế độ vẫn vận hành gần như suôn sẻ :
« Nhìn vào những kết quả từ 15 năm trở lại đây, chúng ta thấy kinh tế Iran đã khổ sở vì các biện pháp trừng phạt. Trung bình lạm phát dao động từ 30 đến 40 % một năm, thế nhưng thực ra chế độ vẫn tồn tại bất chấp áp lực rất lớn của phương Tây. Iran cầm cự được chủ yếu là nhờ hai lĩnh vực : Năng lượng và quốc phòng. Năm 2024 Iran vẫn xuất khẩu 1,5 triệu thùng dầu mỗi ngày, gần như tuyệt đối là để bán cho Trung Quốc. Để xuất khẩu dầu khí, năng lượng thì Iran sử dụng những hạm đội tàu ma, mua bán qua một hệ thống ‘chợ đen’, chấp nhận thanh toán bằng nhân dân tệ của Trung Quốc hay bằng tiền crypto (…) ».
Kỹ thuật lạc hậu
Mối bận tâm lớn nhất đối với chế độ Iran là chính sách trừng phạt liên tiếp hạn chế quốc gia này phát triển và tiếp cận với công nghệ mới. Clément Therme, Viện IFRI giải thích :
« Thí dụ như vì không tiếp cận được với công nghệ khai thác năng lượng ở ngoài khơi mà ngành công nghiệp khí đốt của Iran bị tụt hậu, bỏ lỡ cơ hội. Thí dụ này rất tiêu biểu cho cái mà tôi gọi là vì cơ hội bị bỏ lỡ. Iran trả giá đắt cho chính sách dựa trên hệ tư tưởng của chế độ (…) »
Nhưng điểm mạnh của Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Iran là khả năng thích nghi với tình huống. Chuyên gia Coville bên Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược, phân tích, chính những biện pháp trừng phạt kéo dài từ nhiều thập niên qua đã cho phép Teheran đào sâu quan hệ với các đối tác khác, đặc biệt là với Nga và Trung Quốc :
« Đầu những năm 2000 Iran đẩy mạnh trao đổi mậu dịch với các quốc gia trong khu vực. Irak nhanh chóng trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của Teheran. Từ khi chế độ Saddam Hussein sụp đổ, ngoài các sản phẩm chế biến từ dầu ra thì Irak là khách hàng quan trọng nhất. Bên cạnh đó, Iran đã mở rộng ảnh hưởng với Afghanistan, với các quốc gia Trung Á. Thế rồi từ sau 2018 khi ông Trump rút nước Mỹ khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran thì Teheran đã thắt chặt quan hệ với Trung Quốc ».
Drone Shahed, thành công của một sự kết hợp từ 3 yếu tố
Cũng chính vì không tiếp cận được những công nghệ mới, với các thiết bị điện tử càng lúc càng tinh vi cho nên Iran tương kế tựu kế : Chuyển sang chế tạo drone giá rẻ và lại dễ sử dụng, không quá tốn kém trong khâu sản xuất và nhất là không cần công nghệ tối tân.
Tháng 9/2022, vài tháng sau khi Nga xâm lược Ukraina, thế giới ngỡ ngàng phát hiện drone Iran trên bầu trời Kiev. Teheran cung cấp drone cho quân đội Nga. Làm thế nào một quốc gia chịu các lệnh trừng phạt trong hơn bốn thập kỷ lại có thể làm thay đổi cục diện của các cuộc xung đột quốc tế? Những yếu tố nào đã tạo nên thành công đó?
Chuyên gia quân sự Akram Kharief nghiên cứu về drone Iran giải thích : Từ 1979 dưới áp lực các lệnh trừng phạt, Teheran đã tìm kiếm những giải pháp để thoát khỏi bế tắc. Bí quyết của Iran để phát triển công nghiệp - đặc biệt là công nghiêp quốc phòng khá đơn giản : Thứ nhất là kết hợp năng lực kỹ thuật trong nước với các đối tác nước ngoài, đứng đầu là Nga.
Thứ hai là khai thác công nghệ trong lĩnh vực dân sự để sử dụng trong các mục tiêu quân sự, « trám vào những lỗ hổng », hậu quả từ lệnh cấm vận quốc tể để lại.
Cuối cùng chọn những giải pháp kỹ thuật đơn giản không đòi hỏi những phụ tùng hay linh kiện quá hiện đại - vốn không thể tiếp cận. Drone Shahed của Iran là thí dụ tiêu biểu nhất cho thấy sự kết hợp thành công từ những yếu tố vừa nêu.
Chuyên gia Julia Tomasso, viện nghiên cứu và chiến lược IRIS, trong một bài tham luận hôm 28/02/2025 (tức đúng 1 năm trước khi Iran bị Hoa Kỳ tấn công), phân tích một cách cụ thể hơn khi cho rằng : Iran biết là không thể chỉ trông cậy vào vũ khí do Nga cung cấp cho nên từ nhiều năm qua đã phải tự lo bằng cách chọn những công nghệ low cost, sử dụng một cách hiệu quả nhất những nguồn lực và phương tiện ít ỏi trong tay, đồng thời thích nghi với môi trường địa chính trị. Chính vì thế mà drone giá rẻ (Shahed 136, Mohajer 6) của Iran hiện đang được xuất khẩu sang nhiều quốc gia, trong đó có Nga và Soudan hay Ethiopia. Giá thành của mỗi đơn vị chỉ vài ngàn đô la.
Về điều mà tác giả bài viết gọi là « tận dụng tối đa những phương tiện đang có » thì điển hình là việc trang bị vũ khí cho tàu chở hàng thành tàu chiến ; dùng mô-tơ xe đạp và xe máy để trang bị cho drone chiến đấu.
Còn chiến thuật mà nhà nghiên cứu Julia Tomasso gọi là « sự nhạy bén trong việc nắm bắt tình hình địa chính trị », bà giải thích : Trước năm 2024 Iran từng tận dụng thời cơ các đối thủ của mình, (Mỹ và Israel) bị chia trí vì những vấn đề khác để củng cố hệ thống phòng không Zoubin. Đây là phương tiện cho phép « phát hiện drone bay ở độ thấp » … Sự nhậy bén này chính là sức mạnh của « khả năng răn đe » mà Iran dùng để đối phó.
Nhà nước kiểm soát 80 % các hoạt động kinh tế
Có điều như Clément Therme ghi nhận, công nghiệp dầu khí và công nghiệp quốc phòng là mạch sống của kinh tế Iran trong suốt gần nửa thế kỷ qua nhưng chúng không đem lại thịnh vượng cho người dân Iran : 80 % các hoạt động kinh tế của Iran đều trực tiếp hoặc gián tiếp do Nhà nước kiểm soát. Ngay cả các doanh nhiệp bán tư nhân trên thực tế bên quản lý vẫn là những thành viên của « hệ thống » :
« Nhà nước Iran như một kẻ săn mồi, bất kỳ lúc nào cũng có thể tịch thu các phương tiện sản xuất, thâu tóm và kiểm soát các doanh nghiệp nhỏ của tư nhân. Với các biện pháp của phương Tây, các tập đoàn quốc doanh hay do quân đội kiểm soát có phương tiện để lách cấm vận nhưng giới tiểu thương ở Iran thì không ».
Nghịch lý ở đây là các biện pháp trừng phạt chế độ ở Teheran mà phương Tây liên tục ban hành là động lực của Iran để phát triển công nghiệp, kể cả công nghiệp quốc phòng. Hơn nữa các nạn nhân đầu tiên từ chính sách cấm vận đó lại là những thành phần yêu chuộng tự do và dân chủ như nhà nghiên cứu Thierry Coville, viện IRIS, giải thích.
Nếu chỉ nhìn vào hai lĩnh vực phát triển mạnh ở Iran từ hơn 4 thập niên qua là năng lượng và quốc phòng, đương nhiên cả hai cùng thua kém rất nhiều so với một quốc gia được phát triển bình thường không bị cấm vận, nhưng trong cả hai lĩnh vực này, giới cầm quyền ở Teheran đều đã chứng minh khả năng « thích nghi và sáng tạo » rất lớn. Chắc chắn là Nga và nhất là Trung Quốc với những phương tiện tài chính, kỹ thuật và cả nhân sự lớn hơn gấp bội so với của Iran, đã trông thấy trước những kẽ hở của các chính sách trừng phạt dù có tinh vi.
Tue, 18 Aug 2026 - 282 - « Cứu » đồng yen : Mỹ trung thành với nguyên tắc America First
Đồng yen Nhật Bản đang mất giá so với đô la Mỹ, tỷ giá hối đoái giữa hai đơn vị tiền tệ này đã rơi xuống mức thấp nhất từ 40 năm nay. Ngày 31/07/2026 Washington và Tokyo « cùng can thiệp » để giữ giá cho đồng yen, vào lúc phải mất 160 yen mới đổi lấy được 1 đô la. « Cứu » đồng yen không chỉ là một cử chỉ « thân thiện » mà Mỹ dành cho một nước bạn.
Tổng thống Donald Trump trước hết muốn tránh để đồng yen « yếu » đe dọa cán cân thương mại của Hoa Kỳ, và trái lại một đồng đô la « mạnh » phá hỏng chính sách khởi động lại cỗ máy công nghiệp do chính ông đề xướng.
Nhật Bản và Hoa Kỳ cùng thông báo, đôi bên đã « đã can thiệp » trên thị trường hối đoái để giữ giá cho đồng yen. Điều đó có nghĩa là Tokyo và Washington đã tung tiền mua vào đơn vị tiền tệ của Nhật. Các nguồn tin báo chí đưa tin Ngân hàng Trung ương Nhật hôm 31/07/2026 đã huy động 36,58 tỷ đô la để mua lại yen. Bất ngờ hơn nữa là, theo tiết lộ của báo tài chính Financial Times, chi nhánh tại New York của Cục Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ Fed cùng ngày đã bán ra « một khối lượng lớn » bằng euro để mua vào đồng yen cho bộ Tài Chính.
Đây là lần đầu tiên từ năm 1998 Fed trực tiếp can thiệp vào tỷ giá hối đoái giữa đồng yen và đô la. Nhờ sự phối hợp này, đồng tiền của Nhật đã tăng giá trở lại (tăng 0,6 % hôm 03/08/2026) vào tuần trước, để rồi lại mất giá trong phiên giao dịch hôm nay 11/08/2026. Điều này phản ánh « áp lực » rất lớn đang đè nặng lên đồng tiền của Nhật, cường quốc kinh tế thứ ba toàn cầu.
Vì sao Mỹ phải can thiệp để giữ giá cho đồng tiền Nhật Bản ?
Mỹ tung hàng chục triệu để mua vào yen không đơn thuần là một cử chỉ « thân thiện để giúp đỡ bạn bè » như tổng thống Trump đã khoe với báo chí. Thực ra, nguyên thủ Hoa Kỳ đã rất thành thật khi nói thêm rằng về mặt tài chính, trong thương vụ này « nước Mỹ cũng có lợi ». Bộ trưởng Tài Chính Mỹ, Scott Besson, mau mắn trấn an thị trường rằng « nếu cần Washington có thể can thiệp thêm một và thậm chí là nhiều lần nữa nhằm điều chỉnh lại tình trạng đồng tiền của Nhật không được đánh giá đúng mức ».
Đằng sau những lời lẽ bóng bảy này bao gồm ba thực tế. Thứ nhất, một đồng yen « rẻ » tạo đà cho xuất khẩu của Nhật. Nhà Trắng không muốn kịch bản này xảy ra nhất là khi thâm hụt mậu dịch của Mỹ với Nhật Bản năm 2025 lên tới 900 tỷ đô la.
Kinh tế trưởng cơ quan tư vấn PwC Stéphanie Villers giải thích trên đài phát thanh tư nhân Radio Classique như sau :
« Donald Trump luôn rất rõ ràng : ông không muốn đô la cao giá. Vì lợi ích của bản thân Hoa Kỳ mà Washington đã can thiệp để giữ giá đồng yen Nhật Bản. Đồng tiền Nhật trượt giá tức là sẽ tỷ giá hối đoái của đô la trên thị trường bị đẩy lên cao. Một đồng đô la ‘mạnh’ bất lợi cho xuất khẩu của Hoa Kỳ. Ông Trump luôn chủ trương thúc đẩy xuất khẩu của Mỹ, tăng sức cạnh tranh cho hàng Mỹ trên thương trường. Nói cách khác, Washington can thiệp và giúp đỡ Nhật Bản, nhưng trước hết là để kích thích xuất khẩu của Mỹ ».
Lãi suất ngân hàng - carry trade
Điểm thứ nhì mà chính quyền Trump muốn tránh bằng mọi giá là một đồng yen mất giá ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách chính sách tài chính của Mỹ. Nhà Trắng muốn giữ lãi suất chỉ đạo ở mức thấp để tạo đà cho tăng trưởng. Nhưng mục tiêu này có thể bị đe dọa nếu đồng yen đổ dốc.
Một đồng yen bị suy yếu như hiện nay là bất lợi cho kinh tế Nhật Bản. Ngân Hàng Trung Ương Nhật sớm muộn gì cũng phải tăng lãi suất chỉ đạo. Hiện tại, lãi suất chỉ đạo của Nhật là 1%, của Mỹ là hơn 3,5 đến 3,75%. Cho đến nay, chính cách biệt này là động lực thúc hối các nhà đầu tư bán bớt yen để mua vào đô la, đầu tư sang Hoa Kỳ. Do vậy nếu Ngân Hàng Trung Ương Nhật tăng lãi suất chỉ đạo, Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ vì tránh để bị xoáy vào lạm phát, cũng sẽ phải tăng lãi suất hay ít là là không thể hạ lãi suất chỉ đạo.
Khả năng Fed tăng lãi suất ngân hàng cũng là một điều mà tổng thống Trump không hề mong muốn.
Nguy cơ Nhật bán công trái phiếu của Mỹ
Điểm thứ ba tối kỵ với Washington là khả năng vì để có thể giữ giá cho đồng yen, tức là phải huy động hàng chục tỷ đô la, Tokyo sẽ buộc phải bán bớt công trái phiếu của Mỹ. Hiện nay, Nhật Bản đang nắm giữ 1.100 tỷ đô la công trái phiếu của Mỹ và là « chủ nợ lớn nhất » của Uncle Sam.
Công trái phiếu của Mỹ nếu bị bán đi « ồ ạt » sẽ bất lợi cho tăng trưởng, kinh tế và tài chính của Hoa Kỳ. Gần đến bầu cử giữa kỳ, tổng thống Trump không muốn lạm phát hay bất kỳ một chỉ số kinh tế tiêu cực nào đè nặng lên lá phiếu của cử tri.
Nhìn từ ba khía cạnh vừa nêu, « cử chỉ thân thiện » mà ông Trump nói đến khi can thiệp để giữ giá đồng yen, chẳng phải do Hoa Kỳ hào phóng hay Nhà Trắng tử tế với nữ thủ tướng Nhật Sanae Takaichi. Washington trước hết bảo vệ quyền lợi kinh tế, tài chính, thương mại của Hoa Kỳ, đúng với chủ trương đặt quyền lợi của nước Mỹ lên trên hết - « America First ».
Dùng euro để mua yen
Hãng tin Anh Reutes trích dẫn nhiều nguồn tin thông thạo từ bộ Tài Chính Mỹ cho biết là để « cứu » đồng yen Nhật Bản, chi nhánh tại New York của Ngân Hàng Trung Ương chủ yếu bán ra đồng euro, đơn vị tiền tệ của châu Âu. Theo giới trong ngành, điều này có nghĩa là chính quyền Trump không bán đi đô la, tránh gây hiểu nhầm là đồng đô la Mỹ đang bị mất giá … bởi vì một đồng đô la « yếu » tuy thúc đẩy xuất khẩu của Hoa Kỳ như Donald Trump mong muốn nhưng đồng thời cũng là mầm mống của lạm phát, kịch bản mà Nhà Trắng « không cho phép xảy ra » khi gần đến bầu cử giữa kỳ, tháng 11/2026.
Reuters lưu ý, trước mắt cả Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu và bộ Tài Chính Hoa Kỳ cùng từ chối bình luận về tin trên. Song việc các giới chức tiền tệ Mỹ dùng đồng tiền chung châu Âu để mua vào yen Nhật Bản để lộ rõ thế cân chênh vênh trong chính sách kinh tế của Washington hiện tại.
Vì sao đồng yen mất giá và đâu là mức độ hiệu quả từ biện pháp can thiệp nhằm giữ giá cho đồng yen ?
Nhìn từ phía Nhật, các nhà sản xuất và xuất khẩu hài lòng với một đồng yen liên tục mất giá từ năm 2020 đến nay. Trong 5 năm, trị giá của đơn vị tiền tệ Nhật Bản so với đô la Mỹ mất đi khoảng 1/3. Bên cạnh đó xứ hoa anh đào phụ thuộc đến hơn 80 % vào năng lượng của nước ngoài. Với chiến tranh Iran và eo biển Hormuz bị phong tỏa, tình trạng bất ổn ở Trung Đông, chiến tranh Ukraina … giá dầu khí bị đẩy lên cao.
Một đồng yen mất giá bất lợi cho các nhà sản xuất của Nhật và cũng là một mầm mống gây ra lạm phát cho nền kinh tế số 3 toàn cầu này.
Điều này diễn ra vào lúc thủ tướng Sanae Takaichi có kế hoạch giảm thuế giá trị gia tăng TVA để tăng thêm mãi lực cho người dân, khuyến khích tiêu thụ. Hệ quả kèm theo là thâm hụt ngân sách và nợ công của Nhật trong tương lai sẽ bị đẩy lên cao.
Báo Nihon Keizai Shimbun cho rằng lo ngại lạm phát và nợ công sẽ là hai yếu tố khiến đồng yen sẽ tiếp tục mất giá. Do vậy, dù Washington và Tokyo có can thiệp để giữ giá đồng yen, hiệu quả cũng sẽ không « lâu bền ». Có lẽ dấu hiệu đầu tiên chứng minh cho điều này là trong phiên giao dịch hôm nay 11/08/2026, đồng yen lại mất giá so với cả đô la và euro, trở lại với tỷ giá khoảng 160 yen đổi lấy 1 đô la, tương tự như trong phiên giao dịch hôm 31/07/2026, trước khi Mỹ - Nhật phối hợp cùng can thiệp.
Tue, 11 Aug 2026 - 281 - Kinh tế - An ninh : Châu Âu trước thách thức Mỹ giảm quân số
Hoa Kỳ đã thông báo kế hoạch giảm quân số tại châu Âu, nơi mà từ sau Thế Chiến Thứ Hai, Washington đã thiết lập các căn cứ thường trực trải dài từ Groenland xuống đến tận Địa Trung Hải. Gần 40 % lính Mỹ đồn trú ở hải ngoại tập trung tại châu Âu, nhất là tại Đức, Ý và Tây Ban Nha. Sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã thiết lập các căn cứ quân sự tại nhiều nước đông Âu như Rumani, Ba Lan, Bulgari và cũng đã mở rộng địa bàn tại vùng Baltic.
Những kế hoạch thu hẹp sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu là một thách thức lớn đối với các đối tác của Hoa Kỳ tại châu lục này cả về kinh tế lẫn an ninh.
Từ đầu tháng 5/2026 bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, rồi tổng thống Hoa Kỳ liên tiếp thông báo kế hoạch « cắt giảm quân số tại châu Âu ». Hôm 18/06/2026 Lầu Năm Góc cho biết đang « xét lại » việc triển khai lực lượng tại các nước châu Âu thành viên NATO (Liên Minh Bắc Đại Tây Dương).
Từ Anh Quốc đến Thổ Nhĩ Kỳ, từ Iceland đến Rumani, nơi Hoa Kỳ đã đặt những cơ sở quân sự, nước nào cũng lo ngại. Đứng đầu trong số này là Đức, nơi có hơn 30 cơ sở quân sự của Mỹ đã hoạt động từ 70-80 năm nay và khoảng 50.000 lính Mỹ đang đồn trú đã thực sự trở thành một yếu tố trong đời sống xã hội và kinh tế của nền kinh tế số một châu Âu này.
Đức và lo ngại mất một phần trong số 50.000 quân nhân Mỹ
Ramstein, miền tây nam nước Đức, là căn cứ không quân lớn nhất của Hoa Kỳ ở hải ngoại. Căn cứ này là cả « một thành phố trong một thành phố » với trường học, bệnh viện ... dành riêng cho các quân nhân Mỹ và gia đình. Rất nhiều đường phố ở Ramstein mang tên các vị tổng thống Mỹ. Tại các cửa hàng, người ta cũng có thể thanh toán bằng đô la bên cạnh đồng euro.
Phóng sự trên đài phát thanh Pháp France Inter của thông tín viên Sébastien Baer từ căn cứ quân sự Mỹ tại thị trấn Vilseck cho thấy quyết định của Washington cắt giảm 5.000 lính Mỹ tại Đức là một tai họa:
« Một góc nhỏ của nước Mỹ, thị trấn Vilseck của vùng Bayern, đông nam nước Đức từ hơn 80 năm nay gắn bó với sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. Với khoảng 6.500 dân cư, Vilseck là nơi mà một lữ đoàn của Mỹ đóng quân, thế nhưng sự hiện diện này có thể sẽ chấm dứt, do Donald Trump thông báo sẽ rút 5.000 lính Mỹ trong thời gian tới. Nào là nước ngọt Coca-Cola, nào là bia Mỹ và sốt BBQ chồng chất ngay lối vào một siêu thị. Travis, một quân nhân Mỹ 27 tuổi từ bang Texas đến, đang chất hàng vào xe, anh nói :
‘Tôi được điều đến đây đã 9 tháng. Tối rất thích nơi này. Phong cảnh ở đây rất đẹp. Tôi thích các món ăn bản địa như xúc -xích, thịt thăn chiên bột. Người dân ở đây thì thân thiện, đi lại cũng dễ dàng. Ở Texas phải lái xe hàng giờ để đi từ nơi này đến nơi khác. Tại đây chỉ chỉ cần 5 phút là tôi đến được một công viên xinh đẹp. Tôi đang học tiếng Đức với ứng dụng Duolingo’.
Travis tìm được một ngôi nhà trên sườn đồi của thành phố, nhà có vườn. Mười ba ngàn quân nhân Mỹ đóng quân ở khu vực này. Từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, kinh tế địa phương phụ thuộc vào sự hiện diện của quân đội Mỹ. Là chủ một tiệm tạp hóa nhỏ của gia đình đã hoạt động từ những năm 1950, Katrin Kredle kể lại :
‘Một trong những người lính Mỹ đầu tiên đến mua hàng của bà ngoại tôi là danh ca Elvis Presley. Khi đang nhập ngũ, anh đến đây mua chuối. Bà tôi rất tự hào được phục vụ một khách hàng như anh. (…) Những người Mỹ đã hoàn toàn hòa nhập vào cuộc sống ở đây. Trẻ nhỏ đi học ở trường hay được gửi trong các nhà trẻ, chúng tham gia các câu lạc bóng đá, các hội đoàn hóa trang trong mùa lễ Carnaval… Rất nhiều người lấy vợ Đức, họ sống ở đây. Thậm chí ở lại hẳn một khi xuất ngũ ».
Do vậy đối với cả thành phố này, thông báo Mỹ rút 5.000 quân khỏi nước Đức là một bất ngờ. Chỉ riêng căn cứ quân sự tại Vilseck mỗi năm đem về 700 triệu euro doanh thu cho chính quyền quyền đia phương.
Valantis, 32 tuổi, vừa từ Anh Quốc đến đây mở một hiệu ăn, chủ yếu để phục vụ các thực khách Mỹ. Nhà hàng của ảnh chỉ cách căn cứ Rose Barracks vài trăm mét. Anh nói :
‘Chúng tôi đã thu xếp tất cả để phục vụ các quân nhân Mỹ, chiều theo khẩu vị của họ. Chúng tôi có món bánh mì kẹp thịt ba chỉ, sốt BBQ và thịt heo xé phay … Nếu người Mỹ bỏ đi thi mọi chuyện sẽ kết thúc. Nhà hàng phải đóng cửa. Tháng trước họ ra nước ngoài một tháng để tập luyện, lượng khách của chúng tôi lập tức giảm đi 70 %’ ».
Nói cách khác, chỉ cần Mỹ rút bớt quân khỏi Đức thì sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực kinh tế của người dân địa phương, không chỉ có doanh thu của giới tiểu thương, mà còn đến cả thị trường địa ốc của những thành phố như Stuttgart, hay Kaiserslautern …. cũng bị tác động lây. Việc làm của hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người tại những địa phương có căn cứ của Mỹ đều sẽ bị ảnh hưởng.
Một kế hoạch được báo trước
Thực ra từ cuối 2025 Nhà Trắng đã báo trước « rà soát lại toàn bộ và sẽ bố trí lại » sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Châu Âu cũng như trên toàn thế giới. Cũng cuối năm ngoái Washington nêu lên khả năng giảm 1.000 quân đang đồn trú tại Rumani. Ngoài thông báo rút 5.000 lính Mỹ tại các căn cứ quân sự ở Đức, giữa tháng 5/2026, Lầu Năm Góc vào giờ chót đã hoãn lại chương trình triển khai 4.000 quân sáng Ba Lan.
Theo giới quan sát được báo Le Monde trích dẫn, cho dù những thông báo từ phía chính quyền Trump gây hoang mang cho các đối tác châu Âu nhưng cho đến hiện tại Lầu Năm Góc vẫn duy trì khoảng 80.000 binh sĩ trên Lục Địa Già. ngay cả trong trường hợp giảm quân số, chỉ để thu hẹp hiện diện quân sự của Mỹ đang từ 80.000 xuống còn 76.000 lính thì « chính quyền Trump cần có sự chấp thuận của Quốc Hội ».
Trên đài truyền hình Arte của Pháp và Đức, chuyên gia quân sự giảng dạy tại đại học Sorbonne Guillaume Lasconjarias nhắc lại, trước Donald Trump, tổng thống Barack Obama từ 2014 đã chủ trương giảm sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu.
Riêng trong giai đoạn 2022-2023, khi Nga đưa quân xâm chiếm Ukraina, nhất thời dưới chính quyền Biden, quân số Mỹ tại châu Âu được tăng lên tới 100.000.
Tác động về an ninh
Nghịch lý ở đây là vào lúc căng thẳng về địa chính trị tại nhiều nơi trên thế giới không ngừng gia tăng, không chỉ vì chiến tranh Iran và xung đột Ukraina, thì Hoa Kỳ lại thông báo các kế hoạch thu hẹp sự hiện diện quân sự.
Về câu hỏi Mỹ giảm quân tại châu Âu sẽ dẫn tới những hệ quả nào về an ninh đối với lục địa này, chuyên gia về quân sự Jean- Baptiste Noé chủ nhiệm tạp chí chuyên đề Conflits lưu ý, ở châu Âu, Hoa Kỳ hiện có hơn 20 căn cứ quân sự thường trực, phần lớn tại các nước Tây Âu như Ý, Đức, Tây Ban Nha hay Anh Quốc … Bên cạnh đó, lính Mỹ được triển khai tại các căn cứ của các nước châu Âu mà chủ yếu là ở các quốc gia từng thuộc Liên Xô cũ.
Trên đài truyền hình Arte nhà nghiên cứu Aurélien Duchêne thuộc cơ quan tư vấn Eurocréative, đặc trách các khu vực Trung và Đông Âu, giải thích vì sao Hoa Kỳ là quốc gia đã thiết lập một mạng lưới các căn cứ ở hải ngoại « dày đặc » tại châu Âu:
« Các căn cứ quân sự của Mỹ ở hải ngoại đóng một vai trò kép : sự hiện diện của lĩnh Mỹ tại một quốc gia như Estonia không làm Matxcơva thay đổi chiến lược nếu Nga muốn xâm chiếm quốc gia vùng Baltic này, thế nhưng Điện Kremlin cũng phải cân nhắc rất kỹ khi biết rằng can thiệp vào Estonia nơi có các đơn vị của Mỹ đồn trú tức là sẽ đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ. Nói cách khác, các căn cứ của Mỹ trong trường hợp này là một công cụ răn đe.
Bên cạnh đó các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại châu Âu còn đóng vai trò hậu cần, là các trạm tiếp liệu … cho các chiến dịch ở ngoài lãnh thổ Mỹ, như trong trường hợp xung đột tại Trung Đông hiện nay (…) Căn cứ Ramstein tại Đức có thể ví như một ‘hàng không mẫu hạm’khổng lồ : đây là nơi có hai sân bay quân sự với khoảng 600 chiến đấu cơ đủ loại mà Hoa Kỳ đang sử dụng trong chiến tranh Iran. Sau cùng, việc thiết lập một căn cứ quân sự thường trưc tại một quốc gia còn cho phép Washington xây dựng một mối bang giao vững chắc với quốc gia đó ».
128 hay 800 căn cứ quân sự ở hải ngoại ?
Theo báo cáo chính thức của Hạ Viện Hoa Kỳ, Mỹ đặt 128 căn cứ quân sự tại 51 quốc gia trên thế giới. Nguyên giáo sư David Vine, trường American University tại Washington, cho rằng con số này thấp hơn thực tế rất nhiều. Theo thẩm định của ông, Mỹ có từ 750 đến 800 cơ sở ở hải ngoại « bên cạnh rất nhiều thực thể khác được xây dựng trong vòng bí mật ». Những cơ sở đó đôi khi chỉ là nơi đặt các hệ thống radar để theo dõi.
Như vừa nói, 50.000 lính Mỹ đang đồn trú tại Đức; Tây Ban Nha, với hai căn cứ, là nơi tiếp nhận hơn 3.000 quân có nhiệm vụ giám sát khu vực eo biển Gibralta và châu Phi ; Căn cứ của Hoa Kỳ tại Sctoland, Anh Quốc chủ yếu có nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo.
Sự hiện diện của Mỹ trong vùng biển Baltic trước hết là công cụ răn đe nhắm vào nước Nga. Còn các cơ sở trên lãnh thổ Ba Lan, hay Cộng Hòa Sec, Bulgari … là nhằm củng cố sườn đông cho NATO. Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Kosovo là những địa điểm để quan sát toàn khu vực Địa Trung Hải và Trung Âu.
Tue, 04 Aug 2026 - 280 - Các hãng xe hơi Trung Quốc ồ ạt chiếm lĩnh thị trường Anh
Thị trường xe hơi và nay là xe điện (electric car-EV) của Anh có truyền thống bị quốc tế hóa từ lâu, với các tập đoàn Nhật, Hàn, Pháp, Đức và Trung Quốc. Nhưng gần đây, sự xuất hiện của xe Trung Quốc và xe nhãn hiệu châu Âu nhưng do công ty Trung Quốc đầu tư sản xuất trở thành hiện tượng nổi bật.
Các dòng xe Trung Quốc vào Anh tăng nhanh tới mức nào và tại sao người Anh ưa chuộng xe Trung Quốc?
Theo các tạp chí chuyên ngành, từ năm 2024 đến hết 2025, xe hơi mới do Trung Quốc sản xuất đăng ký sử dụng ở Anh đã tăng gần gấp đôi, từ 100 nghìn xe lên gần 200 nghìn, chiếm khoảng 10% xe hơi đăng ký mới ở Anh (2 triệu xe). Điều đáng nói là số bán rất ngoạn mục thể hiện ba điều đặc biệt. Một là các nhãn hiệu xe Trung Quốc từ chỗ mấy năm trước không ai biết đến mà nay đã rất phổ biến. Các tạp chí xe, chương trình TV, mạng xã hội đều tham gia quảng cáo xe Trung Quốc rất mạnh.
Thứ hai là xe Trung Quốc rất đa dạng về chủng loại, về nhãn hiệu chứ không phải chỉ có vài loại từ một nước. Ví dụ như Pháp thường bán sang Anh xe Peugeot, Renault, Nhật thì có Nissan, Toyota, Mazda...Xe Trung Quốc ngay lập tức có ít nhất hơn 10 loại, từ các tập đoàn khác nhau.
Thứ ba là Trung Quốc dẫn đầu về số xe điện EV đăng ký ở Anh. Nếu tính xe Trung Quốc và cả các dòng xe châu Âu nhưng thực tế là sản xuất, lắp ráp, đặt pin ở Trung Quốc, thì tới 27,9% xe EV bán ở Anh là đến từ Trung Quốc.
Cụ thể hơn, các dòng xe Trung Quốc đang ồ ạ vào Anh là gì? Sức cạnh tranh là nhờ rẻ hơn xe các nước khác, hay có gì nổi trội nữa?
Tạp chí xe Motorpoint nêu ra 26 nhãn hiệu xe Trung Quốc hàng đầu đã và sắp vào Anh (26 Chinese car brands coming for the UK market), trong đó có tới 18 nhãn hiệu đã được bán ở Anh. Nổi bật nhất là 4 loại xe:
· Chery Tiggo 8: Được trang Carwowở Anh bình chọn là Xe của Năm. Chiếc SUV gia đình hybrid cắm sạc (PHEV) này gây ấn tượng với khoang cabin cảm giác cao cấp, tính thực dụng và mức giá cạnh tranh.
· MG4 EV: Được trang What Car? khen là xe điện nhỏ tốt nhất. Các chuyên gia đánh giá là lái ổn, giá rẻ và phạm vi dùng pin khá rộng.
· BYD Dolphin Surf: Được Auto Expressnhấn mạnh là một trong những xe điện đô thị hàng đầu, có cabin rộng rãi, trang thiết bị phong phú và giá khởi điểm chưa tới 19 nghìn bảng Anh.
· Jaecoo 7: Từng bị phê phán trên các tạp chí xe hơi Anh, chiếc SUV gia đình dẻo dai này đã trở thành cơn sốt doanh số lớn ở Vương quốc Anh nhờ kiểu dáng sắc nét và khoang cabin công nghệ cao..
Ngoài ra còn Xpeng 6, Changan, SkyWell là các nhãn mác khác đang dần vào Anh... Xe TQ cạnh tranh tốt nhờ giá thấp, từ 3-5 nghìn bảng mỗi chiếc xe mới cùng hạng.
Xin so sánh một chút: Những ai sử dụng một số đồ điện như nồi cơm điện của Xiaomi và đồng hồ điện tử của hãng này nên biết là Xiaomi cũng làm xe hơi động cơ điện và xe này sẽ tới Anh nay mai. Hàng điện tử, từ loa đài, điện thoại thông minh, đồ gia dụng Trung Quốc bán ở Anh đều rẻ hơn 10-15%, đôi khi 20% so với hàng châu Âu. Xe hơi và xe điện cũng vậy. Ví dụ, MG HS của TQ cạnh tranh đồng hạng với Kia Sportage, nhưng bán với giá rẻ hơn, từ 6 đến 8 nghìn bảng.
Người Anh nay đã biết nền tảng cơ khí và công nghiệp Trung Quốc quá mạnh, nên một công ty làm điện thoại, đồng hồ cũng có thể chuyển sang làm ô-tô chỉ trong một vài năm. Người ta nói ở Trung Quốc sản xuất xe hơi nay như làm bánh mì vậy.
Tại sao ngành ô-tô Trung Quốc chọn Anh?
Lý do đầu tiên là thương chiến Mỹ-Trung và Liên Hiệp Châu Âu (EU)-Trung Quốc. Anh là nước duy nhất không áp thuế cao lên xe EV của Trung Quốc nên khi bán vào Anh, các hãng Trung Quốc có biên độ lợi nhuận khác hẳn với việc bán vào Hoa Kỳ và EU. Ví dụ, xe điện Trung Quốc bán vào EU chịu thuế nhập khẩu từ 7,8% tới 35,3% tùy phần trăm vật liệu và công nghệ, còn ở Anh thuế chỉ có 10%.
Lý do thứ nhì là thị trường xe hơi Anh trên thực tế đã lọt vào tay các tập đoàn nước ngoài sau đợt tự do hóa từ mấy chục năm trước. Ở Anh, ngành xe hơi hiện có trị giá thị trường 100 tỷ bảng, tuyển dụng hơn 700 nghìn người, nên là một mũi nhọn của nền kinh tế, nhưng từ lâu nay đều là do các tập đoàn nước ngoài của Nhật, Đức và các nước khác đầu tư và sản xuất. Sự có mặt của các công ty Trung Quốc là chuyện bình thường. Chỉ có điều là họ vào quá nhanh và bán quá tốt.
Lý do thứ ba, các công ty Trung Quốc lâu nay đã mua lại các dòng xe châu Âu, như MG, Lotus của Anh hay Volvo của Thụy Điển. Tôi đi xe Volvo nên biết rằng Geely từ Chiết Giang làm chủ hãng này, xe sản xuất ở Bỉ, lắp vô-lăng tay lái nghịch theo hệ của Anh để bán sang Anh. Chi tiết đó cho thấy tiền đầu tư của Trung Quốc đã có ở châu Âu, gồm Anh, nhiều năm rồi. Tới đây, Geely sẽ bán sang Anh các dòng xe Geely, Zeekr, Farizon, bên cạnh Polestar, Lotus, Smart, Volvo, LEVC đã có mặt.
Ví dụ nữa, MG là tập đoàn truyền thống của Anh được công ty SAIC của Trung Quốc sở hữu và triển khai khá nhiều nhãn hiệu xe ở Anh. Điều đáng nói là một số tạp chí xe của Anh không coi MG là ‘xe Trung Quốc’ nữa mà xếp vào mục xe Made in the UK – Sản xuất tại Vương quốc Anh.
Chiến lược tới đây của các tập đoàn xe Trung Quốc với nước Anh ?
Thị trường Anh được cho là ‘phòng thí nghiệm’ cho công ty xe hơi và xe điện Trung Quốc. Ngoài lý do thuế quan thấp, các công ty xe hơi Trung Quốc có hai chiến lược thâm nhập thị trường Anh.
Một là các nhà chế tạo xe ở Trung Quốc đã làm chủ các thương hiệu mạnh thì họ sẽ nhấn mạnh vào tính truyền thống, như thể họ đã làm một phần của văn hóa xe hơi ở Anh và châu Âu. Ví dụ MG bán xe theo phong cách Anh. Leapmotor, công ty khác của Trung Quốc, thì hợp tác với Stellantis và trình bày hình ảnh họ thuộc đại gia đình xe châu Âu gồm Vauxhall (ở Đức là Opel), Peugeot, Citroën, Fiat… để bán xe ‘quen thuộc’ với người Anh. Từ đó, họ sẽ bán xe sang các nước nói tiếng Anh, dựa vào dòng thông tin tiếng Anh toàn cầu. Đó là một phần của chiến lược marketing và giành thị phần toàn cầu mà Anh Quốc là mắt xích quan trọng.
Hai là chiến lược của các dòng xe rất mới, tên khá lạ, từ Omoda tới BYD, Changan, Xiaomi, Chery, Skywell, GWM (Great Wall Motor-xe Trường Thành)...thì chọn hẳn tương lai của ngành xe điện, trình bày sản phẩm thuộc thế hệ mới, xe EV, plug-in hybrids, bán pin có thời gian chạy được lâu. Hiện nay, xe điện mới chiếm chưa tới 50% xe hơi mới bán ra ở Anh, nên tiềm năng của thị trường Anh còn rất lớn, nhờ chính sách thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh của chính phủ. Các công ty TQ đang chờ sẵn.
Có những ý kiến trái chiều nào về xe Trung Quốc ở Anh ?
Có những bài bình luận nói một số loại xe EV của Trung Quốc khi trời lạnh, pin bị hao nhanh hơn mức được quảng cáo. Có loại xe bị chê là vỏ quá mỏng, sơn chưa đạt nên chóng hoen rỉ. Còn theo nhà báo Stuart Masson viết trên trang The Car Expert, nhiều xe mới của Trung Quốc bị chê là có quá nhiều màn hình (screen-heavy), màu sắc nhấp nháy, và thiếu ‘cảm giác châu Âu’ (European feel) khi lái. Vô-lăng xe có khi như là bộ phận đồ chơi điện tử. Xe Trung Quốc cũng nổi tiếng với nhiều tính năng giải trí bên trong, có các app, phần mềm và màn hình nhiều hơn so với xe châu Âu. Nhưng kiểu thiết kế đầy ắp các chức năng điện tử thế chưa chắc đã được người châu Âu thích. Vì thế, Trung Quốc sẽ thử bán ở Anh, thu thập ý kiến khách hàng để cải thiện sản phẩm. Chúng ta biết dân châu Âu đã có cả trăm năm chơi xe hơi nên cách lái, cách ứng xử trong xe là cả một bề dày văn hóa. Đó là thứ người Trung Quốc chưa làm được.
Nhưng Masson viết, sau khi ông đi thăm các nhà máy xe ở Trung Quốc về, phía Trung Quốc hiểu điều này và học rất nhanh cách khắc phục những lỗi sản xuất. Với họ, việc đem vào Anh nhiều loại xe khác nhau, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người dân trong cuộc sống là cách ‘thí nghiệm’ để sau đó cải tiến và bán sang các nước nói tiếng Anh trên toàn cầu.
Tue, 28 Jul 2026 - 279 - Anh Quốc gia nhập trở lại Liên Âu: Tiền đề, áp lực và viễn cảnh xa vời
Tháng 5/2025, một số nhân vật trong Đảng Lao động cầm quyền ở Anh công khai thách thức thủ tướng Kier Starmer. Ra tranh chức lãnh đạo đảng, cả cựu Bộ trưởng Y tế Wes Streeting và thị trưởng Manchester Andy Burnham đều công khai ủng hộ xu thế quay lại Liên Âu (EU).
Mười năm sau Brexit, một xu thế mới đang trỗi dậy trong xã hội Anh, đó là tìm cách quay trở lại mái nhà chung châu Âu, hoặc ít nhất là xích lại gần thị trường Liên Âu để giảm bớt thiệt hại kinh tế. Nhưng điều này khả thi tới đâu và Anh Quốc đang đối mặt với thực tế như thế nào để tái thiết quan hệ với EU? Từ Luân Đôn, thông tín viên Nguyễn Giang giải đáp một số câu hỏi.
RFI : Câu hỏi đầu tiên, Nguyễn Giang có thể cho biết vì sao chủ đề 'quay trở lại Liên Hiệp Châu Âu' lại nổi lên ngay lúc này trong nội bộ Đảng Lao động Anh?
Nguyễn Giang : "Vâng, đúng ra thì câu chuyện này không xuất hiện đột ngột. Nó tích tụ dần từ áp lực kinh tế nhiều năm qua. Kể từ sau khi hiệp định Brexit có hiệu lực năm 2020, tăng trưởng GDP của Anh tụt hẳn và dai dẳng ở mức thấp. GDP của Anh chỉ tăng 1,1% năm 2024 và 1,3% năm 2025, thấp hơn mức dự báo chính thức là 1,5%. Trong khi đó, các ngành xuất khẩu, nông nghiệp, dược phẩm và công nghệ đều cảm nhận rõ sức nặng của rào cản thương mại mới với châu Âu, khối kinh tế lớn hàng đầu thế giới ngay bên cạnh Anh. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho luận điểm "Brexit là sai lầm" bắt rễ trở lại. Khi ông Kier Starmer bị mất uy tín vì vụ Peter Mandelson, các nhân vật muốn thay ông trong đảng Lao động đều đã nêu ra khẩu hiệu quay lại EU, vì họ đánh vào tâm lý cử tri thấy Brexit gây hại cho kinh tế nhiều. Họ đề xuất một “liệu pháp” là quay lại, hoặc kết nối lại với EU được chừng nào hay chừng đó".
RFI: Như vậy, có phải chỉ có các nhân vật quan trọng trong Đảng Lao động tranh cãi nhau về Brexit và muốn đảo ngược vụ ly hôn với Liên Hiệp Châu Âu vì lý do kinh tế?
Nguyễn Giang :"Thực ra không hẳn. Nếu xét riêng tỷ lệ ủng hộ gia nhập lại EU một cách toàn diện, cử tri của đảng Dân chủ Tự do (Lib Dem) và đảng Xanh còn có con số cao hơn so với cử tri Lao Động. Điều này phản ánh một thực tế phức tạp hơn: liên minh cử tri của Lao Động vừa gồm những người trẻ thành thị ủng hộ châu Âu, vừa gồm những cử tri ở khu vực có tên là 'Bức Tường Đỏ’ (Red Wall), tức là các địa hạt nghèo, đa số thiên tả trong cộng đồng đông người Anh bản địa (da trắng), ở phía Tây Bắc xứ Anh, từng bỏ phiếu Brexit vì thất vọng về kinh tế. Gần đây chính họ lại quay lại ủng hộ xu thế đảo ngược Brexit.
Các hạn chế đi lại, cấm định cư ở châu Âu cũng khiến hàng triệu người dân Anh thấy khổ sở. Bản thân chúng tôi mỗi khi lái xe sang Pháp là phải chờ kiểm tra giấy tờ lâu hơn. Đi nghỉ hè đôi khi trở nên cực nhọc. Đây là những điều khi Anh còn ở trong EU là chuyện không phải nghĩ tới.
Nhưng điều đáng chú ý là trong nội bộ đảng cầm quyền ở Anh hiện nay— tức những người thực sự nắm thẻ đảng — sự ủng hộ gia nhập lại EU lại rất mạnh. Một cuộc thăm dò do Survation thực hiện cho trang LabourList tiết lộ rằng tới 65% đảng viên Lao Động muốn đảng này nêu ra cam kết gia nhập lại EU trong cuộc bầu cử tiếp theo, trong khi chỉ 24% phản đối".
RFI: Xin anh nhắc lại một chút về quan điểm các chính trị gia hàng đầu trong đảng Lao động, gồm cả các ứng viên hàng đầu muốn thay thế thủ tướng Starmer về Brexit và Liên Âu.
Nguyễn Giang : "Đây là điểm nóng nhất của cuộc tranh luận hiện tại. Ba gương mặt nổi bật nhất đang có ba lập trường khác nhau tuy cùng hướng về Liên Âu.
Ông Sadiq Khan, thị trưởng Luân Đôn, là người lên tiếng sớm và thẳng thắn nhất. Ông kêu gọi Anh tái gia nhập cả Liên minh thuế quan lẫn Thị trường chung trước cuộc bầu cử 2029, và sau đó đưa cam kết gia nhập lại EU đầy đủ vào cương lĩnh tranh cử. Ông Khan tuyên bố việc gia nhập lại là "không thể tránh khỏi" và cho rằng Luân Đôn đã chịu thiệt hại "về kinh tế, xã hội và văn hoá" vì Brexit. Xin nhắc ông Khan không ra tranh chức thủ tướng Anh mà chỉ muốn tái tranh cử chức đô trưởng Luân Đôn, một vị trí đầy quyền lực.
Ông Wes Streeting, cựu bộ trưởng Y tế, tuyên bố rằng "rời EU là một sai lầm thảm khốc" khiến nước Anh "giảm sự giàu có hơn trước, kém ảnh hưởng hơn và kém tự chủ hơn so với bất kỳ thời điểm nào trước Cách mạng Công nghiệp." Ông khẳng định Anh "không thể tiếp tục im lặng" và cần "một mối quan hệ đặc biệt mới với EU, vì tương lai của Anh gắn liền với châu Âu và một ngày nào đó sẽ quay trở lại EU." Xin nhắc là Streeting chỉ mới 43 tuổi, nên có vẻ như quan điểm của ông phản ánh suy nghĩ của thế hệ chính trị gia trẻ, sẽ quyết định tương lai Anh Quốc.
Còn ông Andy Burnham, thị trưởng Manchester và ứng viên được kỳ vọng nhiều để lên làm thủ tướng Anh thay ông Keir Starmer, thì có lập trường thận trọng hơn. Dù ông thừa nhận Brexit "đã gây thiệt hại", nhưng ông tôn trọng quyết định "đã được đưa ra trong cuộc trưng cầu dân ý Brexit năm 2016"
RFI: Trong tình hình này, chính phủ của thủ tướng Keir Starmer hiện đang theo đuổi đường lối gì thưa anh?
Nguyễn Giang : "Chính phủ của ông Starmer một mặt thừa nhận “sự tổn hại cho kinh tế Anh do Brexit gây ra”, mặt khác vẫn giữ một ranh giới cứng. Tức là Anh sẽ không gia nhập lại Thị trường chung, không vào Liên minh thuế quan EU, không khôi phục tự do đi lại. Thay vào đó, họ theo đuổi chiến lược "reset" (tái thiết lập quan hệ), tức là đàm phán từng thoả thuận theo từng lĩnh vực cụ thể, đủ gần để xóa bớt rào cản thương mại, nhưng không đủ xa để bị quy là "tái Brexit."
Tại hội nghị thượng đỉnh Anh–EU tháng 5/2025, hai bên đã ký kết một Hiệp ước An ninh và Quốc phòng, đồng thời mở đàm phán về 5 lĩnh vực. Tài liệu của Nghị viện Anh tháng 5 cho biết cụ thể đây là các mảng hai bên đã và đang đàm phán:
Nông nghiệp và thực phẩm: Thoả thuận SPS, thống nhất tiêu chuẩn kiểm dịch động thực vật để nông sản và thực phẩm xuất khẩu sang EU, sẽ làm giảm đáng kể chi phí kiểm tra biên giới. Hàng EU nhập vào Anh cũng có thể rẻ đi cho người tiêu dùng.
Năng lượng: Liên kết thị trường điện năng EU–Anh có thể giúp ổn định giá điện và tăng hiệu quả giao dịch năng lượng xuyên biên giới, một lợi ích thiết thực cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng.
Quốc phòng: Thoả thuận về quỹ SAFE của EU mở cơ hội cho doanh nghiệp quốc phòng Anh tham gia các dự án mua sắm chung của châu Âu, qua đó tăng năng lực sản xuất và lấp đầy khoảng trống năng lực quân sự.
Khoa học và giáo dục: Việc tái gia nhập Erasmus+ và duy trì tham gia chương trình nghiên cứu Horizon củng cố vị thế của Anh trong hệ sinh thái nghiên cứu châu Âu.
Công nghệ và đổi mới: Năm 2026, Anh và EU đã bắt đầu đàm phán về khả năng Anh tham gia Quỹ Hội đồng Đổi mới Sáng tạo châu Âu — bao gồm cả Quỹ Scale-up Europe — hướng tới hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ tăng trưởng nhanh."
RFI: Các thỏa thuận từng lĩnh vực này đem lại lợi ích kinh tế cụ thể gì cho Anh?
Nguyễn Giang :"Các ước tính khả quan nhất cho rằng chương trình tương thích các lĩnh vực kinh tế Anh với EU đến năm 2030, nếu làm tốt, có thể đem lại cho kinh tế Anh mỗi năm thêm 26 tỷ tới 50 tỷ bảng, tương đương 1,7% đến 2,2% tăng trưởng GDP. Nếu được như thế thì cũng rất tốt vì kinh tế Anh nay chỉ tăng trưởng ở mức trên dưới 1%. Cộng vào thêm 2% nữa thì ta có một bức tranh kinh tế không hề tệ cho Anh quốc".
RFI: Nhưng vì sao hai bên không thể đẩy nhanh hơn đàm phán để Anh đạt tiến triển nhanh chóng trong quan hệ kinh tế kiểu mới với Liên Âu?
Nguyễn Giang :"Người Anh đã hiểu là Liên minh châu Âu trước hết là một khối thương mại lớn, có sức mạnh vì tầm vóc thị trường của họ, nên họ chơi cứng với Anh và chơi rất thực dụng.
Mỗi mỗi bước xích lại thị trường EU bằng một chính sách “tương thích” đều kèm theo một hoá đơn tiền tỷ mà Anh phải trả. Nói ngắn gọi thì Anh phải “mua lối vào EU” từng ngành một. Đây là điều mà phía Anh nhận ra ngày càng rõ hơn sau mỗi vòng đàm phán.
Tôi xin nêu ra một số ví dụ mà tôi có quan sát khá kỹ. Ví dụ, để tái gia nhập Erasmus+, chương trình giao lưu sinh viên với EU, Luân Đôn phải trả 570 triệu bảng ngay trong năm đầu tiên. Để duy trì tham gia Horizon, chương trình nghiên cứu khoa học lớn nhất của EU, thì tấm vé là 2,2 tỷ bảng mỗi năm. Việc tham gia thị trường điện năng hay thoả thuận SPS cũng có thể yêu cầu Anh đóng góp tài chính đáng kể vào ngân sách EU, ngoài chi phí hành chính.
Thậm chí tấm vé vào chương trình tín dụng quốc phòng SAFE của EU có giá khoảng 2 tỷ euro (tương đương 1,7 tỷ bảng), hay chỉ 3% ngân sách quốc phòng 62 tỷ bảng của Anh trong năm 2025/26. Đây là lý do bộ trưởng chuyên trách về EU, ông Nick Thomas-Symonds,từ chối ký để Anh tham gia sản xuất vũ khí cùng EU. Hiện Anh đang đàm phán để gia nhập thị trường năng lượng EU, nhưng nhiều khả năng là EU sẽ đòi trả phí.
Logic lo ngại của chính phủ Anh là cứ mỗi lần Luân Đôn muốn xích lại, EU lại đưa ra một yêu cầu mới. Ranh giới giữa "xích lại theo từng lĩnh vực" và "gia nhập lại Thị trường chung" sẽ ngày càng mờ nhạt nếu quá trình "tương thích hoá tự động" (dynamic alignment) được mở rộng không kiểm soát. Đó là lý do tại sao bộ trưởng Thomas-Symonds nhấn mạnh Anh phải tự đặt ra ưu tiên của mình, không thể để Bruxelles dẫn dắt".
RFI: Cuối cùng, nhìn một cách thực tế thì liệu Anh có thể gia nhập lại Liên Hiệp Châu Âu trong nhiệm kỳ Quốc Hội này không, hay trong 5-10 năm tới ? .
Nguyễn Giang : "Về mặt thực tế chính trị thì không. Ngay cả ông Wes Streeting cũng thừa nhận việc tổ chức thảo luận trong đảng để đảo ngược Brexit là "không giúp gì cho lợi ích của đảng Lao động hay của quốc gia." Ông Andy Burnham thì nói thẳng rằng khơi lại cuộc tranh luận Brexit lúc này sẽ làm suy yếu uy tín dân chủ của đảng Lao động. Ai cũng rõ là EU không dễ chấp nhận cho Anh quay trở lại. Thực tế là quan hệ hai bên đã sứt mẻ nhiều từ 2016 đến nay.
Điều khả thi hơn trong nhiệm kỳ hiện tại là hoàn tất các thoả thuận từng ngành như tôi nói ở trên để tạo ra lợi ích kinh tế thực chất mà không vượt các ranh giới đỏ chính trị.
Tuy thế, câu hỏi lớn hơn - gia nhập lại EU đầy đủ - có thể được đặt ra nghiêm túc trong cuộc bầu cử tổng tuyển cử tiếp theo, dự kiến vào năm 2029, nếu như phong trào ủng hộ trong đảng tiếp tục lớn mạnh và nếu bức tranh kinh tế không cải thiện.
Cựu thủ tướng Tony Blair mới cuối tháng 5 năm nay nói ông luôn phản đối Brexit, nhưng cho rằng vào thời điểm này Anh không nên đàm phán ở thế yếu với EU để quay lại làm thành viên. Tôi có xem cuộc phỏng vấn truyền hình của ông Tony Blair với nhà báo Nick Robinson, và thấy ông Blair hiến kế cho chính quyền Anh rằng cần cải tổ đất nước để kinh tế mạnh lên. Chỉ khi đó Anh mới có vị thế tốt để đàm phán tái gia nhập EU. Nhưng Khi nào thì không ai rõ."
RFI : Cảm ơn Nguyễn Giang.
Tue, 21 Jul 2026 - 278 - Anh Quốc và chiến lược lấy trí tuệ nhân tạo làm bàn đạp tăng trưởng
Một năm trước, trong diễn văn khai mạc Tuần lễ Công nghệ Luân Đôn (London Tech Week 09-13/06/2025), thủ tướng Anh Keir Starmer đã nêu ra chiến lược lấy việc phát triển trí tuệ nhân tạo AI làm bàn đạp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2025-2030. Sau một năm lên kế hoạch, với khoản đầu tư gần 100 tỷ bảng vào các trung tâm dữ liệu, vào y tế và giáo dục, ngành AI của Anh đã đạt được tiến bộ gì và giúp cho tăng trưởng kinh tế tới đâu?
Thông tín viên Nguyễn Giang từ Luân Đôn giải thích:
Anh Quốc đánh cược vào AI
RFI :Đầu tiên, xin Nguyễn Giang nói về việc triển khai chiến lược AI của Vương quốc Anh?
Nguyễn Giang : Quan sát những gì Anh quốc đã và đang làm hơn một năm qua, tôi thấy họ đặt trọng tâm của kế hoạch phát triển AI vào các Khu vực Tăng trưởng Ai, tức AI Growth Zones, gọi tắt là AHGZ, với ba mục tiêu: hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo đột phá công nghệ và cân bằng, kết nối các vùng miền của Vương quốc Anh.
Mô hình AI Growth Zones (Khu vực Tăng trưởng AI) tạo ra các cụm siêu trung tâm dữ liệu (hyperscale data centres) và điện toán hiệu năng cao. Chính phủ Anh đã phê duyệt hàng loạt khu vực trọng điểm ở hạt Oxfordshire (Culham - trung tâm đầu tiên), Đông Bắc Anh (Blyth & North Tyneside), xứ Wales (Wylfa) và gần đây nhất là Scotland (khu vực Lanarkshire - tháng 1/2026). Họ chia ra để mọi khu vực địa lý chính của Vương quốc Anh đều có cơ hội tiếp cận AI.
Khu quan trọng nhất là hành lang công nghệ Oxford-Cambridge (thực tế là cùng Luân Đôn lập ra một Tam giác High-Tech). Xin nhắc là từ Luân Đôn tới Cambridge và Oxford khoảng cách chỉ chừng hơn 100 km. Các đại học lớn, kể cả phòng thí nghiệm nguyên tử quan trọng nhất của Anh (Arbington), cũng nằm trong tam giác này. Điều này giảm được chi phí giao thông, hút được nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo điều kiện cho việc kết nối băng thông cho hệ thống điện toán. Nhưng Anh cũng lập các vùng AI Growth Zone ở cả Wales, miền bắc Anh và Scotland là có ý duy trì nhiều động cơ kinh tế cho các vùng đất kia.
RFI:Cho tới nay thì các khoản đầu tư được khu vực tư nhân đăng ký vào các khu vực tăng trưởng AI này là bao nhiêu?
Nguyễn Giang : Mục tiêu chung là phải đạt tới 100 tỷ bảng Anh đầu tư từ khối tư nhân vào hạ tầng AI thông qua cơ chế này. Ở vùng Đông Bắc (North East AIGZ), quỹ đầu tư Blackstone đã cam kết bỏ ra10 tỷ bảng Anh để xây dựng trung tâm dữ liệu tại Blyth, đồng thời mở đường cho 20 tỷ bảng bổ sung từ các đối tác khác. Chính phủ Anh cũng trực tiếp chi ngân sách tài trợ ban đầu hơn 2,5 tỷ bảng để kích hoạt hệ thống điện toán quốc gia.
Điều đáng chú ý là phần cam kết từ cả hai phía. Về phía mình, chính phủ Anh cam kết giá điện đặc biệt cho data centre tại các vùng có thặng dư năng lượng (ví dụ: giảm từ 14 đến 24 bảng/MWh tùy khu vực, tiết kiệm tới 80 triệu bảng/năm cho một trung tâm 500MW). Để đẩy nhanh tiến độ thiết kế các trung tâm dữ liệu, họ ưu tiên đưa chúng vào danh mục Hạ tầng Quốc gia Trọng yếu (Critical National Infrastructure - CNI), cho phép rút ngắn thời gian chờ đấu nối vào lưới điện quốc gia lên đến 5 năm và cắt giảm quy trình phê duyệt quy hoạch từ 18 tháng xuống còn 12 tháng.
Còn về phía các nhà đầu tư cùng đối tác ở địa phương thì họ tìm cách bố trí quỹ đất tối thiểu 100 mẫu Anh (acres) đã được dọn sẵn hoặc đủ tiêu chuẩn sẵn sàng xây dựng trước 2028, cam kết tạo ra hàng nghìn việc làm chất lượng cao (như vùng North East cam kết tạo 5.000 việc làm), và phối hợp với các đại học địa phương (Newcastle, Durham...) xây dựng chương trình đào tạo nhân lực AI.
Họ cam kết sẽ kết nối với các đại học địa phương. Hiện đang làm nghiên cứu trong một đại học ở Luân Đôn và đã dự nhiều khóa học, hội thảo, tôi thấy một xu hướng rõ rệt: các đại học Anh đang xóa bỏ, thậm chí đóng nhiều khoa ở các trường khắp cả nước trong các bộ môn khoa học xã hội, nghệ thuật, ngôn ngữ, nhưng lại đang mở rất nhiều khóa, ngành liên quan đến trí tuệ nhân tạo, từ mảng nghiên cứu, phát triển công nghệ tới ứng dụng Ai trong đủ mọi lĩnh vực. Xem ra đây là tương lai mới cho giáo dục đại học.
RFI: Một câu chuyện nhiều nước nói tới là các trung tâm dữ liệu tiêu thụ điện năng rất lớn. Vậy ở Anh, nguồn năng lượng điện đến từ đâu? Có nằm cạnh nhà máy điện hạt nhân?
Nguyễn Giang : Đúng thế, năng lượng là "nút thắt" lớn nhất của hạ tầng AI, và chiến lược của Anh là áp sát nguồn phát năng lượng sạch quy mô lớn, nhưng không chỉ giới hạn ở điện hạt nhân. Điện nguyên tử không phải tất cả, nhưng đây là một trục xương sống cho AI. Ví dụ điển hình nhất là North Wales AI Growth Zone, nơi được thiết kế cặp đôi chiến lược (strategically paired) nằm ngay cạnh dự án Lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) đầu tiên của Anh tại Wylfa. Sự kết hợp này nhằm cung cấp nguồn điện tải nền (baseload) cực kỳ ổn định và khổng lồ cho các cụm chip AI mà không làm quá tải lưới điện dân dụng.
Ngoài ra thì tại vùng North East (Blyth), các trung tâm dữ liệu dùng nguồn điện đến từ các trạm tiếp bờ của điện gió ngoài khơi lớn nhất thế giới ở Biển Bắc (North Sea) và mua cả năng lượng qua cáp ngầm kết nối thủy điện từ Na Uy. Tại Scotland, họ tận dụng nguồn năng lượng tái tạo thặng dư (gió và thủy điện) vốn thường bị nghẽn, không thể truyền tải về miền Nam.
Các báo Anh gần đây hay đăng các câu chuyện thú vị như nhà nông nào đó ở vùng quê bán trang trại, lò sản xuất bánh mì, trạm xay bột cho công ty Ai để xây data centre. Theo một điều tra của nhà báo Henry Mawhood cho trang báo nghề cá ở Anh thì thực ra câu chuyện không đơn giản như vậy nhưng đúng là các vùng ven biển phía Tây đảo Anh, từ Weston-Super-Mare tới Cumbria (England), rồi miền Nam xứ Wales và duyên hải Đông Bắc Scotland, người ta đang có kế hoạch xây hai thứ: các nhà máy điện nguyên tử mini, các trạm nhận điện qua cáp ngầm từ Bắc Âu (Na Uy) và các trạm đón tuyến cáp truyền dữ liệu xuyên Đại Tây Dương, nối Anh với Hoa Kỳ. Vì thế, đúng là có những nơi nhà nông được mời chào bán lại các miếng đất, nhà xưởng, ít nhất với diện tích 1-2 trăm mét vuông, để chứa data centre. Trong tháng 6 năm nay, có câu chuyện mang tính biểu tượng ở Anh. Thủ tướng Kier Starmer đã thăm một nhà máy xà phòng cũ có 130 năm tuổi ở Warrington, hạt Cheshire, để dự lễ khai trương dự án trung tâm dữ liệu. Tức là họ biến một điểm công nghiệp rất là cũ thành trung tâm dữ liệu, dùng nguồn điện, nước có sẵn.
RFI:Theo anh, công suất cho điện dùng vào trí tuệ nhân tạo ở Anh có đủ không?
Nguyễn Giang : Theo các báo chuyên ngành đánh giá thì điện ở Anh, gồm cả điện nguyên tử, hiện tại là đủ cho lộ trình giai đoạn 1 nhờ chiến lược phân bổ vùng. Ví dụ, riêng trung tâm dữ liệu AI tại Blyth đang tăng tốc để đạt công suất 1,1 GW (Gigawatt) trong vòng 6 năm tới, biến nó thành một trong những cụm dữ liệu lớn nhất châu Âu. Bằng cách đặt data centre tại nơi "nguồn phát" dư thừa, Anh giải quyết được bài toán tổn thất truyền tải và giá điện cao.
RFI: Cho tới nay, việc sử dụng AI trong y tế, tài chính và giáo dục tại Anh ra sao?
Nguyễn Giang : Theo chỉ số tâm lý AI (EY AI Sentiment Index) tính đến giữa năm 2026, bức tranh ứng dụng của Anh như sau:
Trong Dịch vụ Sức khỏe Quốc gia (NHS- tức Y tế công) thì kế hoạch 10 năm của Anh đã đưa AI từ giai đoạn thí điểm sang tích dợp hệ thống toàn diện. AI hiện là "trợ lý số" bắt buộc ở nhiều khâu: các công cụ "Ambient Scribing" (AI ghi âm cuộc thoại bác sĩ - bệnh nhân tự động chuyển thành hồ sơ bệnh án) phổ cập mạnh mẽ; ứng dụng NHS App tích hợp AI thành cổng sàng lọc bệnh tự động. Đặc biệt, Bộ Y tế Anh vừa tung ra mô hình "MHRA AI Airlock / Sandbox" (tháng 6/2026) để thử nghiệm AI trong việc dự đoán tác dụng phụ của thuốc, giúp NHS giảm bớt gánh nặng chi phí 2 tỷ bảng/năm do phản ứng ngược của thuốc gây ra.
Mạnh và sâu hơn là ứng dụng trong tài chính dùng công nghệ số (fintech). Trên thực tế thì tỷ lệ ứng dụng AI ở Anh trong ngành này đã đạt 75%. Các ngân hàng và công ty tài chính Anh đang dùng AI sâu trong phát hiện gian lận (anti-frauds), trong giao dịch tự động và tuân thủ pháp lý (compliance). Vào tháng 1/2026, Cơ quan Quản lý Tài chính (FCA) đã mở cuộc điều tra Mills Review để đánh giá toàn diện tác động dài hạn của AI đối với dịch vụ tài chính tiêu dùng, đồng thời tích hợp sâu công cụ Agentic AI (AI tự chủ) vào hệ thống vận hành.
Trong giáo dục đại học, Anh đang chuyển mạnh từ các ngành xã hội sang công nghệ. Hiện Bộ Giáo dục đã chuẩn hóa hơn 400 chương trình thạc sĩ chuyên sâu về AI và 28 trung tâm đào tạo tiến sĩ (CDT). Các trường đại học lớn như Edinburgh (với Bayes Centre), Cambridge, Oxford hoạt động như các lõi R&D chuyển giao công nghệ trực tiếp cho doanh nghiệp trong các AI Growth Zones.
RFI: So với Liên Âu thì Anh Quốc đi trước hay sau về công nghệ AI trong ứng dụng vào kinh tế và các ngành nghề?
Nguyễn Giang : Có thể nói về mặt thương mại, hạ tầng và đầu tư thì Anh đi trước. Anh hiện đứng đầu châu Âu và thứ 4 thế giới về năng lực nghiên cứu cũng như thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho AI (riêng năm 2024 đạt gần 3 tỷ bảng). Do lợi thế về nguồn dữ liệu tập trung của NHS và thị trường tài chính London, các tập đoàn Mỹ (Google, Microsoft, OpenAI) chọn Anh làm bãi đáp hạ tầng lớn hơn so với Liên Âu
Ưu thế của Anh là có tốc độ tích hợp AI vào dịch vụ công như trong y tế công (NHS) đồng bộ hơn nhờ cơ chế quản lý tập trung, trong khi EU bị phân mảnh theo từng quốc gia thành viên. Nhưng so sánh Anh và Pháp thì bức tranh lại hơi khác
RFI: Anh và Pháp được cho là hai quốc gia châu Âu hành đầu, cạnh tranh với Hoa Kỳ, Trung Quốc về AI nhưng cũng cạnh tranh với nhau?
Nguyễn Giang : Các thông tin do hai chính phủ Anh và Pháp công bố dần dần cho thấy sự khác biệt, ưu điểm và nhược điểm của mỗi bên trong chiến lược phát triển AI. Tôi xin điểm ra một số nhỏ:
Anh đã triển khai các trung tâm dữ liệu nhanh hơn Pháp. Vì ở Pháp, dù Hội nghị thượng đỉnh Choose France cam kết cắt giảm thủ tục hành chính của Pháp, nhưng Pháp cũng bị ràng buộc bởi các quy định quản lý đất đai và bảo vệ môi trường chặt chẽ của Liên Hiệp Châu Âu nên thủ tục làm tốn thời gian hơn trong việc giải phóng mặt bằng quy mô lớn. Pháp muốn đi nhanh nhưng vẫn phải tuân thủ luật Liên Âu (EU AI Act), còn Anh thì có môi trường pháp lý thoáng hơn, gần với Hoa Kỳ hơn, và thái độ ‘pro-innovation’ có vẻ đang tốt hơn Pháp.
Trong việc xây dựng hệ sinh thái tài chính và thương mại kỹ thuật số thì Anh có sẵn Luân Đôn là trung tâm Fintech số 1 châu Âu, kết nối truyền thống mạnh mẽ trong thế giới nói tiếng Anh với New York, với Singapore, Hồng Kông nên giúp các AI Growth Zone dễ dàng kết nối trực tiếp giải pháp AI vào thị trường tài chính toàn cầu. Thêm vào đó, việc sở hữu Dữ liệu tập trung của Y tế công NHS là lợi thế độc quyền mà Pháp không có. Anh dễ dàng thu hút các tập đoàn y sinh AI lớn đến thiết lập trung tâm tính toán, vì họ có thể tiếp cận kho dữ liệu y tế khổng lồ hàng đầu thế giới thông qua các cơ chế an toàn số (như MHRA AI Airlock).
Thế nhưng, về quy mô vốn đầu tư hạ tầng khổng lồ bằng tiền nước ngoài (FDI Magnitude) thì Pháp đang hơn Anh. Ví dụ, Hội nghị Choose France, tập đoàn SoftBank đã cam kết chi tới 75 tỷ euro (trong đó 45 tỷ euro giải ngân trước 2031) để xây dựng cụm trung tâm dữ liệu AI khổng lồ công suất 5 GW tại Dunkerque. Bên cạnh đó là 10 tỷ euro từ Brookfield và 7,5 tỷ euro từ quỹ MGX (UAE).
Hiện chưa rõ cuộc chạy đua đường dài về AI (AI race) giữa Anh và Pháp ra sao, nhưng cả hai nước đều đang đổ tiền vào. Tổng thống Emmanuel Macron công bố trong tháng 6/2026 khoản đầu tư 1,55 tỷ euro tiền công vào công nghệ quantum và bán dẫn (semiconductors). Cùng lúc, chính phủ Anh cũng trực tiếp chi ngân sách tài trợ ban đầu hơn 2,5 tỷ bảng để kích hoạt hệ thống điện toán quốc gia kết nối AI.
RFI: Nếu làm tốt, các kế hoạch này có giúp kinh tế Anh tăng trưởng giai đoạn 2027-2030 không?
Nguyễn Giang : Anh Quốc đang hy vọng kế hoạch AI Growth Zones và chuyển đổi số này được thực thi trơn tru, Nhờ đó mà tác động lên giai đoạn 2027-2030 sẽ có thể phát huy tác dụng qua ba kênh:
Một là người ta hy vọng có dòng vốn dịch chuyển mạnh từ Mỹ sang Anh, không chỉ với con số 100 tỷ bảng đầu tư hạ tầng cam kết đến năm 2030 và còn có các cam kết mới. Các đầu tư này sẽ trực tiếp đóng góp vào GDP thông qua xây dựng và mua sắm thiết bị công nghệ cao ở Anh.
Hai là AI sẽ làm tăng hiệu suất của y tế và tài chính, dịch vụ công. Lấy ví dụ ứng dụng AI giúp rút ngắn thời gian chẩn đoán của bác sĩ, cắt ngắn thời gian chờ được khám bệnh, và gián tiếp giải phóng hàng tỷ bảng Anh áp lực ngân sách (thời gian, giờ công) cho phép tái đầu tư tiền vào các khu vực kinh tế tạo ra thặng dư cao hơn.
Và thứ ba là tác động lan tỏa (Spillover effects). Đây là điều cần chờ xem. Thế nhưng theo các mô hình dự báo, khi các AI Growth Zones đi vào hoạt động ổn định từ năm 2027, các ngành kế toán, tài chính, năng lực tính toán trong sản xuất v.v. sẽ nhờ giải pháp AI mà giảm được chi phí. Qua đó, giá trị chung của toàn chuỗi cung ứng ở Anh sẽ tăng lên, cùng sức cạnh tranh của hàng hóa Anh. Chúng ta sẽ không thấy ngay lợi ích này, nhưng đây là quá trình chuyển đổi, có người nói là cuộc cách mạng cơ sở hạ tầng lớn nhất từ thế kỷ 16 nên cần phải có thời gian để “hưởng lợi”, nhìn từ góc độ của Anh Quốc.
Tue, 14 Jul 2026 - 277 - Đô la Mỹ, bàn đạp cho công nghệ Trung Quốc phát triển
Sau khi « mượn » đô la trong tay các quỹ đầu tư Mỹ làm bệ phóng cho các công ty khởi nghiệp để phát triển công nghệ, Trung Quốc « qua cầu rút ván », áp dụng chính sách bảo hộ để kiểm soát những lĩnh vực mũi nhọn chiến lược. Bắc Kinh không chỉ giỏi đánh cắp bí quyết công nghiệp và công nghệ của Hoa Kỳ mà còn sao chép cả những công cụ pháp lý của Washington để giành lấy thế thượng phong.
Vụ Bắc Kinh hủy thương vụ của đại tập đoàn công nghệ Mỹ Meta mua lại Manus, một công ty khởi nghiệp rất có triển vọng trong công nghệ trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc là trường hợp tiêu biểu, để lộ rõ những nước cờ của Trung Quốc.
RFI Việt ngữ mời chuyên gia về luật tài chính, nhà nghiên cứu về Trung Quốc Isabelle Feng, phó chủ tịch trung tâm nghiên cứu Á Châu Asia Centre, Paris, phân tích về chiến lược phát triển công nghệ cao của Bắc Kinh, về những tính toán của Trung Quốc trong cuộc tranh hùng với Mỹ trên mặt trận high tech và trí tuệ nhân tạo.
Một tháng sau khi công bố những biện pháp giới hạn đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc ở hải ngoại, Bắc Kinh kể từ ngày 01/07/2026 có quyền hủy một chương trình hợp tác giữa một nhà đầu tư nước ngoài với một công ty Trung Quốc, nếu như dự án đó bị coi là « nhạy cảm » và « đe doạ đến an ninh quốc gia ». Giống như Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng viện lý do « an ninh quốc gia » để siết chặt kiểm soát các dự án đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn hay những công nghệ xanh. Luật chơi mới cho phép các giới chức Trung Quốc« kiểm soát lưu lượng vốn và cả các nguồn lực lao động ».
Hai tháng trước khi quy định mới của Trung Quốc giới hạn đầu tư ra nước ngoài có hiệu lực, Meta và Manus đã là những nạn nhân đầu tiên của chính sách này. Cuối tháng Tư vừa qua, vài tuần trước khi tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đến Bắc Kinh và vào lúc thế giới tập trung vào chiến tranh Trung Đông, vào eo biển Hormuz bị Iran phong tỏa, vào nguy cơ nổ ra một cuộc khủng hoảng dầu hỏa và năng tượng toàn cầu, thì tại Bắc Kinh, cơ quan chức năng đã hủy một thương vụ vốn đã hoàn tất gần nửa năm trước đó giữa tập đoàn công nghệ Meta của Hoa Kỳ và Manus đang hoạt động tại Singapore.
Một công ty khởi nghiệp và « gã khổng lồ » Meta
Manus hiện được coi là con chim đầu đàn về trí tuệ thông minh, trụ sở ban đầu đặt tại Vũ Hán. Nhưng để có thể thu hút đầu tư của Mỹ và cũng là để lách luật COINS Act 2025 của Hoa Kỳ ( Luật cho phép Hoa Kỳ kiểm soát các khoản đầu tư của doanh nghiệp và nhà đầu tư Mỹ ra nước ngoài, đặc biệt là vào các lĩnh vực công nghệ nhạy cảm ở các « quốc gia đáng quan ngại » như Trung Quốc), hai sáng lập viên đã ngừng hoạt động tại Hoa Lục, sang Singapore hành nghề, dưới danh nghĩa là một công ty khởi nghiệp Singapore.
Điều đó không cấm cản các sáng lập viên của Manus bị triệu tập về Trung Quốc và bị cấm rời khỏi Hoa Lục, trong khi đợi « kết quả điều tra ». Bắc Kinh đang điều tra xem việc Manus bị đại tập đoàn công nghệ Mỹ Meta mua lại có là một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia hay không.
Vì sao quyết định hủy thương vụ Manus bán cho Meta lại là một trường hợp tiêu biểu cho cuộc chiến Mỹ- Trung và đâu là những bài học có thể rút ra từ vụ này về chính sách đầu tư của Bắc Kinh, về cung cách hoạt động của Trung Quốc về tiến trình khởi nghiệp và cất cánh của các công ty Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ ?
Trung Quốc mượn vốn của Mỹ để phát triển
RFI : Thân chào Isabelle Feng, báo chí Mỹ như Wall Street Journal hay Bloomberg, New York Times đã chú ý nhiều đến cuộc « liên hôn » ngắn ngủi giữa Meta, công ty mẹ của những Facebook, Whatsapp, Intagram với Manus, một công ty khởi nghiệp ban đầu là từ Vũ Hán. Manus phát triển AI thế hệ mới, với những chức năng như là dùng AI để mua vé xe lửa hay tìm nhà cho thuê … Meta đã chi ra 2 tỷ đô la để thâu tóm Manus. Thủ tục sáp nhập này đã hoàn tất vào cuối năm 2025 và đôi bên đã chính thức hợp tác với nhau từ đó đến nay. Cho dù Manus đang hoạt động với danh nghĩa một công ty Singapore, Trung Quốc vẫn có thẩm quyền hủy giao dịch giữa Meta và Manus. Chúng ta có thể thấy gì từ trường hợp này ?
Isabelle Feng :« Nghiên cứu từ nhiều năm nay về trường hợp của Meta và Manus, tôi có những nhận xét như sau : Manus cũng như rất nhiều các hãng công nghệ khác của Trung Quốc khởi nghiệp nhờ vốn đầu tư của tư nhân bởi vì họ không được nhà nước tài trợ, không được các ngân hàng nhà nước giúp đỡ. Vốn của tư nhân ở đây chủ yếu là vốn từ các tổ hợp đầu tư liên doanh. Cho đến năm 2020, phần lớn những tổ hợp liên doanh này có vốn của Mỹ. Trong trường hợp của tập đoàn ô tô điện Trung Quốc BYD chẳng hạn, ban đầu họ đã phát triển nhờ vốn của một quỹ mang tên là Wang Chuanfu nhưng đến năm 2008 thì bắt đầu mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài dưới dạng một joint venture. Tương tự như vậy, từ Tencent, Alibaba đến ByteDance… cũng đã khởi nghiệp với vốn của các quỹ đầu tư ngoại quốc, trong đó có vốn của các nhà đầu tư Mỹ. Nhưng đến khi những công ty khởi nghiệp đó thành công, các cổ đông bán lại cổ phần để thu lại vốn. Khi đó đến lượt các ngân hàng của nhà nước Trung Quốc can thiệp. Alibaba năm 2014 tham gia sàn chứng khoán Hoa Kỳ, nhưng kỳ thực thì ngay cả ông khổng lồ này cũng do nhà nước Trung Quốc kiểm soát ».
RFI :Nói cách khác, công nghệ của Trung Quốc cất cánh một phần cũng nhờ các quỹ đầu tư của Hoa Kỳ. Bản chất các nhà đầu tư là bỏ vốn vào những thị trường, những lĩnh vực dễ sinh lời, có mức lãi cao và chóng thu hồi vốn. Riêng Manus thì đã được thành lập trong bối cảnh mà Mỹ và Trung Quốc đã lao vào một cuộc chiến thương mại, và nhất là công nghệ.
Isabelle Feng : « Manus là một ca rất thú vị : Được 2 kỹ sư sáng lập năm 2022, trụ sở tại Vũ Hán. Đó cũng là thời điểm quan hệ Mỹ và Trung Quốc đã xấu đi. Cho nên Manus chỉ có thể trông cậy vào vốn đầu tư của tư nhân Trung Quốc. Nhưng rồi để nhanh chóng phát triển, Manus cần vốn của cả các tổ hợp liên doanh tức là phải có vốn của nước ngoài -trong lĩnh vực AI, mỗi dự án đầu tư cần cả tỷ đô la. Chúng ta biết nguồn vốn mạnh nhất là từ Mỹ. Washington nhân danh an ninh quốc gia đã cấm các nhà đầu tư Hoa Kỳ bỏ vốn vào những lĩnh vực nhạy cảm của Trung Quốc. Để lách điều khoản này, Manus trong một sớm một chiều đã đóng cửa cơ sở tại Vũ Hán để đăng ký hoạt động tại Singapore. Với danh nghĩa là một công ty khởi nghiệp của Singapore, Manus đã thu hút chú ý của các quỹ đầu tư – trong đó có Benchmark Capital. Qua Benchmark, Manus đã được Meta chú ý ».
Sự "bất an" trong các công cụ pháp lý của Trung Quốc
RFI : Phải chăng một trong những lý do khiến Manus bị Bắc Kinh chú ý đến là do công ty khởi nghiệp này đang nổi lên như diều gặp gió với công nghê AI thế hệ mới ? Trường hợp của Manus đã gây bất ngờ tương tự như hiệu ứng DeepSeek. Tháng 1/2026, một công ty còn ít được biết đến cho ra đời« phiên bản Trung Quốc của ChatGPT », được cho là « thông minh hơn » « gọn nhẹ hơn » « rẻ hơn » và « hiệu quả hơn » những công cụ của Mỹ. Chính vì thế mà Bắc Kinh muốn tránh để một công ty quý giá như Manus vào tay Hoa Kỳ
Isabelle Feng : « Qua việc Bắc Kinh hủy thương vụ liên quan đến Meta và Manus, chúng ta có thể đưa ra những nhận xét như sau : Một là Trung Quốc muốn khẳng định các doanh nghiệp, các kỹ sư Trung Quốc bất luận hoạt động ở nơi nào đều vẫn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Trung Quốc. Nghịch lý ở đây là Trung Quốc đang rất cần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng khi hủy hợp đồng của tập đoàn Mỹ Meta mua lại Manus rõ ràng là họ đang khẳng định chỉ có Bắc Kinh mới làm chủ cuộc chơi.
Điểm thứ nhì cần lưu ý : Hủy một quyết định, một hợp đồng đã có hiệu lực từ sáu tháng trước nhắm vào một tập đoàn Trung Quốc hoạt động ở Singapore, đây là lần đầu tiên Bắc Kinh áp dụng một cách triệt để nguyên tắc ngoài lãnh thổ, trong lúc không có bất kỳ một lý do nào cho thấy thương vụ giữa Manus và Meta vi phạm luật pháp của Trung Quốc.Điều đó càng để lộ rõ cái mà chúng ta có thể gọi là khía cạnh ‘bất an’ trong các công cụ pháp lý của Trung Quốc đối với các doanh nghiệp nước ngoài.
Bài học thứ ba có thể rút ra từ trường hợp của Meta và Manus là cuộc chạy đua phát triển trí tuệ nhân tạo đòi hỏi rất nhiều đầu tư – mỗi dự án có thể cần đến cả tỷ đô la và để thu hút đầu tư và phát triển AI, Hoa Kỳ trông cậy từ 80 đến 90 % vào đầu tư tư nhân. Tại Trung Quốc, đầu tư của nhà nước chiếm hơn 50 %. Nửa còn lại là vốn của tư nhân, của các quỹ tài chính liên doanh. Câu hỏi còn lại là sau vụ của Manus, là một nhà đầu tư ngoại quốc còn mấy ai dám bỏ vốn vào AI Trung Quốc ? ».
RFI : Nói như vậy nạn nhân đầu tiên từ những quy định hạn chế đầu tư của Trung Quốc ra nước ngoài chính là các công ty khởi nghiệp Trung Quốc, bởi vì như vừa nói công nghệ mới của Trung Quốc đã phát triển nhờ vào các quỹ đầu tư của Hoa Kỳ. Ngoài ra vào lúc mà cuộc đọ sức giữa hai siêu cường kinh tế thế giới gia tăng cường độ, Bắc Kinh càng lúc càng chứng tỏ khả năng đáp trả đích đáng Hoa Kỳ khi cần, điển hình là thông báo hôm 22/06/2026 đưa một loạt doanh nghiệp Mỹ vào danh sách trừng phạt. Biện pháp này nhằm trả đũa Lầu Năm Góc hơn một chục ngày trước đó đã đưa nhiều tập đoàn lớn của Trung Quốc vào danh sách với lý do «nghi ngờ » các thực thể này hợp tác với quan đội Trung Quốc. Thưa Isabelle Feng ,bà đánh giá thế nào về quyết định này từ phía Bắc Kinh ?
Isabelle Feng : « Mỗi lần Mỹ ban hành lệnh trừng phạt các công ty Trung Quốc, lập tức Bắc Kinh phản công. Nếu nhìn kỹ vào danh sách của đôi bên lần này, chúng ta thấy có một sự bất tương xứng. Mỹ nhắm vào những tên tuổi như Alibaba hay BYD... Những công ty này hoàn toàn không nằm trong lĩnh vực nhạy cảm : Alibaba là một nhà phân phối hàng trên mạng, còn hãng xe BYD hoạt động khắp châu Âu. Trái lại, phía Trung Quốc nhắm những Loockheed Martin, Raytheon …, những tên tuổi lớn trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng và hàng không quân sự mà rất ít người Trung Quốc biết đến. Cũng vì tính chất nhạy cảm trong các hoạt động của hãng Mỹ liên quan, cho nên về thực chất, họ rất ít giao dịch với Trung Quốc. Nếu như Bắc Kinh thật sự muốn đáp trả Washington một cách tương xứng thì họ đã nhắm tới những tập Apple hay Microsoft : Đó là những nhãn hiệu đã bắt rễ sâu vào Trung Quốc và Trung Quốc là thị trường lớn của hai thương hiệu này ».
RFI : Xin thành thật cảm ơn bà Isabelle Feng, phó chủ tịch trung tâm nghiên cứu về châu Á Asia Centre Paris.
Tue, 07 Jul 2026 - 276 - Nắng nóng, hiện tượng thời tiết cực đoan : Thêm một nguy cơ đe dọa tăng trưởng của Pháp
Thêm một trở ngại cho tăng trưởng của Pháp : Ngoài xung đột Ukraina và Iran đẩy giá nhiên liệu vật liệu và năng lượng lên cao ; Cạnh tranh về công nghiệp, về thương mại cả với Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc, giờ đây là hiện tượng nắng nóng bất thường, thời tiết cực đoan có nguy cơ cướp đi 210 tỷ euro, tương đương với khoảng 7 % GDP, của Pháp trong giai đoạn 2026-2030.
Là một quốc gia trong vùng ôn đới, Pháp hiếm khi phải đối mặt với các đợt nắng nóng bất thường trước khi chính thức bước sang hè. Năm 2026 là một ngoại lệ, ngay từ tháng 5, tháng 6, Pháp đã trải qua hai đợt nắng nóng bất thường. Trong nhiều ngày liên tiếp, một phần lớn nước Pháp đã được đặt trong tình trạng báo động. Các sinh hoạt đều bị chựng lại.
Theo một nghiên cứu của hãng bảo hiểm Allianz Trade, được công bố hôm 28/05/2026, nắng nóng khắc nghiệt tại Pháp và châu Âu đã trở thành một « rủi ro đe dọa tăng trưởng của khu vực này ».
Là một đầu tàu kinh tế của Liên Hiệp Châu Âu, Pháp có nguy cơ mất 7 % GDP từ nay đến cuối 2030 chỉ vì các đợt nắng nóng càng lúc càng thường xuyên xảy ra và bị ngạt thở dưới những vòm trời oi bức, nhiệt độ dao động từ 35°C trở lên.
Cũng theo nghiên cứu này, Pháp bị nặng hơn một số thành viên khác trong Liên Âu như Đức vì hai lý do : Hiện tượng cực đoan này thường xuyên xảy ra ở Pháp hơn là ở Đức, đồng thời cơ cấu kinh tế Pháp cũng dễ bị ảnh hưởng hơn bởi vì nông nghiệp, ngành xây dựng xây dựng, du lịch...là những điểm mạnh của kinh tế Pháp, nhưng cũng là những lĩnh vực dễ bị những điều kiện khí hậu tác động nhất, như giải thích của kinh tế gia Hazem Krichen, Allianz Trade.
Nước Pháp hoạt động chậm lại
Xavier Timbeau, giám đốc Đài Quan Sát về Tình Hình Kinh Tế Pháp OFCE bổ sung thêm vì sao dưới tác động nắng nóng bất thường, các hoạt động kinh tế đều đã « chậm lại » :
« Nắng nóng cao độ dẫn tới tình trạng hơi giống như thời kỳ nước Pháp bị phong tỏa để chống dịch Covid : Trường học phải đóng cửa, bố mẹ học sinh phải ở nhà trông con, phải làm việc từ nhà, nhiều chuyến xe lửa bị hủy, giao thông công cộng bị đình trệ, đi lại khó khăn trong cái nắng nóng cùng cực. Điều này làm giảm năng suất của người lao động. Bên cạnh đó thì nhiều lĩnh vực kinh tế bị tác động trực tiếp như trong ngành xây dựng, công nhân phải nghỉ việc vì trời quá nóng không thể đến các công trường. Các nhà máy điện lực trong tình trạng căng thẳng bởi vì cung bị giảm trong lúc nhu cầu tiêu thụ thì lại rất cao… Tất cả những yếu tố này cộng lại gây thêm những tốn kém cho các doanh nghiệp, cho tư nhân …. Năm 2003, do tác động từ đợt nắng nóng dài ngày, GDP của Pháp bị giảm mất 0,3 % ».
Vẫn theo thẩm định của hãng bảo hiểm Allianz Trade, với nhiệt độ hơn 30°C, năng suất lao động bắt đầu sụt giảm, đè nặng lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đầu tư qua đó cũng bị tác động lây.
Trong hoàn cảnh đó, hệ quả kèm theo là giá cả bị đẩy lên cao. Pháp rất dễ lâm vào tình trạng « stagflation », tức là tăng trưởng chậm và phải đối mặt với lạm phát.
Gánh nặng tài chính của chính phủ
Đây cũng sẽ là một gánh nặng tài chính đối với chính phủ khi mà thuế thu vào cho ngân sách của nhà nước sa sút trong lúc các nhu cầu chi tiêu lại tăng thêm. Vẫn theo báo cáo của Allianz Trade, hiện tượng thời tiết cực đoan này đào sâu thêm thâm hụt ngân sách nhà nước. Thuế thu vào có thể bị giảm từ 1,8 % đến 2,2 %.
Song giới trong ngành nhìn nhận là rất khó thẩm định chính xác tác động từ các đợt nắng nóng đối với hoạt động kinh tế. Chỉ biết rằng so với những năm trước, hiện tượng nắng nóng diễn ra vào tháng 7 và tháng 8 khi mà một phần lớn dân Pháp đang nghỉ hè, tức là ít ảnh hưởng đến năng suất lao động và hai tháng hè cũng là thời điểm mà nhiều công trình xây dựng, nhà máy đóng cửa …
Năm nay thì hai đợt nắng nóng đầu tiên diễn ra vào tháng 5 và 6 khi mà dân Pháp vẫn hoạt động bình thường và một số ngành nghề bất đắc dĩ phải cho nhân viên nghỉ việc trong những ngày nóng nhất.
Hai nét đặc thù
Trở lại với câu hỏi vì sao Pháp lại là một trong những quốc gia bị hiện tượng nắng nóng tác động mạnh nhất, trong những ngày qua đã có nhiều nhà bình luận chỉ trích Pháp keo kiệt, lạc hậu không chịu trang bị máy điều hòa. Lập luận này không có sức thuyết phục giáo sư kinh tế trường Paris School of Business, Thomas Porcher như ông đã giải thích trên đài phát thanh France Inter hôm 26/06/2026:
« Các công trình kiến trúc tại châu Âu được thiết kế để giữ nhiệt. Chính vì thế mà ở Pháp và châu Âu cho đến nay không được trang bị nhiều máy điều hòa. Khoảng một nửa các công trình xây dựng không được thiết kế để đối phó với hiện tượng nắng nóng. Các thành phố lớn đông dân cư lại càng bí bức, càng dễ bị ngộp thở. Các căn hộ ở dưới mái các tòa nhà cao tầng tích tụ hơi nóng và lại càng ngột ngạt hơn nữa. Thành thử cần phải có cải tạo các công trình từ nhà ở đến văn phòng, trường học… để thích nghi với hiện tượng nắng nóng ».
Nếu như phải trang bị máy điều hòa cho tất cả các căn hộ ở Pháp thì sẽ tốn hết bao nhiêu và đó có thực sự là « chìa khóa » để đối phó với những đợt nắng nóng thường xảy ra hay không ? Nhà báo Dominique Seux phụ trách các mục kinh tế trên nhật báo Les Echos đưa ra những con số cụ thể để trả lời câu hỏi này:
« Nếu phải trang bị máy điều hòa cho toàn bộ 10 triệu căn hộ, nhà riêng trên toàn quốc thì sẽ tốn khoảng 100 tỷ euro. Còn nếu phải cải tạo lại toàn bộ các cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục, công sở, nhà máy, hệ thống giao thông công cộng … thì cần khoảng 500 tỷ euro. Như đã biết ,tại Pháp cũng như châu Âu, các công trình xây dựng được thiết kế để tiết kiệm năng lượng, tức là hóa đơn điện vào mùa đông. Trước hiện tượng nắng nóng càng lúc càng thường xuyên hơn, khắc nghiệt hơn và mỗi đợt nóng có khuynh hướng kéo dài, bắt buộc phải tìm những giải pháp khác để thích nghi. Đương nhiên trang bị máy điều hòa chỉ cho phép làm hạ nhiệt tình hình nhưng không giải quyết được gì nhiều. Còn lại là những khả năng như là cải tạo lại kiến trúc của các căn hộ, điều chỉnh lại giờ giấc làm việc thường ngày để tránh nắng nóng ; trồng thêm cây xanh trên đường phố, trên các mái nhà hay trên tường của những khu chung cư và văn phòng. Theo thẩm định của cơ quan tư vấn Carbone 4, xanh hóa môi trường cho thành phố đòi hỏi 14 tỷ euro từ nay cho đến năm 2050. So với 100 tỷ hay 500 tỷ euro như vừa nêu, số tiền này quả thực là không quá lớn ».
Cứu môi trường vị lợi ích kinh tế
Trong nghiên cứu hôm 28/05/2026, Allianz Trade khuyến khích Paris đẩy mạnh tiến trình « chuyển đổi công nghệ » làm « xanh hóa môi trường ». Vào lúc mà tình trạng ngân sách của Pháp đã khá « tồi tệ », nợ công lên tới 115 % GDP, chính phủ có khuynh hướng giảm đầu tư vào các dự án phi carbon hóa, chính tập đoàn bảo hiểm Allianz lại cho rằng Paris cần hỗ trợ các chính quyền cấp vùng, cấp thành phố để đối phó tốt hơn các hiện tượng khí hậu cực đoan. Đây là giải pháp tốt nhất để cứu vãn tăng trưởng và nhất là hạn chế những thiệt hại mà tình trạng nắng nóng bất thường gây nên.
Thực tế cho thấy rằng, tại Pháp nói riêng, tại châu Âu nói chung, những đợt nắng nóng không chỉ là một « câu chuyện vô bổ về thời tiết nắng, mưa », mà đây là cả một thách thức có thể đe dọa đến tăng trưởng của một quốc gia, thách thức từ hệ thống y tế đến giáo dục khi mà các bệnh viện bị quá tải, khi mà nhà trường phải đóng cửa hay phải dời lại các kỳ thi vì thời tiết không cho phép ….
Bên cạnh đó còn phải tính đến những hậu quả « âm thầm » nhưng cũng rất nguy hiểm mà các đợt nắng nóng hay những hiện tượng thời tiết cực đoan đang mang lại cho môi trường, cho đại dương, cho các loại thực và động vật …
Những lời hứa chóng bị lãng quên
Trong hai đợt nắng nóng Pháp vừa trải qua, những bài báo, những chương trình truyền thanh, truyền hình đã mời các chuyên gia tranh cãi về việc nên hay không nên trang bị máy điều hòa, cân nhắc về lượng khí carbone chúng thải ra liệu có làm hâm nóng thêm Trái đất hay không … Như thể máy điều hòa mới là giải pháp quan trọng nhất hóa giải được mọi hậu quả của những trận nắng nóng. Một chuyên gia Pháp ví von « thực ra máy điều hòa cũng có tác dụng như thuốc paracétamol, giảm sốt, giảm đau cho bệnh nhân nhưng không chữa được bệnh từ gốc rễ ».
Từ 2003, mỗi lần Pháp trải qua một trận nắng nóng hay thiên tai đều là cơ hội để các chính trị gia vạch trần những thiếu sót của các đối thủ, và hứa hẹn là họ sẽ làm tốt hơn nếu được người dân tín nhiệm. Nhưng khi những đợt nóng khắc nghiệt nhất đi qua, thì những hứa hẹn và phần lớn những cam kết chống biến đổi khí hậu nhanh chóng bị lãng quên.
Tue, 30 Jun 2026 - 275 - Dầu hỏa Iran trước hy vọng thoát khỏi lệnh cấm vận của Mỹ sau gần 50 năm bị trừng phạt
Bốn trong số 14 điểm của thỏa thuận ghi nhớ chấm dứt chiến tranh Trung Đông liên quan đến những hồ sơ kinh tế nhậy cảm nhất đối với Teheran và được coi là có lợi cho chế độ Iran. Ngày 22/06/2026, Hoa Kỳ tạm dỡ bỏ lệnh cấm vận dầu hỏa Iran trong vòng 60 ngày, mở ra viễn cảnh Iran thu vào hàng tỷ đô la nhờ được phép xuất khẩu dầu hỏa theo giá thị trường.
Đây là bằng chứng rõ rệt cho thấy thái độ thực tiễn của chế độ ở Teheran. Nhưng không dễ để xóa bỏ những lớp trừng phạt mà cộng đồng quốc tế, đứng đầu là Mỹ, gần như liên tục ban hành từ năm 1979 tới nay.
Vào lúc phó tổng thống J.D Vance trên đường trở về Mỹ sau cuộc họp tại Thụy Sĩ với phái đoàn Iran, tại Washington, bộ Tài Chính thông báo tạm thời cho phép Iran xuất khẩu trở lại dầu thô, các sản phẩm hóa dầu và bán ra theo giá thị trường. Quyết định có hiệu lực cho đến ngày 21/08/2026. Để đổi lại, Teheran cam kết « bảo đảm quyền tự do lưu thông tại eo biển Hormuz và cho phép thanh tra viên của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế AIEA vào hoạt động ».
Thay đổi ngoạn mục trong chính sách của Mỹ từ 1979
Theo báo New York Times, đây là một « thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ » đối với Iran. Một quyết định chấm dứt « hàng thập niên những hạn chế làm tê liệt » ngành công nghiệp dầu hỏa của Iran, quốc gia này phải luồn lách các lệnh trừng phạt quốc tế và xoay sở để vẫn có thể xuất khẩu dầu mà chủ yếu là để bán cho Trung Quốc, như ghi nhận của báo tài chính Wall Street Journal. Tờ báo kết luận : Tạm thời cho phép Iran xuất khẩu dầu thô là một « cơ hội vàng » đối với chế độ « đang rất cần ngoại tệ ».
Nhật báo The Hill thì nói đến một « cú hích » cho một nền kinh tế đang bị kiệt quệ. Trên đài RFI Pháp ngữ, kinh tế trưởng cơ quan bảo hiểm ngoại thương Pháp COFACE Julien Marcilly phác họa về toàn cảnh u ám tại Iran trước và nhất là kể từ khi có xung đột với Mỹ và Israel hôm 28/02/2026 đến nay :
« Ngay cả trước cuộc xung đột, kinh tế Iran đã rất khó khăn và hiện nay tình hình thậm chí còn tệ hơn nhiều, nếu không muốn nói là một tai họa : Đồng rial của Iran đã sụp đổ mạnh kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu. Điều đó có nghĩa là áp lực lạm phát gia tăng rất lớn. Hồi tháng 4 và 5/2026, lạm phát đã tăng với tốc độ chưa từng có so với tháng trước đó. Theo số liệu chính thức, giá cả đang tăng với tốc độ hơn 60% mỗi năm. Con số này có khả năng còn tiếp tục tăng trong những tháng tới do tác động kéo dài đồng tiền bị mất giá. Bên cạnh những thiệt hại về vật chất dưới tác động của các đợt oanh kích tàn phá các cơ sở hạ tầng quân sự, dân sự, các nhà máy năng lượng của Iran. (…) Mỹ nới lỏng các biện pháp trừng phạt, cho phép Iran phục hồi khả năng sản xuất và xuất khẩu dầu hỏa quả thực là một "làn gió mới" cho một nền kinh tế đang trong tình trạng cực kỳ tồi tệ ».
Năm 1979, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trừng phạt kinh tế - trong đó có biện pháp cấm vận dầu hỏa Iran và phong tỏa tài sản của chế độ này ở hải ngoại, nhắm vào chế độ của giáo chủ Khomenei để trả đũa vụ con tin Mỹ bị bắt tại tòa đại sứ ở Teheran. Dầu thô tiếp tục là mục tiêu bị nhắm tới khi tổng thống Bill Clinton năm 1996 phê chuẩn đạo luật Iran - Libya Sanction Act, cấm các tập đoàn Mỹ và nước ngoài đầu tư quá 20 triệu đô la vào các dự án phát triển năng lượng của Iran.
Nhưng 2012 là một năm « đen tối » đối với ngành khai thác và xuất khẩu dầu của chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo : Đến lượt Liên Hiệp Châu Âu, Liên Hiệp Quốc cũng ban hành lệnh cấm nhập khẩu dầu của Iran, trong lúc Mỹ siết chặt thêm cỗ máy trừng phạt nhắm vào tất cả các thực thể (doanh nghiệp và các ngân hàng) có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu dầu của Iran.
Mãi đến 2015-2026 nhờ có thỏa thuận Vienna về hạt nhân Iran JCPOA ký kết dưới chính quyền Obama, dầu của Iran mới « dễ thở hơn » một chút, nhưng mọi chuyện đã chấm dứt năm 2018 khi tổng thống Donald Trump trong nhiệm kỳ đầu, đã rút nước Mỹ ra khỏi thỏa thuận (giữa Iran với 6 nước Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc và Mỹ) mà các bên đã mất hơn 600 ngày đàm phán.
Từ 2012, xuất khẩu dầu của Iran về mặt chính thức « rơi xuống mức gần như là số 0 ». Điều này khiến Teheran phải tương kế tựu kế, trông cậy vào các đội tàu ma để vẫn xuất khẩu được dầu hỏa, vốn là nguồn thu nhập quan trọng nhất.
Bóp nghẹt kinh tế Iran : Mục tiêu bất thành
Do vậy, trong mắt nhà chính trị học Jonathan Piron, Trung Tâm Nghiên Cứu - Thông tin về Hòa Bình và An Ninh - GRIPS, tại Bruxelles, Bỉ, chỉ riêng những nhượng bộ từ phía Washington về khía cạnh kinh tế cũng đủ thấy Mỹ đã thất bại trong mục tiêu bóp nghẹt kinh tế Iran :
« Thất bại của Mỹ bởi khi cùng Israel lao vào cuộc chiến chống Iran, một trong những mục đích là lật đổ chế độ tại Teheran, hoặc ít nhất là buộc Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo phải nhượng bộ về hạt nhân cũng như trên các vấn đề khác. Mục tiêu thực sự là đẩy kinh tế và chính quyền Iran vào thế khó khăn, buộc Teheran phải đầu hàng trong các cuộc đàm phán. Nhưng kịch bản đó đã không xảy ra.
Đồng thời đây cũng không phải là một thắng lợi hoàn toàn của Iran, bởi vì bên trong nước Iran vẫn còn rất nhiều thách thức mà chế độ hiện nay phải đối mặt và giải quyết triệt để. Đặc biệt là vấn đề kinh tế : lạm phát đạt mức kỷ lục, kèm theo đó là những mong đợi rất lớn của người dân, là sự chia rẽ trong hàng ngũ giới cầm quyền về những hướng đi tiếp theo cho Iran, về cách thức tiến hành đàm phán với Mỹ … »
Trong bài nghiên cứu năm 2015, chuyên gia về Iran, Thierry Coville nhắc lại, hiếm một quốc gia nào trên thế giới bị« trừng phạt nhiều như Iran » : trừng phạt của Mỹ rồi của Liên Hiệp Quốc và Liên Hiệp Châu Âu, một cách gần như liên tục từ gần một nửa thế kỷ. Do vậy theo điều tra của hãng tin Anh Reuters, dỡ bỏ cấm vận kinh tế Iran đòi hỏi nhiều thời gian, mà trước hết là về mặt pháp lý.
Sự mập mờ về eo biển Hormuz
Một điểm đáng chú ý khác được nhà báo Nicolas Falez đài phát thanh quốc tế Pháp RFI lưu ý : Bốn trong số 14 điểm của bản thỏa thuận khung mà Iran và Mỹ đã nhất trí thông qua và được tổng thống hai nước phê chuẩn hôm 17/06/2026 liên quan đến những vấn đề kinh tế mang tính sống còn với chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo. Bốn điểm then chốt đó bao gồm :
« Một là việc thu phí nhắm vào các tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz và cách thức triển khai cơ chế này trong thực tế. Thứ hai là kế hoạch tái thiết Iran thông qua quỹ trị giá 300 tỷ đô la. Quỹ này đặt ra nhiều câu hỏi : ai sẽ đóng góp, dưới hình thức nào và nhất là những quốc gia trong vùng Vịnh kỳ vọng gì ở Mỹ sau khi đã bị nhiều thiệt hại sau những tuần lễ chiến tranh vừa qua ? Điểm thứ ba liên quan đến tài sản ở hải ngoại của Iran bị phong tỏa. Truyền thông thường đưa ra con số 100 tỷ đô la nhưng vẫn còn quá nhiều điểm chưa rõ ràng về số tiền bị phong tỏa nói trên. Điều cuối cùng - tuy có vẻ đơn giản nhất nhưng sẽ sớm phải cọ sát với thực tế - liên quan đến những hoạt động xuất khẩu dầu của Iran. Dầu hỏa vốn là nguồn thu nhập chính của quốc gia này ».
Aurélien Devernoix phóng viên đài RFI giải thích thêm về tham vọng của Iran kiểm soát eo biển Hormuz mà Teheran trình bày như những phí tổn để đổi lấy một số « dịch vụ » :
« Mỹ và Iran đưa ra những tuyên bố hoàn toàn trái ngược nhau. Teheran thông báo sẽ thu phí quá cảnh khi tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz. Trái lại Washington lại bảo là không. Ngay cả trong bản thỏa thuận ghi nhớ 14 điểm cũng đã có một sự mập mờ về điều khoản thu phí ở eo biển Hormuz : Tài liệu chỉ đơn giản bảo đàm rằng trong thời gian 60 ngày đàm phán, Iran sẽ cho phép tàu bè đi qua miễn phí. Không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau thời gian đàm phán 60 ngày đó. Trên thực tế, có thể là Teheran sẽ thu phí dưới hình thức "phí dịch vụ" để bảo đảm an toàn hàng hải, bảo vệ môi trường, cung cấp hệ thống báo hiệu dẫn đường hoặc hoạt động cứu hộ các tàu gặp nạn. Một dạng như mô hình Thổ Nhĩ Kỳ thu phí ở eo biển Bosphore từ gần 90 năm nay. Cũng có khả năng Iran, với lý do trực tiếp xuất phát từ hậu quả chiến tranh, sẽ thu phí để tài trợ các hoạt động rà phá thủy lôi và bảo đảm an toàn hàng hải tại eo biển Hormuz ».
Quỹ tái thiết Iran 300 tỷ đô la và tài sản Iran ở hải ngoại
Liên quan đến dự án lập quỹ đô la tái thiết Iran, mặc dù tổng thống Trump từng khẳng định là Teheran sẽ « không nhận được lấy 1 xu » nếu vẫn là một mối đe dọa cho an ninh Hoa Kỳ, an ninh khu vực ... nhưng giới quan sát đồng loạt cho rằng « mọi người cứ ngỡ Donald Trump giỏi đàm phán chẳng ngờ tổng thống Mỹ đã nhượng bộ Iran quá nhiều ».
Liên qua đến việc « giải ngân hơn 100 - thậm chí là 150 tỷ đô la tài sản của Iran ở hải ngoại đang bị phong tỏa », thỏa thuận khung đã dự trù « 12 tỷ đô la trong số này sẽ được giải ngân ngay lập tức ». Reuters ghi nhận chưa thấy Teheran cam kết gì nhiều, mà chỉ thấy viễn cảnh hàng tỷ, thậm chí là hàng chục tỷ có triển vọng được rót cho Iran. Trong một chương trình trên đài phát thanh France Inter tuần trước, giáo sư địa chính trị Frédéric Encel trường Khoa Học Chính Trị Paris, Sciences Po. nhấn mạnh đến những nước cờ khôn ngoan từ phía Iran, cho dù lãnh tụ tối cao Ali Khamenei đã bị sát hại ngay trong ngày đầu tiên Mỹ và Israel khai hỏa tấn công vào thủ đô Teheran.
Song như ghi nhận của Julien Marcilly, kinh tế trưởng tại cơ quan bảo hiểm ngoại thương Pháp COFACE, chiến tranh Iran sẽ để lại nhiều hậu quả lâu dài, đặc biệt là với hiện trạng của eo biển Hormuz và trên thị trường dầu hỏa :
« Trước khi xung đột xảy ra, hầu như không ai nghĩ rằng việc đóng cửa eo biển Hormuz hoặc việc áp dụng phí quá cảnh sẽ là điều có thể xảy ra để đáng phải lưu tâm. Nhưng giờ đây, tình hình đã hoàn toàn khác. Điều đó có nghĩa là các công ty bảo hiểm có thể sẽ duy trì mức phí bảo hiểm cao hơn trong một thời gian dài với các tập đoàn vận tải đường biển. Hơn nữa, từ giờ trở đi các doanh nghiệp nơm nớp đề phòng rủi ro thiếu hụt năng lượng nên sẽ phải có hẳn một chính sách tích trữ dầu. Nhu cầu tiêu thụ tăng lên và gây áp lực với thị trường năng lượng. Thêm vào đó là những cơ sở năng lượng, những nhà máy lọc dầu của các nước trong vùng Vịnh bị chiến tranh tàn phá … khả năng sản xuất sụt giảm … Trước tất cả những biến cố vừa rồi, thế giới sẽ phải tìm kiếm những tuyến đường vận chuyển và các nguồn cung cấp thay thế. Điều này đòi hỏi thời gian và những khoản đầu tư rất lớn. Cho nên trong tương lai, một khi khủng hoảng lắng xuống, khả năng giá dầu quay trở lại như trước khi xảy ra chiến tranh Iran là khá thấp ».
Tue, 23 Jun 2026 - 274 - Chống ung thư : Chiến lược của Trung Quốc để chiếm vị trí trung tâm trên bàn cờ quốc tế
Sau khi đã soán ngôi của Âu Mỹ trong lĩnh vực công nghiệp, rồi thách thức -thậm chí là qua mặt cả- Hoa Kỳ về công nghệ, Trung Quốc đang tiến gần đến vị trí số 1 thế giới về y khoa, đặc biệt là trong lĩnh vực chống ung thư. Những ca bị ung thư trong tương lai sẽ được điều trị nhờ thuốc « made in China », nhờ những dược chất được khám phá từ các phòng thí nghiệm Trung Quốc. Thành tích đó do đâu mà có ?
Viễn cảnh Bắc Kinh sử dụng những dược chất, thuốc hay phương pháp điều trị ung thư như một công cụ ngoại giao và địa chính trị không còn xa vời.
Nghiên cứu và thử nghiệm thuốc mới : « Cỗ máy » lợi hại của Trung Quốc
Trung Quốc đã trở thành tâm điểm Hội nghị quốc tế ung thư học lớn nhất thế giới ASCO tổ chức Chicago (29/05-02/06/2026). Gần 1/3 các công trình khoa học được trình bày liên quan đến Trung Quốc ở những mức độ khác nhau. Bên cạnh sự hiện diện rất đông đảo của các nhà nghiên cứu, của các chuyên gia về ung thư Trung Quốc trong số khoảng 40.000 người tham dự, đáng chú ý nhất là lần đầu tiên, một trong số năm bài tham luận được giới thiệu trong phiên họp toàn thể hôm 31/05/2026 xuất sứ từ Trung Quốc. Đây là một vinh dự chỉ dành cho những công trình được coi là có giá trị, mang tính sáng tạo nhất và có triển vọng nhất.
Công trình đem đến Chicago lần này kết hợp liệu pháp miễn dịch với hóa trị được đánh giá là « một liệu pháp mới đầy triển vọng » do Akeso, một tập đoàn công nghệ sinh học Trung Quốc phát triển.
Nhật báo tài chính Mỹ, New York Times coi đây là bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy Trung Quốc đã « trở thành một thế lực hàng đầu thế giới trong cuộc đua phát triển thuốc mới » trị liệu ung thư : Từ vị trí « gần như đúng ngoài cuộc chơi » Trung Quốc đã nổi lên như một ngọn hải đăng trong một lĩnh vực mà cho đến nay vẫn được coi là thế mạnh của châu Âu và Hoa Kỳ.
Cột mốc 2024
Năm 2024 là một cột mốc quan trọng khi mà 40 % các cuộc thử nghiệm lâm sàng trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu chống ung thư, do các phòng thí nghiệm, các viện y khoa Trung Quốc thực hiện. Giáo sư Steven Le Gouille, chuyên về huyết học và giám đốc viện nghiên cứu ung thư Institut Curie-Paris trên nhật báo Libération nhắc lại 2024 lần đầu tiên Trung Quốc công bố hơn 37.000 bài nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn này, hơn hẳn Hoa Kỳ (chưa đầy 32.000 công trình), nhưng cho đến hiện tại, những bài viết đó ít được đăng trên những tạp chí y khoa danh giá nhất thế giới như Nature, Science hay The New England Journal of Medecine.
Gần đây hơn, các chuyên gia Trung Quốc đóng góp vào 8 trên tổng số 12 chương trình nghiên cứu được trình bày nhân hội nghị châu Âu tại Berlin mùa thu 2025 và hai trong số này tập trung vào những loại thuốc mới điều trị ung thư do các viện bào chế Trung Quốc sản xuất.
Tiền là chủ lực
Thành công này do đâu mà có ? Giáo sư y khoa Fabrice Barseli, giám đốc Gustave Roussy trung tâm điều trị ung thư lớn nhất châu Âu, ở ngoại ô Paris, trả lời đài phát thanh tư nhân Radio Classique nhấn mạnh đến tiềm lực tài chính khổng lồ của quốc gia châu Á này từ đầu thế kỷ 21 và nhất là trong thời gian gần đây :
« Năm 2020 Trung Quốc huy động 300 tỷ đô laa đầu tư vào khâu nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực chống ung thư. Chỉ 5 năm sau, số tiền này được đẩy lên đến 500 tỷ đô la. Thêm vào đó là chiến lược chiêu mộ các nhân tài, các chuyên gia Trung Quốc đã làm việc ở những tập đoàn dược phẩm lớn ở ngoại quốc, nghiên cứu và được đào tạo tại những trường y khoa danh tiếng nhất trở về Hoa lục : họ là những cột trụ giúp Trung Quốc phát triển ».
Tiền là yếu tố quan trọng nhất nhưng không chỉ có thế. Chính nhờ đội ngũ các chuyên gia được đào tạo ở Hoa Lục và nước ngoài, mà trong hơn 2 thâp niên, Trung Quốc đã nhanh chóng có khả năng sản xuất các loại thuốc thuộc thế hệ mới và có mức độ phức tạp cao. Không những thế Trung Quốc còn phát hiện những phương pháp điều trị mới, nghiên cứu ra những phân tử mới, những hoạt chất mới …
« Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép (...) ».
Chuyên gia Pháp Steve Le Gouill viện nghiên cứu Curie trên nhật báo Libération khẳng định : « Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép thành công những hoạt chất được nghiên cứu ở nước ngoài, mà nay không ngững cải tiến chính những hoạt chát đó để phát triển những loại thuốc thuộc thế hệ hoàn toàn mới, tức là đưa ra những phương pháp điều trị mới ». Trong lĩnh vực dược phẩm Trung Quốc đã « hoàn toàn làm chủ từ đầu đến cuối các khâu phát triển, từ nghiên cứu đến thử nghiệm và sản xuất. Ngành công nghiệp dược và sinh học của nước này được tổ chức một cách rất có bài bản và vận hành theo các tiêu chuẩn khoa học quốc tế » tương tự như những trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới.
Pháp tìm đối tác liên doanh
Giáo sư Barseli giám đốc viện ung thư Gustave Roussy xem việc phát triển hợp tác với các viện nghiên cứu Trung Quốc là một ưu tiên bởi vì các nhà khoa học và giới y khoa châu Á này đang nắm giữ những hoạt chất mà ông gọi là thuộc dòng « best in class hay thậm chí là first in class » tức là những dược chất đầu tiên có thể tấn công để khống chế những tế bào ung thư. Là viện trị liệu lớn nhất châu Âu, ưu tiên của Gustave Roussy hiện nay là thành lập một liên doanh với các nhà sản xuất Trung Quốc để tiếp cận « nhanh chóng nhất » những molécules cần thiết nhất trong khâu trị liệu. Giới trong ngành nhìn nhận hiện tại chữa ung thư phổi và điều trị ung thư tuyến tụy (pancréas) Trung Quốc đang « tiên phong ».
Một chiến dịch dài hơi
Thực ra để có thể đứng trên đỉnh cao như ngày hôm nay trong lĩnh vực y tế như thế nào Trung Quốc đã có một sự chuẩn bị dài hơi. Vào thập niên 1950 ngành y dược gần như trong lòng bàn tay của Âu, Mỹ : Hoa Kỳ dẫn đầu cuộc chơi với những tên tuổi lớn trong ngành như Pfizer, Merk hay Lilly. Anh Quôc thì có Glaxo Wellcome, Pháp thì nổi tiếng với hãng thốc Rhone Poulenc, Thụy Sĩ thì có nhà thuốc Roche …
Trung Quốc khởi đầu từ con số không và thậm chí là còn đi sau Ấn Độ một bước để tranh giành thị trường các hoạt chất chính chế biến thuốc. Mãi đến đầu những năm 2000 mọi người mới biết đến hơn một chục cơ sở sản xuất các hoạt chất chính để bào chế thuốc tại Hoa Lục như là ở Quảng Châu, Chiết Giang, Thanh Đảo hay Giang Tây … nhưng chỉ đến năm 2020 Trung Quốc đã chiếm một vị trí then chốt : Cung cấp 71 % các hoạt chất chính cho thế giới để chế tạo thuốc kháng sinh, chiếm từ 60 đến 70 % để cung cấp cho các viện bào chế thuốc giảm đau paracetamol và từ 70 đến 80 % các loại penicilline đều phải dùng dược chất « made in China ».
Thành công chói lọi đó của các viện bào chế, các nhà thuốc Trung Quốc có được một phần lớn cũng nhờ được Nhà nước hậu thuẫn. Theo thống kê của Liên đoàn các hãng dược phẩm châu Âu EFPIA đầu tư của Trung Quốc trong lĩnh vực này đã có một bước « đại nhảy vọt », đang từ 1,7 tỷ đô la năm 2000 lên thành gần 15 tỷ 25 năm sau đó. Steven Le Gouille, Institut Curie Paris giải thích : Ai thì cũng phải đi qua vòng « sinh - lão - bệnh - tử » cho nên đầu tư vào y tế khó có thể lỗ vốn nhất là khi Trung Quốc có đến 1,4 tỷ dân. Trong 5 năm, 2016-2021, trị giá chứng khoán của các tập đoàn dược phẩm tiên tiến Trung Quốc đã nhảy vọt từ 3 tỷ đô la lên tới 380 tỷ.
Khó khăn trên con đường chinh phụ thị trường quốc tế
Dù vậy trên con đường « quốc tế hóa » thuốc của Trung Quốc vẫn còn đang gặp nhiều trở ngại. Đứng đầu trong số này là những chuẩn mực khắt khe để thâm nhập vào các thị trường Âu, Mỹ, dù vậy theo đánh giá của giám đốc viện nghiên cứu Curie-Paris ông Le Gouill, Trung Quốc đang từng bước bẻ gấy những rào cản sau cùng này.
« Có một số trở ngại cho việc Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu thuốc ra thị trường quốc tế : trong lĩnh vực dược phẩm, các chuẩn mực của Âu Mỹ rất khắt khe, thế nhưng Trung Quốc đã học hỏi cách thâm nhập được các thị trường này. Các tập đoàn dược phẩm, các viện bào chế Trung Quốc đã nắm bắt được luật chơi, để rồi các tập đoàn quốc tế phải mua lại bản quyền của Trung Quốc để được phép sản xuất và phân phối các dược chất trên thị trường quốc tế. Nếu chúng ta đi ngược dòng chuỗi cung ứng, thì sẽ thấy là các hãng dược phẩm của Trung Quốc dựa rất nhiều vào các viện nghiên cứu, các trường đại học y khoa để phát minh ra những dược chất mới đòi hỏi trình độ kỹ thuật rất cao ».
Thị trường thuốc của thế giới đến nay vẫn trong tay một vài « ông lớn -major » Hoa Kỳ : hơn 50 % lượng thuốc đủ loại lưu hành là do các hãng dược phẩm của Mỹ cung cấp, Trung Quốc bất chấp những đòn bảy khổng lồ nói trên, cũng mới chỉ giành được có 7 %. Để so sánh thị phần của Pháp và Đức là 3 và 4 %. Trong hoàn cảnh đó giới trong ngành cho rằng : các ngành y, dược trong tương lai sẽ trở thành một mặt trận mới trong cuộc đọ sức giữa Bắc Kinh và Washington; Trung Quốc với thế thượng phong trong nhiều lĩnh vực rồi đây cũng sẽ biến những dược chất và hoạt chất chính thành những công cụ ngoại giao và địa chính trị như đã từng hành xử với kim loại hiếm. Thuần túy về y học và trong lĩnh vực chống ung thư, chủ tịch hiệp hội Unicancer, Jean-Yves Blay được báo Le Figaro trích dẫn cho rằng Trung Quốc đã trong tư thế sẵn sàng để dẫn đầu thế giới về phương pháp trị liêu.
Một lần nữa, điểm mạnh cho phép Trung Quốc đè bẹp các đối thủ vẫn là « hàng rẻ » nhưng lần này thì thuốc made in China không chỉ là những loại thuốc « cơ bản mà đó là một sự phối hợp tinh tế và nhịp nhàng giữa các khâu nghiên cứu, sản xuất và cung cấp để cho ra đời không chỉ có thuốc mà còn cả những phương pháp trị liệu xuất sắc nhất mà ngay cả các tập đoàn của Mỹ và châu Âu cũng khó mà đuổi kịp ».
Tue, 16 Jun 2026 - 273 - Pháp đón nhận các dự án xây dựng Data Center : Phúc hay họa ?
SpaceX, Amazone, Nvidia của Mỹ, Softbank của Nhật, Brookfield của Canada, hay MGX của Các Tiểu Vương Quốc Ả Râp Thống Nhất.. đầu tư hàng chục tỷ đô la vào Pháp để xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu data center. Đâu là những lợi thế của Pháp trong mắt các nhà đầu tư công nghệ ? Phúc hay họa khi trở thành « sân sau » của những nhà cung cấp dịch vụ trong thời đại digital ? 80 % các dịch vụ tin học tại châu Âu đều phụ thuộc vào các nhà cung cấp ở Mỹ : Các data center cho phép Paris tự chủ về công nghệ kỹ thuật số với Hoa Kỳ ?
Tại hội nghị kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Pháp Choose France hôm 01/06/2026, Pháp đã nhận được hơn 90 tỷ euro : Phần lớn trong số hơn 70 dự án tập trung vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và công nghiệp số. Bất chấp rất nhiều khó khăn về địa chính trị hiện tại, trong 7 năm liên tiếp, Pháp vẫn là địa điểm đầu tư hấp dẫn tại châu Âu trong mắt các nhà đầu tư quốc tế, theo thăm dò của cơ quan tư vấn EY.
Trước ngày khai mạc hội nghị tập đoàn Nhật Bản Softbank đã thông báo đầu tư 45 tỷ euro tại Pháp từ nay đến năm 2031 để xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu data center. Nhìn xa hơn nữa Softbank cam kết đầu tư đến 75 tỷ tại Pháp để « xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công nghệ AI ».
Sáng lập viên tập đoàn Nhật Bản này, Masayoshi Son kể lại ông đã gặp tổng thống Macron tại Tokyo hai tháng trước đây. Khi đó nguyên thủ Pháp đã hỏi nhà đầu tư này liệu có thể nhanh chóng thông báo một chương trình đầu tư vào Pháp hay không và ông câu trả lời của chủ nhân Softbank là có.
Masayoshi Son giải thích với báo chí Paris là đã quyết định đầu tư 75 tỷ euro để phát triển trí tuệ nhân tạo bởi nhân loại đang « bước vào thời đại của AI. Những quốc gia có cơ sở hạ tầng cần thiết cho lĩnh vực còn rất mới mẻ này sẽ nắm giữ một vai trò then chốt trong tương lai cả về công nghiệp lẫn công nghệ và đối với nhân loại ».
352 data center sử dụng 3,2 % tiêu thụ điện trên toàn quốc
Tổng thống Macron từ khi lên cầm quyền năm 2017 luôn xem thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một ưu tiên. Ông đã chín lần chủ trì hội nghị Choose France tại lâu đài Versailles, ngoại ô Paris, với những khách mời sáng giá nhất trong giới tài chính, công nghiệp của Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu và trước chiến tranh Ukraina cũng đã có không ít các doanh nhân Nga tham dự.
Riêng năm nay, trí tuệ nhân tạo, data center, công nghệ digital … đặc biệt được quan tâm. Tháng 2/2025 với hội nghị « hành động vì AI » Emmanuel Macron đã nuôi tham vọng, với 67 triệu dân, Pháp cũng có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong thời đại công nghệ số, và là một « trung tâm quốc tế » về AI.
Sức hút các data center của Pháp
Hiện tại Pháp đã có 350 data center và mục tiêu xây dựng thêm 60 trung tâm khác nữa trên toàn quốc trong 10 năm nữa. Đó sẽ là những trung tâm có công suất ngày càng lớn cho phép Paris giải quyết cùng lúc hai vấn đề : giảm mức độ phụ thuộc vào các cơ sở hạ tầng công nghệ số của Hoa Kỳ, và đẩy mạnh các hoạt động kinh tế của Pháp. Trên con đường chinh phục các nhà đầu tư trong lĩnh vực digital, Pháp có nhiều lợi thế, mà đầu tiên hết là khả năng sản xuất điện, như giải thích của François Monnier, tổng biên tập tuần báo tài chính Investir :
« Điện khí hóa là một điểm mạnh của châu Âu mà đứng đầu bảng là Pháp. Hơn nữa đây là một lĩnh vực đang phát triển rất mạnh. Để đáp ứng nhu cầu của các trung tâm quản lý dữ liệu data center thì Pháp có nhiều tập đoàn lớn rất có uy tín như là như Schneider Electric chuyên cung cấp các dịch vụ, tìm kiếm những giải pháp năng lượng đáp ứng nhu cầu cho các tập đoàn trong lĩnh vực công nghệ số … hay là Legrand chuyên cung cấp các thiết bị điện hay tập đoàn năng lượng. Lĩnh vực trí tuệ nhân tạo chiếm 25 % doanh thu của Legrand. Còn Axens hiện diện trong nhiều lĩnh vực từ lọc dầu, hóa dầu xử lý năng lượng tái tạo, xử lý nước ».
Antoine Fournier, chủ tịch cơ quan tư vấn Thésée DataCenter ghi nhận : Các khoản đầu tư lẽ ra đổ về những quốc gia khác ở châu Âu, như Đức hay Hà Lan đang chuyển hướng về Pháp, bởi Pháp có một vị trí địa lý « trung tâm ».
Điện hạt nhân
Theo lời Régis Casstané tổng giám đốc chi nhánh tại Pháp của tập đoàn Equinix (nhà cung cấp thiết bị cho các data center lớn nhất thế giới), từ 2022 giá năng lượng của Pháp rẻ hơn so với một số quốc gia khác (như là Đức phải phụ thuộc vào khí đốt của Nga), Pháp lại có các nhà máy điện hạt nhân, lá chủ bài của Pháp trong mắt các nhà đầu tư AI và data center.
Bởi vì trung tâm xử lý dữ liệu là một « nguồn tiêu thụ năng lượng vô cùng lớn », cần có nhiều điện để vận hành. …
Theo thẩm định của cơ quan quốc gia Pháp về năng lượng và môi trường ADEM, tiêu thụ điện của 350 data center sẽ tương đương với mức tiêu thụ của « hơn một chục thành phố với trên 100 ngàn dân » và đó là những « cực hút đến 3 % nguồn điện trên toàn quốc ». Đáng quan ngại hơn nữa là các trung tâm data đó ngày càng lớn « ngày càng cần nhiều năng lượng để hoạt động, do vậy trong hơn 10 năm nữa, nhu cầu về điện dành riêng cho các trung tâm này sẽ tăng lên gấp 4 lần so với hiện nay ».
Năm 2025, điều trần trước một ủy ban tại Hạ Viện, Eric Schmidt cựu chủ tịch tổng giám đốc Google từng kêu gọi các dân biểu Mỹ đầu tư vào cơ sở hạ tầng điện lực :
« Chúng ta cần nhất hiện nay là điện và nhu cầu rất, rất lớn. Nếu quý vị cho phép nói thẳng, thì tôi xin thưa rằng, chúng tôi mong đợi Hạ Viện phát triển điện lực, bất kỳ dưới hình thức nào, đó có thể là năng lượng tái tạo, là nhiệt điện. Miễn làm sao chúng ta có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ và phải nhanh chóng đạt được mục đích này »
Điều đó cho thấy vì sao mà các « ông lớn » trong thế giới công nghệ của Mỹ đua nhau chạy sang Pháp đầu tư. Gilles Babinet, tác giả cuốn « Green AI » NXB Odile Jacob nói đến một lá chủ bài của Pháp mà cả Mỹ lẫn Trung Quốc hai siêu cường kinh tế thế giới và cũng là những bên tiên phong trong lĩnh vực công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đều không có được :
« Không một quốc gia nào trên thế giới có 15 giga Watt mà đấy lại là điện phi carbone. Mỹ không có khả năng này, Trung Quốc cũng không. Cho nên tất cả các nhà đầu tư trên thế giới cùng nhòm ngó khối lượng điện này của Pháp ».
Gauthier Roussilhe, chuyên gia về môi trường digital điều hành công ty tư vấn Hubblo, Paris, do vậy cảnh báo trước nguy cơ các ông vua công nghệ kỹ thuật số và AI trên thế giới đang muốn biến Pháp thành « sân sau » của riêng mình :
« Tất cả những thông cáo rầm rộ về các chương trình đầu tư rất lớn về công nghệ số tại Pháp, trước hết là nhằm bảo đảm rằng, hiện tại và trong tương lai, các tập đoàn này có thể tận dụng tiềm lực về điện lực của nước Pháp (…) Những trung tâm xử lý dữ liệu càng lớn bao nhiêu, thì càng cho thấy trong lượng khổng lồ của các doanh nghiệp Mỹ. Softbank thực ra đã bỏ vốn đầu tư và hiện diện trong rất nhiều các tập đoàn công nghệ cao và nhất là trong các tập đoàn của Mỹ. Hệ quả hiển nhiên kèm theo là khâu quản lý các data center sau này sẽ thuộc về phía Hoa Kỳ ».
Điều này dường như đã được cả sáng lập viên lẫn giám đốc tài chính tập đoàn Softbank nhìn nhận. Ông Masayoshi Son nói rõ :
« Softbank bảo đảm khâu tài chính cho các dự án. Khách hàng của chúng tôi là những hyperscalers, tức là những ông không lồ trong lĩnh vực công nghệ đám mây, như là Amazon, Microsoft hay Google ».
Về phần Nahoko Hoshino, giám đốc tài chính Softbank, bà chỉ hờ hững khi nhắc đến các đối tác châu Âu trong lúc đã tiến hành đàm phán với những khách hàng nặng ký là Amazon, Microsoft hay Google, Open AI.
Về câu hỏi, đánh cược vào những data center có cho phép nước Pháp vực dậy kinh tế và mang lại công việc làm cho người dân hay không, giới trong ngành đồng loạt trả lời là không. Một quan chức tại thành phố La Courneuve so sánh : Với một diện tích tương đương, mở một nhà máy công nghiệp chế tạo trực thăng Eurocopter, cho phép tạo thêm 700 công việc làm, nhưng với một trung tâm xử lý dữ liệu thì chỉ cần tuyển dụng 36 nhân viên.
Tue, 09 Jun 2026 - 272 - Khủng hoảng tại eo biển Hormuz đe dọa ngành công nghiệp bán dẫn của Đài Loan
Vị thế « kinh đô » công nghiệp bán dẫn thế giới của Đài Loan được củng cố thêm khi lãnh đạo tập đoàn Nvidia tại Đài Bắc hôm 01/06/2026 thông báo « mở ra một kỷ nguyên mới » trong lĩnh vực máy tính cá nhân, chen chân vào câu lạc bộ rất khép kín của các nhà sản xuất các bộ vi xử lý trong tay Intel và AMD. Chiến tranh Iran và khủng hoảng ở eo biển Hormuz đe dọa cột trụ vững chắc nhất của nền kinh tế Đài Loan là công nghiệp bán dẫn ?
Giải pháp nào cho hòn đảo phải nhập khẩu đến 97 % năng lượng để bảo đảm nhu cầu tiêu thụ cho 24 triệu dân và cỗ máy công nghiệp ? Các nhà sản xuất chip tiên tiến nhất của Đài Loan sẽ bị tác động đến mức độ nào từ cuộc khủng hoảng Trung Đông lần này do phụ thuộc đến 80 % khí heli của Vùng Vịnh ? Về an ninh năng lượng, an ninh công nghiệp, Đài Bắc có thể rút ra được những bài học nào trong trường hợp eo biển Đài Loan bị phong tỏa trong một cuộc xung đột quân sự với Bắc Kinh ?
RFI tiếng Việt mời nhà nghiên cứu Adrien Simorre, cộng tác viên Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI trả lời các câu hỏi trên. Là một nhà báo và một nhà phân tích độc lập làm việc lâu năm tại Đài Bắc, Adrien Simorre nguyên là thông tín viên thường trực của đài RFI và của báo Libération.
Từ đầu tháng 3/2026 eo biển Hormuz bị phong tỏa. Giao thương quốc tế xuyên qua một trong những cửa ngõ quan trọng nhất bị tê liệt. Dầu hỏa, khí đốt, khí hóa lỏng, phân bón, hóa chất, nhôm, lưu huỳnh, ammoniac … trở nên khan hiếm.
Eo biển Hormuz, Đài Loan trong tâm bão
Khác với chiến tranh Ukraina mà Nga khai mào năm 2022, lần này xung đột tại Trung Đông từ ngày 28/02/2026 đã đẩy châu Á vào một cuộc khủng hoảng năng lượng : 40 % nhập khẩu dầu và hơn 25 % khí hóa lỏng tiêu thụ tại châu Á phải đi qua eo biển Hormuz. Đài Loan là 1 trong 9 nền kinh tế thế giới phụ thuộc nhiều nhất vào khí hóa lỏng của Trung Đông cho nên cuộc xung đột này đang thử thách sức chịu đựng của mô hình công nghiệp và chính sách năng lượng trên hòn đảo với 24 triệu dân này.
Về năng lượng, Đài Loan có nhiều nhược điểm : Thứ nhất, là một hòn đảo, Đài Loan không thể phát triển các hệ thống đường ống dẫn dầu hay khí đốt dưới lòng biển, trên bộ như của Trung Quốc hay châu Âu. Thứ hai là khác với Bắc Kinh, Đài Bắc không phát triển quan hệ với các nguồn cung cấp từ phía các quốc gia « bất hảo » bị quốc tế tẩy chay (Iran, Venezuela và Nga). Điểm thứ ba khả năng dự trữ năng lượng của hòn đảo này tuy có – và đủ sức bảo đảm các nhu cầu tiêu thụ trong « nhiều tháng », nhưng lại đặc biệt hạn chế đối với khí hóa lỏng như Adrien Simore đã ghi nhận trong bài nghiên cứu đăng trên trang mạng của Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI.
Trả lời RFI tiếng Việt, tác giả bài nghiên cứu, Adrien Simorre nói rõ hơn :
« Hệ thống điện của Đài Loan phụ thuộc rất nhiều vào năng lượng từ Trung Đông vì gần một nửa lượng điện của hòn đảo được sản xuất từ khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Trong số lượng LNG đó, hơn một phần ba là mua của Qatar. Ngoài Qatar, thì Úc (33,5 %) và Mỹ (9,9 %) là hai nguồn cung cấp quan trọng khác cho Đài Loan. Vấn đề đặt ra là khả năng dự trữ LNG của Đài Loan chỉ có hạn, tương đương với tiêu thụ trong 10 ngày. Cho nên bất kỳ sự gián đoạn nào trong nguồn cung cũng có thể nhanh chóng làm cạn kiệt lượng dự trữ. Eo biển Hormuz bị phong tỏa, là một thách thức thực sự đối với Đài Loan (...)
Đây thực sự là một vấn đề rất nghiêm trọng, nhất là khi nhiều quốc gia khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốccũng phụ thuộc vào khí đốt nhập khẩu để sản xuất điện. Tuy nhiên, từ lâu nay các chính quyền liên tiếp ở Đài Bắc đã ý thức được rằng đây là một điểm yếu. Đài Loan là trung tâm hàng đầu thế giới về sản xuất chất bán dẫn tiên tiến, đây cũng là một lĩnh vực mang tính sống còn đối với kinh tế toàn cầu, đặc biệt là về trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó còn có áp lực từ Trung Quốc : Bắc Kinh luôn tuyên bố chủ quyền đối với Đài Loan. Điều này làm dấy lên câu hỏi về khả năng duy trì nguồn cung ổn định cho Đài Loan trong trường hợp bản thân Đài Loan bị phong tỏa ».
Hy sinh nhiều đề giữ « lá bùa hộ mệnh »
Tháng 6/2024 Đài Loan đã ký kết với tập đoàn năng lượng QatarEnergy một hợp đồng bảo đảm các nguồn cung cấp dài hạn trong vòng 27 năm. Chuyên gia Adrien Simorre lưu ý rằng Đài Loan chấp nhận chi ra rất nhiều tiền để bảo đảm nhu cầu năng lượng mà ưu tiên là để phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn, vốn là « lá bùa hộ mệnh » của hòn đảo này trước những tham vọng về địa chính trị của Bắc Kinh.
Tuy nhiên, năng lượng - dầu hỏa, khí hóa lỏng ... chỉ là một khía cạnh của cả một vấn đề để cho phép Đài Loan tiếp tục phát triển và giữ vững vị thế trên bàn cờ chip của thế giới. Adrien Simorre phân tích:
« Nhiều người nghĩ rằng ngành bán dẫn chỉ đơn giản là những nhà máy công nghệ cao với các cỗ máy vận hành gần như tự động. Nhưng cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy công nghệ bán dẫn phụ thuộc rất nhiều vào các nguyên liệu đầu vào nhập khẩu mà khí tự nhiên hóa lỏng là một ví dụ. Một thí dụ khác là khí heli. Đây là sản phẩm phụ của quá trình khai thác khí tự nhiên và được sử dụng trong nhiều công đoạn sản xuất chip. Về điểm này, Đài Loan cũng phụ thuộc rất lớn vào Qatar.
Trong những năm gần đây, Qatar chiếm khoảng khoảng 80% lượng heli nhập khẩu vào Đài Loan. Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại : một ông khổng lồ trong ngành như TSMC đương nhiên tập đoàn này đã có những sự chuẩn bị từ trước : TSMC đã xây dựng kho dự trữ và phát triển các hệ thống tái chế heli rất tiên tiến. Nhưng các doanh nghiệp Đài Loan không phải ai cũng có những bước chuẩn bị như TSMC. Số này có thể phải đối mặt với chi phí sản xuất tăng cao hoặc tình trạng chậm trễ trong sản xuất.
Song nếu cuộc khủng hoảng Trung Đông kéo dài nhiều tháng, điều là hiện vẫn còn quá sớm để dám khẳng định, sẽ tạo ra căng thẳng đối với một số nhà sản xuất chip có biên lợi nhuận thấp hơn, những hãng sản xuất các bộ xử lý phổ thông hơn. Hai bài học trước mắt từ căng thẳng ở eo biển Hormuz là mức độ phụ thuộc rất lớn của trí tuệ nhân tạo vào chip của Đài Loan và hai là bản thân cỗ máy sản xuất của hòn đảo này lại rất dễ đứt gẫy chuỗi cung ứng …».
Ba ngõ thoát hiểm
Vậy giải pháp nào cho Đài Loan để thoát khỏi thế bế tắc hiện nay ? Adrien Simorre đưa gia ba phương án :
« Giải pháp đầu tiên đối với Đài Loan là đa dạng hóa nguồn cung cấp để bớt phụ thuộc vào Trung Đông. Mỹ và Úc có thể là những giải pháp thay thế.
Khả năng thứ hai là quay lại với điện hạt nhân – và đây sẽ là một quyết định lớn về mặt chính trị, bởi vì sau tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima năm 2011, Đài Bắc từng quyết định từ bỏ điện hạt nhân. Là một khu vực nằm trên vành đai địa chấn, Đài Loan cũng có những lo ngại tương tự như Nhật Bản. Mục tiêu của Đài Loan khi đó là thay thế điện hạt nhân bằng khí tự nhiên và năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, quá trình phát triển năng lượng tái tạo diễn ra chậm hơn dự kiến.
Khi lên nắm quyền cách đây hai năm, tổng thống Lại Thanh Đức đã bắt đầu đề cập đến khả năng khôi phục điện hạt nhân. Khủng hoảng ở Trung Đông hiện nay châm thêm củi lửa cho ông Lại Thanh Đức để phát triển điện hạt nhân.
Giải pháp thứ ba là tăng cường dự trữ chiến lược : Đài Loan vốn đã triển khai kế hoạch mở rộng năng lực tích trữ LNG, một phần nhằm nâng cao khả năng đối mặt với nguy cơ xung đột hoặc sức ép từ Trung Quốc.
Theo tôi, cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ khiến Đài Loan gắn liền khái niệm 'an ninh năng lượng' với 'an ninh công nghiệp'. Đây sẽ là một trong những cột trụ trong chiến lược phát triển và an ninh của hòn đảo này. Cụ thể hơn, điều đó cũng có nghĩa là Đài Loan không chỉ chú trọng đến các khoản chỉ dự trữ năng lượng mà còn phải xây dựng những kho dự trữ các nguyên liệu đầu vào chiến lược như heli và nhiều vật tư công nghiệp khác cần thiết cho sản xuất chip.
Về mặt địa chính trị, tất cả những điều này đều rất quan trọng. Đối với Đài Loan, vốn đang bị cô lập về mặt ngoại giao, mục tiêu là chứng minh cho thế giới thấy tầm quan trọng của hòn đảo này. Chỉ một hòn đảo nhỏ với 24 triệu dân có thể chi phối kinh tế toàn cầu, nhờ công nghệ bán dẫn trong thời đại phát triển trí tuệ nhân tạo. Cũng chính do vị thế quá mạnh của Đài Loan trong lĩnh vực chiến lược này mà tổng thống Mỹ Donald Trump những tháng gần đây, đã tỏ ra không hài lòng : không hài lòng thấy siêu cường kinh tế số 1 thế giới phải lệ thuộc vào bọ điện tử và các bộ vi xử lý của Đài Loan ».
Tổng thống Lại Thanh Đức đang kỳ vọng khởi động lại hai nhà máy điện hạt nhân trước ngưỡng 2029. Ông là người của đảng Dân Tiến mà đảng này từ trước tới nay có lập trường chống sử dụng điện hạt nhân.
Về vấn đề đa dạng hóa các nguồn cung cấp, Đài Loan trông cậy mở rộng hợp tác với Mỹ và Úc. Hoa Kỳ đang là nguồn cung cấp khoảng 10 % LNG cho Đài Loan nhưng hòn đảo này kỳ vọng nâng tỷ lệ này lên tới 25 % vào ngưỡng 2029-2030. Có điều khí đốt của Mỹ đắt hơn so với của Qatar.
Trung Quốc tự nhận là một giải pháp cho Đài Loan
Cùng lúc, phía bên kia eo biển Đài Loan, Bắc Kinh ý thức được những khó khăn của Đài Bắc để tự chủ về năng lượng. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc từng hứa hẹn : Sau khi thống nhất một cách hòa bình Đài Loan, Hoa lục « hoàn toàn có thể bù đắp cho hòn đảo này những thiếu hụt về điện lực, về khí tự nhiên, hay dầu thô ». Trung Quốc cũng có thể là một « nguồn bảo đảm đáng tin cậy » đối với an ninh năng lượng cho hòn đảo này.
Eo biển Hormuz bị phong tỏa và xung đột ở Trung Đông đương nhiên là một thách thức đối với ngành công nghiệp bán dẫn Đài Loan, với khả năng thích ứng của hòn đảo này trước một môi trường bất ổn hơn.
Đây đồng thời là một cơ hội để Đài Bắc rà soát lại những biện pháp cho phép đối phó trong trường hợp eo biển Đài Loan bị phong tỏa hay hòn đảo này bị bao vây trước những tham vọng của Trung Quốc muốn đưa hòn đảo « nổi loạn (này) trở về với đất mẹ ».
Tue, 02 Jun 2026 - 271 - Trong cuộc đọ sức với Hoa Kỳ, Cuba vẫn có thể trông cậy vào Nga và Trung Quốc
Ngoại trưởng Mỹ hôm 20/05/2026 tuyên bố Washington « quyết tâm » áp đặt một sự thay đổi cho Cuba ». Marco Rubio ngụ ý nói đến một sự thay đổi chế độ ở La Habana ? Chính quyền Trump siết chặt gọng kềm, bóp ngạt kinh tế Cuba. Bên cạnh yếu tố lịch sử lâu đời, gắn liền Washington với La Habana, Nhà Trắng có nhiều lý do để quan tâm đến Cuba.
Với kinh nghiệm hơn 65 năm gần như liên tục bị trừng phạt, không thể xem nhẹ sức kháng cự của La Habana và nhất là khi hòn đảo này được cả Trung Quốc lẫn Nga hậu thuẫn.
Ngay từ nhiệm kỳ đầu, (2016-2020), tổng thống Mỹ Donald Trump đã khép lại giai đoạn tan băng giữa Washington với La Habana mà người tiền nhiệm Barack Obama đã mở ra khi chính thức nối lại bang giao với Cuba ngày 17/12/2014.
Một năm sau khi trở lại Nhà Trắng, từ đầu 2026 bằng nhiều cách, ông Trump tiếp tục gia tăng sức ép với hòn đảo chỉ cách bang Florida, khoảng 150 km : Cắt các nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, đứng đầu là Venezuela và Mêhicô; huy động các công cụ pháp lý và quân sự để làm suy yếu chế độ liên tục cầm quyền tại hòn đảo này từ sau cuộc cách mạng năm 1959. Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Marco Rubio một người Mỹ gốc Cuba trong một thông điệp bằng tiếng Tây Ban Nha trực tiếp lên án chế độ ở La Habana « tham ô », « cướp bóc » và « đàn áp » nhân dân, đồng thời hứa hẹn tổng thống Trump đề xuất cho gần 12 triệu dân Cuba một « con đường mới ».
66 năm liên tục phong tỏa Cuba
Cách nay gần 12 năm, thông báo tái lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, chủ tịch Cuba khi đó là ông Raul Castro đã nhấn mạnh, « Điều đó không có nghĩa là đôi bên đã giải quyết được vấn đề cốt lõi » : Kinh tế Cuba vẫn bị phong tỏa.
Từ năm 1960 Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều lý do khác nhau để trừng phạt La Habana. Tổng thống Dwight D. Eisenhower của bên đảng Cộng Hòa viện cớ chế độ Fidel Castro tịch thu các tài sản của Hoa Kỳ tại Cuba, để hạn chế nhập khẩu đường từ hòn đảo này vào Mỹ. Hai năm sau đó, cáo buộc La Habana thân thiện với Liên Xô cộng sản, tổng thống phe Dân Chủ J.F Kennedy đã mở rộng các biện pháp trừng phạt và ban hành lệnh « cấm vận ». Cuba trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên vào thời điểm ¾ xuất khẩu của Cuba là để hướng tới thị trường Hoa Kỳ và 70 % nhập khẩu phụ thuộc vào đối tác thương mại Bắc Mỹ này.
Năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, mở ra viễn cảnh Mỹ bình thường hóa quan hệ với Cuba, thì Washington lại chủ trương gia tăng áp lực để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa tại quốc gia trong tay nhà cách mạng Fidel Castro.
1991-1994 là một thời kỳ « đen tối » đối với Cuba : GDP của nước này sụt giảm 35 %. Năm 1992 lấy cớ đòi Cuba tôn trọng nhân quyền, dưới thời tổng thống G.H Bush, Hạ Viện Mỹ thông qua đạo luật Torricelli mở rộng thêm nữa các biện pháp trừng phạt Cuba. Hai điểm đáng chú ý trong văn bản này. Thứ nhất là Washington cấm các hãng vận tải đường biển nước ngoài làm ăn với Mỹ giao thương với Cuba. Đây là tai họa đối với một quốc đảo như Cuba. Thứ hai là Hoa Kỳ trừng phạt mọi quốc gia « liên đới » với La Habana.
Năm 1996 sau vụ hai máy bay của một tổ chức người Cuba lưu vong xuất phát từ bang Florida bị Cuba bắn hạ - Raul Castro khi đó là bộ trưởng Quốc Phòng, tổng thống Bill Clinton bên đảng Dân Chủ còn mạnh tay hơn với La Habana khi đặt bút phê chuẩn đạo luật Helms-Burton.
Nhưng chính những đòn trừng phạt mạnh tay đó cũng đã đè nặng lên một phần các quyền lợi của Hoa Kỳ. Đầu những năm 2000 hiệp hội các nông gia Mỹ có nhu cầu xuất khẩu nhiều hơn sang Cuba. Chính quyền G.W Bush tỏ dấu hiệu nhượng bộ nhưng đó chỉ là một « bàn tay sắt trong vỏ bọc nhung ».
Một chuyên gia về Cuba được nguyệt san Le Monde Diplomatique năm 2015 trích dẫn ghi nhận « chính sách trừng phạt của Mỹ đã dẫn tới những hậu quả tai hại về phương diện y tế cho Cuba » : Gần 80 % các bằng sáng chế trong lĩnh vực này đều thuộc chủ quyền của các tập đoàn của Mỹ hay các chi nhánh của họ, cho nên người dân Cuba trong một nhiều thập niên hoàn toàn không được tiếp cận với bất kỳ một tiến bộ nào về mặt khoa học, y tế, thuốc men.
Phải đợi đến sự kiện tổng thống Mỹ Barack Obama bắt tay lãnh đạo Cuba Raul Castro nhân một buổi lễ tưởng niệm cố tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela cuối 2013, bang giao giữa Hoa Kỳ với một thuộc địa cũ là Cuba mới rẽ sang một khúc quanh mới. Hai cựu tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Bill Clinton khi đã rút lui khỏi chính trường, lên tiếng chống đối chính sách trừng phạt của Mỹ nhắm vào Cuba. Họ nhìn nhận Washington « hoàn toàn thất bại » trên phương diện này.
Tổng thống Trump ở nhiệm kỳ đầu đã chấm dứt chính sách tan băng của người tiền nhiệm Obama và còn mạnh tay hơn nữa từ đầu năm nay.
Trên đài truyền hình tư nhân BFM TV chuyên gia về châu Mỹ Latinh, Gaspard Estrada Viện Nghiên Cứu Paris Montaigne, khoa Global South trường London School of Economics phân tích việc chính quyền Trump đang bóp ngạt kinh tế Cuba :
« Chính quyền Trump đang làm tất cả để cắt đứt mọi nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, từ Venezuela đến Mêhicô. Hậu quả kèm theo rất tai hại đối với người dân Cuba : họ bị mất điện triền miên, không có xăng dầu để di chuyển. Cuba càng lúc càng bị cô lập với thế giới bên ngoài. Washington bóp ngạt kinh tế Cuba để bắt buộc hòn đảo này phải thay đổi chế độ, nhưng dường như chính quyền Trump quên mất rằng, khủng hoảng kinh tế tại hòn đảo này sẽ đẩy người dân Cuba ra biển, tìm đường định cư tại Hoa Kỳ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách nhập cư của Mỹ, đặc biệt là trước bầu cử giữa kỳ.
(...) Mục tiêu của tổng thống Trump rất rõ ràng : Đó là làm suy yếu Cuba bằng mọi cách, kể cả việc cắt đứt các nguồn ngoại tệ mà La Habana đang cần để tài trợ cho các dự án khác. Ngay từ nhiệm kỳ đầu, Donald Trump đã chận đầu tư ngoại quốc vào Cuba, đánh vào ngành du lịch của hòn đảo này. Và từ đầu năm nay Washington liên tục ban hành thêm các biện pháp trừng phạt. Như thông lệ Cuba vẫn hô hào phải vùng lên chống đế quốc Mỹ, nhưng lần này, La Habana chủ động đàm phán với Hoa Kỳ. Đây là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy chế độ đang bị suy yếu. Dù vậy chúng ta không biết đôi bên đang thương lượng về những gì và Mỹ đàm phán với ai ».
Yếu tố Nga và Trung Quốc
Nhưng lật đổ chế độ Cộng Sản Cuba hay đem lại một sự thay đổi thật sự cho quốc đảo này không là nhiệm vụ dễ hoàn thành. Theo nhà nghiên cứu Jérome Leleu thuộc Trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội EHESS -Paris, bất chấp những căng thẳng và các biện pháp phong tỏa càng lúc càng cứng rắn mà Mỹ kiên trì áp đặt, liên hệ giữa Washington với La Habana từ năm 1960 đến nay chưa bao giờ « đứt quãng ». Cuba luôn đòi hỏi hai điều : Chấm dứt trừng phạt và trả lại căn cứ quân sự Guantanamo được đặt dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ từ khi Cuba giành được độc lập năm 1902.
Về phía Washington, dưới danh nghĩa Nhà Trắng dù trong tay đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa cũng đều đòi La Habana trả lại tài sản cho các doanh nghiệp và tư nhân Mỹ đã bị chế độ Castro tịch thu từ sau cuộc Cách Mạng năm 1959.
Vậy thì tổng thống Donald Trump với những áp lực trên nhiều phương diện nhắm vào Cuba từ đầu 2026 liệu có đạt được các mục tiêu mong muốn hay không ?
Theo giới phân tích, câu trả lời là không vì Cuba dù mất đi nguồn cung cấp dầu hỏa quan trọng là Venezuela từ đầu năm đến nay, nhưng vẫn có thể trông cậy vào Nga và nhất là Trung Quốc. Trước hết là đối với Nga, trả lời đài RFI Pháp ngữ, Emmanuel Pietrobon, chuyên gia độc lập người Ý về châu Mỹ Latinh nhấn mạnh : Cuba là « vùng ảnh hưởng duy nhất của Nga trong vùng biển Caribe, cho nên Matxcơva dưới chế độ Cộng Sản Liên Xô trước kia hay của tổng thống Putin hiện tại đều phải bằng mọi giá yểm trợ La Habana ».
« Nga cần hòn đảo nhỏ này để gây sức ép với Mỹ. Nói một cách ví von, chỉ cần bước ra ngoài ban công là người Mỹ có thể nhìn thấy sự hiện diện của Nga. Do đó, đối với Matxcơva, Cuba chiếm một lợi thế địa chiến lược, tương tự như là vị thế của Đài Loan đối với Washington trong vùng châu Á-Thái Bình Dương. Có thể nói, Cuba là một phiên bản của Đài Loan trong vùng biển Caribê. Ngoài khía cạnh địa chính trị, hòn đảo này còn có nhiều lợi thế về kinh tế. Cuba có dầu hỏa, nhưng vì bị cấm vận triền miên nên chưa từng được thăm dò, và đương nhiên là cũng chưa từng được khai thác.
Rồi Cuba cũng có những nguồn dự trữ về cobalt, nickel và cũng có tiềm năng về đất hiếm… Tất cả những yếu tố đó cho thấy, Cuba chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng về địa chính trị đối với Nga (...) Cuba chỉ cách bang Florida một giờ bay. Hòn đảo này cũng làm một căn cứ không thể thiếu, với một vị trí then chốt và duy nhất để tiến hành các hoạt động dọ thám. Không phải tình cờ mà trong những năm gần đây, có lẽ và từ nửa sau thập niên 2010, tổng thống Nga, Vladimir Putin đã quyết định mở lại trung tâm thu thập thông tin tình báo bằng tín hiệu lớn nhất mà Liên Xô từng sở hữu trong giai đọan Chiến Tranh Lạnh: Đó là căn cứ Lourdes ».
Một quân bài để thương lượng về Ukraina
Nhất là vào thời điểm mà Nga cần đàm phán với Mỹ về Ukraina thì Cuba có thể là một lá chủ bài trong mắt điện Kremlin Emmanuel Pietrobon giải thích tiếp :
« Matxcơva nhất quyết gửi đến Washington một thông điệp chính trị. Vào lúc Donald Trump có ý định phân chia thế giới theo những vùng ảnh hưởng khác nhau, Nga muốn Hoa Kỳ hiểu rằng tham vọng đó chỉ có thể thành công nếu như Nhà Trắng công nhận Kremin cũng có quyền xây dựng những vùng ảnh hưởng của riêng mình. Do vậy, Cuba như thể là một đòn bẩy trong tiến trình đàm phán giữa Nga và Mỹ. Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, Liên Xô đã đặt tên lửa ở Cuba trong lúc mà Hoa Kỳ đặt tên lửa tại Châu Âu - nhất là tại Ý cũng như là để làm đối trọng với việc Mỹ đã điều vũ khí hạt nhân đến Thổ Nhĩ Kỳ. Giờ đây theo logic tương tự, Matxcơva dùng Cuba để mặc cả với Mỹ về Ukraina ».
22 % nhập khẩu của Cuba phụ thuộc vào Trung Quốc
Nhìn từ Bắc Kinh, Cuba là một đồng minh truyền thống lâu đời : Chính quyền Fidel Castro là quốc gia ở Tây bán cầu đầu tiên thiết lập bang giao với chế độ Mao Trạch Đông. Năm 2025, chủ tịch Diaz Canel đến Bắc Kinh nhân kỷ niệm 65 năm bang giao hai nước. Về thương mại, từ đầu những năm 2000 Trung Quốc đã trở thành một trong những đối tác quan trọng nhất của Cuba, đứng trước cả Nga hay Venezuela. Cuba là « một trong những thị trường tiềm năng nhất của các nhà sản xuất pin mặt trời Trung Quốc ». Trung Quốc chiếm 22 % nhập khẩu của Cuba
Ngoài ra, đối với ông Tập Cận Bình cũng như Vladimir Putin, giá trị chiến lược của Cuba chính là nhờ có vị trí sát cạnh Hoa Kỳ, một cửa ngõ quan trọng trong vùng biển Caribe.
Do vậy giới quan sát cho rằng, không chắc Donald Trump đạt được mục đích đưa Cuba trở thành một « quốc gia thân thiện » với Hoa Kỳ. Không có gì bảo đảm ông sẽ được sử sách nhớ đến như một vị tổng thống vượt trội hơn tất cả những người tiền nhiệm, từ tướng Dwight David Eisenhower, tổng thống John Fitzgerald Kennedy, đến Bill Clinton, Barack Obama. Điều chắc chắn duy nhất là những tham vọng về địa chính trị của Washington trong vùng biển Caribe đã, đang và tiếp tục vấp phải những quyền lợi của Nga và Trung Quốc.
Lịch sử cũng đã chứng minh rằng từ năm 1960 đến nay Cuba đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế. Mỗi lần « thoát chết trong đường tơ kẽ tóc » La Habana luôn được một « quý nhân phù trợ ». Trong giai đoạn chiến tranh lạnh điểm tựa chính là Liên Xô. Khi Liên bang Xô Viết tan rã thì từng bước đến lượt Venezuela, dưới thời hai tổng thống Hugo Chavez (1999-2013) và Nicolas Maduro chống lưng.
Trung Quốc là một đối tác thương mại « không thể thiếu » của Cuba, cho nên trong cuộc đọ sức bất cân xứng lần này với chính quyền Trump, chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel có thể trông cậy vào điểm tựa là chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Tue, 26 May 2026 - 270 - Mỹ- Trung Quốc : Thỏa hiệp ngầm phía sau một cuộc chiến thương mại ?
Tại thượng đỉnh Bắc Kinh, Donald Trump và Tập Cận Bình đã bắt đầu chuẩn bị cho giai đoạn « hậu chiến tranh thương mại Mỹ-Trung ». Tổng thống Hoa Kỳ luôn lấy những cơ hội kinh doanh làm kim chỉ nam để điều hành đất nước. Chủ tịch Tập Cận Bình quan niệm Trung Quốc « không có bất kỳ một lợi ích nào trong mọi cuộc xung đột, kể cả xung đột thương mại ». Bắc Kinh cần dưỡng sức cho một cuộc song đấu khác.
Nhiều chuyên gia Pháp đánh giá như trên sau cuộc tái ngộ giữa lãnh đạo hai siêu cường kinh tế thế giới từ hôm 13 đến 15/05/2026. Một phái đoàn hùng hậu gần hai chục doanh nhân hàng đầu của Mỹ đã tháp tùng tổng thống Trump đến Bắc Kinh. Không ít trong số đó là những người giàu nhất hành tinh, như Elon Musk sáng lập viên hãng ô tô điện Tesla, người từng được chính chủ tịch Trung Quốc tiếp đón. Bên cạnh đó là rất nhiều ông vua công nghệ cao như Apple, Meta, Qualcomm, Nvidia.., là những lãnh đạo các quỹ đầu tư trị giá hàng ngàn tỷ đô la như Blackrock hay Goldman Sachs, và cả những tên tuổi hàng đầu tiêu biểu nhất của nền công nghiệp Hoa Kỳ như tổng giám đốc Boeing. Phần lớn trong số này là những đối tác lâu đời của Trung Quốc.
Trước mặt lãnh đạo Trung Quốc, tổng thống Trump khoe : « Chúng tôi có đội ngũ doanh nhân hùng hậu nhất, giỏi nhất và cũng là những doanh nhân hàng đầu thế giới ». Đáp lời nguyên thủ Mỹ chủ tịch Tập Cận Bình nói ông « hoàn toàn tin tưởng những cơ hội tốt hơn đối với các doanh nghiệp Mỹ là tại Trung Quốc ».
Do vậy, giới quan sát cho rằng, với phái đoàn đông đảo các doanh nhân Mỹ như vậy, ông Trump vừa khéo léo nhắc nhở vị chủ nhà về thế thượng phong của Hoa Kỳ trong nhiều lĩnh vực then chốt, vừa để ngỏ cơ hội hợp tác hai chiều. Tổng thống Trump không đến Bắc Kinh để mở ra một chương mới trong chiến tranh thương mại với Trung Quốc. Nhưng điều đó không có nghĩa là căng thẳng song phương sắp được khép lại, bởi vì chiến tranh thương mại Mỹ -Trung chỉ là bề nổi của tảng băng. Cuộc chiến đó cũng có thể là sắp kết thúc để nhường chỗ cho một đối đầu khác khốc liệt hơn. Đó là chiến tranh công nghệ. Nhưng ngay cả về điểm này, bài toán cũng không đơn giản cho cả hai phía.
Một sự phụ thuộc « chết người »
Điểm qua « tương quan lực lượng » của mỗi bên trên mặt trận « công nghệ » đặc biệt là về trí tuệ nhân tạo, kinh tế gia Alicia García Herrero thuộc trung tâm nghiên cứu Bruegel, trụ sở tại Bruxelles, trong một bài tham luận trên tạp chí Le Grand Continent lưu ý Trung Quốc không « lẹt đẹt » theo sau Hoa Kỳ, Trung Quốc lại vừa có phương tiện tài chính để đầu tư như Mỹ, thậm chí là còn hơn cả Mỹ. Trung Quốc lại nắm giữ một vũ khí vô cùng lợi hại là các khoáng sản chiến lược và kim loại hiếm.
Ở phía đài bên kia, Hoa Kỳ vẫn còn đi trước đối thủ châu Á này vài bước về công nghệ chế tạo chip điện tử, đặc biệt là những loại tiên tiến nhất một phần do tập đoàn Nvidia chế tạo. Có điều « khoảng cách của Mỹ trước Trung Quốc đang được thu hẹp lại ».
Để làm chủ cuộc cách mạng về trí thông minh nhân tạo, Mỹ và Trung Quốc đang phụ thuộc vào nhau. Theo quan điểm của bà Alicia García Herrero, trên mặt trận này, Bắc Kinh và Washington mỗi bên « nắm giữ một nửa chìa khóa » của thành công. Do vậy, có lẽ đôi bên đang cân nhắc khả năng hợp tác trong một chừng mực nào đó, ít ra là trong ngắn hạn. Chính ở điểm này, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có lẽ đã thành thật khi tuyên bố : « Những lợi ích chung của Trung Quốc và Hoa Kỳ lấn át những bất đồng giữa hai nước. Thành công của mỗi bên là cơ hội cho phía bên kia. Một mối quan hệ ổn định giữa hai quốc gia có lợi cho toàn thế giới ».
Biến lợi thế của mình thành vũ khí
Như trong nhiều lĩnh vực khác, Mỹ và Trung Quốc vừa là đối thủ của nhau, nhưng lại rất cần đến nhau. Vẫn Alicia García Herrero cho rằng ở thời điểm này Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng đang muốn khai thác tối đa lợi thế của mình với đối phương. Lãnh đạo hai nước ý thực được là mỗi bên cần « tạm ngừng chiến »để cho dưỡng sức cho một cuộc đấu dài hơi, đồng thời cũng là để khai thác tối đa những lợi thế đã có, biến chúng thành những vũ khí lợi hại nhất để nhắm vào đối phương. Có điều, do mức độ phụ thuộc vào nhau qua lớn, không một bên nào dám « nổ phát súng đầu tiên »
Tại thượng đỉnh tuần trước, ông Tập Cận Bình và Donald Trump chủ yếu tìm kế hoãn binh và cứu vãn thể diện qua hàng loạt những cam kết rất mơ hồ về thiện chí thương mại, hay để ngỏ khả năng mời các nhà đầu tư của đối phương vào hoạt động.
Nhà nghiên cứu thuộc viện Bruegel cho rằng đây cũng là cơ hội để đôi bên trình bày rõ với đối phương về những giới hạn tối đa mà mỗi bên có thể chấp nhận được. Đối với phía ông Tập Cận Bình, trước sau như một : lằn rănh đỏ của Bắc Kinh vẫn là Đài Loan. Về phía Washington, đang lúng túng về chiến tranh Trung Đông, giới hạn sau cùng trong mắt tổng thống Trump là Trung Quốc tuyệt đối không được tiếp sức cho Iran về quân sự.
Trên đài truyền hình Pháp France5 giáo sư kinh tế Mary Fraçoise Renard, đại học Clermont Ferrand-Auverge trước hết phân tích về quan điểm của Bắc Kinh vào lúc mà Trung Quốc bất đắc dĩ bị tình hình ở eo biển Hormuz đe dọa tăng trưởng.
« Trung Quốc không có bất kỳ một lợi ích nào trong mọi xung đột, dù là với Đài Loan hay bất kỳ một quốc gia nào khác, về thương mại cũng vậy. Hơn nữa chúng ta thấy Bắc Kinh không dấn thân vào bất kỳ một cuộc chiến nào, ngay cả khi một nước bạn của Trung Quốc bị tấn công, như trong trường hợp với Iran. Có điều về Trung Đông, ông Tập Cận Bình muốn là Mỹ thay đổi thái độ nhưng đương nhiên kịch bản đó sẽ không xảy ra. Cho nên về hình thức, thì hai nhà lãnh đạo Trump-Tập đúng là đã đề cập đến một số vấn đề, nhưng về thực chất, thì không có gì thay đổi cả mà đó mới chính là điều quan trọng nhất được ghi nhận sau chuyến công du Bắc Kinh của nguyên thủ Mỹ vừa qua (…)
Trung Quốc là khách hàng số 1 của Iran, nhưng Bắc Kinh đã đa dạng hóa các nguồn cung cấp và các đối tác thương mại. Từ nhiều năm qua, kinh tế Trung Quốc đã bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Bắc Kinh đồng thời lại xây dựng một kho dự trữ năng lượng khá tốt. Nếu như chiến tranh kéo dài thì các nguồn dự trữ đó đương nhiên mai một. Nhưng trước mắt thì tình huống không quá tệ đối với Bắc Kinh, nhất là khi mà Mỹ đang sa lầy … Tổng thống Mỹ sợ lạm phát, ông Tập Cận Bình thì không, bởi vì Trung Quốc đang trong tình trạng giảm phát.
Có điều là xung đột ở Trung Đông ảnh hưởng đến cả kinh tế của Mỹ lẫn Liên Âu, đó là hai thị trường xuất khẩu lớn đối với Trung Quốc mà xuất khẩu là động lực của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Hiện tại tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này năm 2025 là 1200 tỷ đô la, mức cao nhất từ sau Thế Chiến Thứ Hai đến nay ».
Mục đích tránh để đối phương « trở mặt »
Giáo sư kinh tế Mary Françoise Renard, đại học Clermont Ferrand-Auvergne điểm lại quan hệ đầy sóng gió giữa hai siêu cường kinh tế thế giới từ khi tổng thống Trump lên cầm quyền từ nhiệm kỳ đầu. Bà đồng thời nhấn mạnh rằng, đôi bên cùng hiểu rõ người đối phương và cần bảo đảm rằng, sẽ không bị phía bên kia « trở mặt ».
« Hiện tại Mỹ đánh thuế 10 % vào hàng Trung Quốc, bên cạnh đó thì cũng có những thông báo là thuế hải quan được ấn định ở mức 24 % rồi biện pháp đó lại bị đình chỉ cho đến tháng 11 năm nay. Thành thử đôi bên còn có nhiều điều để mặc cả với nhau. Phía Bắc Kinh đã gián tiếp để ngỏ khả năng là có thể chấp nhận mức thuế tối đa là 10 %. Nhưng nói thật, là 10 % thuế hải quan đánh vào những mặt hàng thông dụng thì cũng không có lợi gì cho các hãng của Mỹ. Thành thử thượng đỉnh lần này Bắc Kinh tập trung vào hồi kết của một cuộc chiến thương mại, với những bảo đảm là đó phải là một thỏa thuận vững chắc, để rồi chính quyền Trump không trở mặt. Còn về phía phái đoàn Mỹ thì đã yêu cầu Trung Quốc cam kết không dùng đất hiếm như một công cụ để gây áp lực với Washington. Không chắc phía ông Tập sẽ thỏa mãn đòi hỏi này. Ngoài ra, phái đoàn Trump cũng đòi Trung Quốc mua nhiều hơn nông phẩm và máy bay của Hoa Kỳ. Hãng Boeing đã phải trả giá đắt vì chiến tranh thương mại Mỹ - Trung (…)
Nhân thượng đỉnh lần này, hai bên đã đề cập đến các khoản đầu tư hai chiều. Về phía Mỹ, các doanh nghiệp đều muốn có thể đầu tư mà không bị các quy định quá trói buộc. Lãnh đạo các tập đoàn Hoa Kỳ tháp tùng tổng thống Trump đến Bắc Kinh lần này đều muốn biết rõ chính sách đầu tư của Trung Quốc đối với các doanh nhân Mỹ. Công nghệ là một vế then chốt trong đối thoại song phương, mà về điểm này, thì Washington đã cấm xuất khẩu sang Trung Quốc một số chip điện tử cao cấp nhất do tập đoàn Nvida sản xuất. Nhưng Nhà Trắng thường xuyên thay đổi chính sách. Cho nên cả Bắc Kinh lẫn Nvidia cùng muốn được bảo đảm là đôi bên có thể làm ăn với nhau. Trung Quốc cần một số các thiết bị của Hoa Kỳ và ông Trump đã cấm xuất khẩu một số sản phẩm sang Hoa Lục, đồng thời cấm khoảng 1000 doanh nghiệp Mỹ giao dịch với Trung Quốc »
Thượng đỉnh Bắc Kinh lần này một lần nữa cho thấy, về kinh tế, thương mại, Mỹ cũng như Trung Quốc đang cần một « lệnh hưu chiến ». Đôi bên cùng muốn tránh để tình hình vượt ngoài tầm kiểm soát và trong khi chờ đợi, hai nhà lãnh đạo Donald Trump, Tập Cận Bình đều muốn tạm thời tìm ra một thỏa hiệp. Bắc Kinh không thể hy sinh thêm tăng trưởng kinh tế, còn Washington thì phải chuẩn bị đối phó với cuộc bầu cử lập pháp giữa kỳ vào tháng 11/2026. Điều đó không cấm cản, Mỹ cũng như Trung Quốc có thể đưa ra nhiều hứa hẹn nhưng rồi những cam kết đó sẽ chẳng được thực hiện là bao.
Tue, 19 May 2026 - 269 - Vũ khí : Bí quyết để Hàn Quốc chinh phục thế giới
Từ những năm 2010, Hàn Quốc từng bước trở thành « một nền công nghiệp quốc phòng trong khu vực Ấn Độ -Thái Bình Dương ». Các doanh nghiệp xứ Hàn đã giành được những hợp đồng lớn kể cả tại châu Âu và đang đề ra tham vọng đến năm 2030 sẽ trở thành một trong bốn nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho thế giới. Phân tích của chuyên gia Kévin Martin, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược FRS Pháp.
Trong giai đoạn 2010–2020, tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc trung bình khoảng 2,4 tỷ đô la một năm, với đỉnh điểm là 3 tỷ rưỡi vào năm 2015. Đến năm 2021, con số này được nhân lên gấp đôi -khoảng 7 tỷ trước khi đạt thành tích thu về 10 tỷ đô la vào năm 2022.
Bước sang giai đoạn 2020 - 2025, tổng giá trị xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc đã tăng gấp tám lần. Một thí dụ cụ thể chứng minh cho thành công và sự mở rộng thị trường vũ khí Hàn Quốc sang châu Âu : Hệ thống pháo tự hành K9, từ 2014 đến 2018 Hàn Quốc đã lần lượt chinh phục các thị trường Ba Lan, Phần Lan, Na Uy, Estonia và Roumanie. Lý do là hàng của Hàn Quốc có khả năng tương tác với các chuẩn mực của NATO. Hơn nữa 2014 là thời điểm Nga thôn tính bán đảo Crimée của Ukraina.
Theo báo cáo mới nhất Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI công bố tháng 4/2026 trong số các nhà sản xuất và xuất khẩu, Hoa Kỳ vẫn dẫn đầu. Nhưng Hàn Quốc la một nguồn cung cấp lớn của thế giới, vào lúc mà « trong 11 năm liên tiếp, chi tiêu quốc phòng trên thế giới gia tăng, đạt kỷ lục gần 2.900 tỷ đô la trong năm 2025 ». Châu Á – Châu Đại Dương, năm 2025, đã mua 681 tỷ đô la vũ khí và thiết bị quân sự. Đây là mức cao nhất kể từ 2009.
Một tháng trước đó, SIPRI ghi nhận xuất khẩu vũ khí toàn cầu đã tăng gần 10% trong giai đoạn 2020-2025. Các hoạt động buôn bán vũ khí trên thế giới « gần như đã quay trở lại mức trước khi kết thúc Chiến Tranh Lạnh vào năm 1989 ».
Tháng 12/2025 một phái đoàn của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương NATO sang Hàn Quốc. Trong vòng một tuần lễ, phái đoàn NATO đã tham quan hai tập đoàn công nghiệp vũ khí là Hanwha Aerospace và Hyundai Rotem. Các bên thảo luận về tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, công nghệ, cyber và trí tuệ nhân tạo. Đó là những điểm mạnh của xứ Hàn cùng với công nghệ phát triển drone. Seoul cũng đã đầu tư rất nhiều cho công nghệ không gian phục vụ các mục tiêu dân sự, quân sự và Hàn Quốc được biết đến như một « cường quốc » thế giới trong lĩnh vực công nghiệp đóng tàu.
Tháng 02/2026 Hàn Quốc gửi đại diện đến Ottawa, Canada để thúc đẩy dự án hợp tác song phương cho phép tập đoàn Hanwha Ocean tham gia chương trình hiện đại hóa đội tàu ngầm của Hải quân Canada.
Trong quan hệ giữa Hàn Quốc và Pháp, (Pháp là nhà cung cấp vũ khí thứ hai trên thế giới theo bảng xếp hạng của SIPRI), công du Seoul đầu tháng 4/2026, tổng thống Emmanuel Macron và đồng cấp Lee Jae Myung mong muốn « đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng ».
Trong cuộc trả lời phỏng vấn dành cho RFI Việt ngữ, Kévin Martin chuyên gia công nghiệp quốc phòng, thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược - FRS lần lượt phân tích những động lực đưa nền công nghiệp quốc phòng của Hàn Quốc đang từ thế phụ thuộc vào Mỹ trở thành một trong những nhà cung cấp vũ khí và thiết bị quân sự hàng đầu thế giới. Ông trình bày về những tham vọng của Seoul, về chiến lược của Hàn Quốc và nhất là những lá chủ bài của quốc gia Đông Bắc Á này thuần túy về mặt công nghiệp.
Trên con đường chính phục thị trường thế giới, từ 2010 đến nay Hàn Quốc đã « gặp nhiều may mắn » với một bối cảnh địa chính trị càng lúc càng « nguy hiểm », nhu cầu tiêu thụ và trang bị của các đối tác từ Trung Đông đến châu Á và nhất là châu Âu tăng mạnh.
***
RFI :Cảm ơn Kévin Martin tham gia chương trình hôm nay. Ông đã nghiên cứu nhiều năm về công nghiệp quốc phòng của Pháp, công bố nhiều bài tham luận về các nhà sản xuất mới trỗi dậy trong lĩnh vực rất đặc biệt này. Hàn Quốc đang đề ra tham vọng trở thành một trong bốn nhà sản xuất và xuất khẩu hàng đầu vào ngưỡng 2030. Đâu là điểm khởi đầu của Seoul trên thị trường xuất khẩu vũ khí ?
Kévin Martin : « Cần nhắc lại rằng thực tế Hàn Quốc là một nền kinh tế công nghiệp khá mới trên thị trường quốc tế về vũ khí. Nếu nhìn lại một chút về nguồn gốc lịch sử, sau khi giành độc lập, Hàn Quốc hoàn toàn phụ thuộc vào Hoa Kỳ về mặt an ninh trong giai đoạn từ năm 1953 đến những năm 1960. Phải đến từ những năm 1970, Hàn Quốc mới bắt đầu phát triển một ngành công nghiệp quốc phòng mà họ chưa từng có.
Do vậy, Seoul đã xây dựng tất cả gần như từ con số không, chủ yếu nhằm bảo đảm nguồn cung để tự phục vụ nhu cầu của chính mình. Chỉ đến những năm 1990, quốc gia Đông Bắc Á này mới bắt đầu có ý định “Hàn Quốc hóa” các trang bị quốc phòng. Cụ thể là triển khai các chính sách nghiên cứu và phát triển nhằm xây dựng một ngành công nghiệp trong nước có khả năng sản xuất, phát triển và thiết kế các hệ thống vũ khí. Những hệ thống này bắt đầu được phát triển với sự hỗ trợ của chính phủ từ thập niên 1990, chủ yếu là để cung cấp cho quân đội quốc gia.
Đến khoảng năm 2005, Hàn Quốc mới thực sự nghĩ đến các hoạt động xuất khẩu, tức là tận dụng các lợi ích có thể thu được từ những khoản đầu tư trước đó để phát triển công nghiệp quốc gia trong lĩnh vực đặc biệt này.
Trong giai đoạn 2005 -2020, chiến lược của Seoul trước hết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh so với các đối thủ đã có vị thế vững chắc trên thị trường vũ khí quốc tế. Đồng thời phải có sự hỗ trợ của Nhà nước để giúp chinh phục các thị trường quốc tế. Chỉ từ những năm 2020, chúng ta mới thực sự thấy Hàn Quốc tham gia đầy đủ vào thị trường vũ khí quốc tế, thông qua các hợp đồng, đặc biệt là ở châu Âu, chẳng hạn như hợp đồng với Ba Lan vào năm 2022 ».
RFI :Trong bối cảnh « thuận lợi » vừa nêu là châu Âu đang trang bị vũ khí vừa để độc lập hơn với Hoa Kỳ vừa để đề phòng mối đe dọa trước những tham vọng quân sự của Nga.
Kévin Martin : « Hoàn toàn đúng. Thực tế, ngay từ những năm 2005, Hàn Quốc đã bắt đầu muốn xuất khẩu các trang thiết bị quốc phòng, cho dù số lượng khi đó còn khá hạn chế. Seoul đã triển khai một chiến lược nhằm thâm nhập thị trường châu Âu, nhưng ban đầu không mấy thành công. Chỉ đến khi xuất hiện một bối cảnh rất thuận lợi vào giai đoạn 2014–2015 khi Nga sáp nhập Crimée thì Hàn Quốc mới thực sự thành công trong việc xuất khẩu thiết bị quân sự. Chính vì thế từ thời điểm này, nhiều quốc gia Đông Âu phải đánh giá lại nhu cầu về năng lực quân sự, và họ đã chuyển sang lựa chọn trang bị của Hàn Quốc. Cụ thể, châu Âu mua vào pháo tự hành K-9, loại vũ khí đã giúp Hàn Quốc lần đầu tiên thâm nhập thị trường châu Âu vào năm 2014.
Thực ra, cuộc chiến tại Ukraina do Nga phát động (và leo thang trở lại vào năm 2022) cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu quốc phòng của Hàn Quốc. Bởi vì Hàn Quốc đáp ứng được nhu cầu cung cấp nhanh và với một khối lượng lớn. Đó là chưa kể, thiết bị của Hàn Quốc lại có khả năng tương thích với các thiết bị mà châu Âu đang sử dụng, đồng thời phù hợp với các tiêu chuẩn vũ khí lưu hành trong khối NATO »
RFI :Ba Lan là nhịp cầu đầu tiên đưa vũ khí và thiết bị quân sự Hàn Quốc sang châu Âu ?
Kévin Martin : « Vâng, hoàn toàn đúng. Năm 2022, Hàn Quốc và Ba Lan đã ký kết các thỏa thuận khung mang tính lịch sử. Chính xác hơn là hai thỏa thuận khung cho phép Vacxava mua một số lượng lớn trang thiết bị quân sự, với tổng trị giá lên tới hơn 15 tỷ đô la.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở trị giá hợp đồng, mà chính là chiến lược của Seoul thể hiện qua hợp đồng này. Hàn Quốc không chỉ tập trung vào việc giao hàng nhanh chóng, mà còn đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Với Ba Lan chẳng hạn thì các doanh nghiệp Hàn Quốc đẩy mạnh khâu chuyển giao công nghệ ở quy mô lớn. Đây chính điểm mạnh của Hàn Quốc để giành được hợp đồng với Ba Lan.
Nếu như vào năm 2022 còn có nhiều nghi vấn về khả năng của Hàn Quốc đáp ứng các điều khoản của những thỏa thuận ban đầu, chẳng hạn như giao hàng nhanh, ký kết các thỏa thuận với doanh nghiệp Ba Lan về cấp phép sản xuất, chuyển giao công nghệ, hay thành lập các liên doanh, thì trên thực tế, có thể thấy rằng Hàn Quốc đã có khả năng thực hiện được các cam kết ban đầu trong giai đoạn đầu tiên ».
RFI :Lợi thế mạnh nhất của Hàn Quốc chính là các cơ sở công nghiệp vững chắc của nước này ?
Kévin Martin: « Từ góc độ công nghiệp, đúng là Hàn Quốc dựa vào các chaebol – đại tập đoàn công nghiệp để sản xuất và phát triển các trang thiết bị quốc phòng. Các tập đoàn này đã mở rộng đáng kể năng lực công nghiệp nhằm đáp ứng trong một khoản thời gian ngắn nhất.
Hiện nay, chaebol chủ chốt trong lĩnh vực quốc phòng tại Hàn Quốc là Hanwha, đơn vị đang dần trở thành nhà thầu chính quốc gia và là doanh nghiệp dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực, từ phòng không đến vũ khí lục quân. Bên cạnh đó còn có LIG Nex1, cũng như các tập đoàn đóng tàu, trong đó có một xưởng đóng tàu đã được Hanwha mua lại.
Như vậy, có một số ít các tập đoàn lớn đóng vai trò chủ đạo, đã phát triển các hệ thống vũ khí tương đối mới nhờ các chính sách nghiên cứu và phát triển (R&D) do Nhà nước thúc đẩy từ những năm 1990. Điều này cho phép Hàn Quốc đưa ra thị trường nhiều mặt hàng ngay từ giai đoạn đầu, khi mức độ cạnh tranh quốc tế còn tương đối thấp. Ví dụ như pháo tự hành, nhưng cũng đúng với các hệ thống phòng không tầm ngắn (…) . Nhìn chung, có thể thấy động lực phát triển hiện nay là rất thuận lợi đối với các doanh nghiệp Hàn Quốc trên thị trường vũ khí quốc tế.
RFI :Xin chân thành cảm ơn chuyên gia công nghiệp quốc phòng, Kévin Martin, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược – FRS.
Tue, 12 May 2026 - 268 - Dầu hỏa : OPEC đang bị « pha loãng » ?
Giữa lúc « dầu sôi lửa bỏng », một thành viên quan trọng của Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Hỏa OPEC chính thức rời khỏi mái nhà chung ngày 01/05/2026. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã chuẩn bị nước cờ này từ lâu năm. « Đợt sóng ngầm » này xuất phát từ đâu và hậu quả nào trên bàn cờ năng lượng quốc tế vào lúc mọi chú ý vẫn tập trung vào chiến tranh Iran và việc eo biển Hormuz bị phong tỏa ?
OPEC và OPEC+ vừa mất thêm một thành viên sau khi Qatar (2019) và Angola (2024) đã rời đi. Quyết định của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) tiếp tục làm suy yếu trọng lượng của toàn khối trên bàn cờ năng lượng quốc tế nhưng lại có lợi cho Hoa Kỳ. Mỹ không tham gia OPEC hay OPEC+. Còn đối với các quốc gia nhập khẩu dầu, sự ra đi này có đem lại những thay đổi nào hay không ?
Cạnh tranh khốc liệt giữa các nguồn cung cấp dầu
Trong một chương trình trên đài truyền hình tư nhân BFM TV, chuyên gia Hervé Goulletquer, thuộc công ty tư vấn độc lập Accuracy, chi nhánh tại Paris, nhận định là không.
« Trong ngắn hạn, không có gì thay đổi bởi vì hiện nay eo biển Hormuz đang bế tắc, cản trở các hoạt động xuất khẩu dầu. Điểm thứ nhì là quyết định này làm suy yếu OPEC do có một sự rạn nứt. Trọng lượng của tổ chức này qua đó bị giảm đi. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bảo đảm khoảng 13 % lượng dầu trong toàn khối và là nguồn cung cấp lớn thứ ba sau Ả Rập Xê Út và Irak (dầu của Iran vốn đã bị phong tỏa từ nhiều năm). Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, từ trước đến nay UAE luôn là một thành viên bướng bỉnh, không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định chung. Nhìn dưới kía cạnh chính trị thì sự suy yếu của khối các quốc gia xuất khẩu này chứng tỏ thị trường dầu hỏa thế giới rất dễ bị dao động.
Điểm thứ ba là trước viễn cảnh tiêu thụ dầu hỏa có thể là sẽ giảm trong dài hạn - với những mục tiêu chuyển đổi năng lượng, bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch ..., cho nên Abu Dhabi muốn tận dụng thời điểm hiện tại để khai thác tối đa và xuất khẩu được nhiều chừng nào tốt chừng nấy, rồi đem nguồn thu nhập này đầu tư để phát triển những lĩnh vực khác, giảm bớt phụ thuộc vào công nghiệp dầu hỏa sau này.
Trong tính toán đó, UAE không quan tâm nhiều đến mục tiêu phải giữ giá dầu trên thị trường quốc tế như quan điểm của Riyad.
Sau cùng về mặt ngoại giao, khó có thể hy vọng các nước trong Vùng Vịnh sẽ được ổn định. Căng thẳng giữa Abu Dhabi với Riyad đã quá rõ. Ảo ảnh về một sự ổn định trong khu vực này hoàn toàn sụp đổ sau quyết định của UAE bước ra khỏi OPEC ».
Năm 2019 Qatar đã rời khỏi tổ chức OPEC để tập trung phát triển ngành công nghiệp khí đốt, đồng thời « giành lại quyền định đoạt tương lai ».
Hiện tại, cả Ả Rập Xê Út lẫn Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cùng đang rất cần vốn để chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, chuẩn bị cho thời đại « dầu hỏa không còn là vua ». Nhưng Riyad và Abu Dhabi lại đi theo hai hướng khác nhau. Hai cột trụ năng lượng trong Vùng Vịnh này đang lao vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt.
Tranh thủ thị trường
Mọi người chờ đợi một khi chiến tranh Iran kết thúc, eo biển Hormuz được giải tỏa, giao thương hàng hải trở lại bình thường, tất cả các nhà cung cấp trong Vùng Vịnh, kể cả Ả Rập Xê Út hay Iran, đều đua nhau « giải phóng » những lượng dầu bị tồn kho trong những tuần lễ xung đột.
Trong giai đoạn từ 28/02/2026 đến ngày 01/05/2026 khả năng sản xuất của các quốc gia dầu hỏa trong Vùng Vịnh chỉ còn có 10 % so với trước nhưng rất hiếm những chuyến tàu dầu vượt ra khỏi được « vùng chiến sự » này do lệnh phong tỏa kép của Mỹ và Iran. Hiện tại bản thân Iran đang đau đầu vì đang phải tìm những kho để trữ dầu vẫn kẹt lại ở phía trong eo biển Hormuz. Nói các khác một khi « cửa biển này » hoạt động trở lại bình thường, sẽ có không ít nhà cung cấp hối hả đi tìm các nguồn tiêu thụ để giải quyết hàng tồn kho, đế lấp đầy lại những thiếu hụt ngân sách trong thời gian chiến tranh. UAE muốn « đi trước một nước cờ » để không bị bất kỳ một hạn ngạch hay luật chơi chung nào của OPEC trói buộc.
Một một chiến lược được chuẩn bị từ trước
Giám đốc công ty tư vấn chuyên về năng lượng, Carole Nakhle được báo L’Orient Le Jour trích dẫn hoàn toàn không bất ngờ với quyết định chia tay nói trên cho dù UAE là thành viên toàn phần từ 1967. Bà giải thích, nhà cung cấp này từ lâu nay đã bất mãn về chính sách chung của OPEC do Ả Rập Xê Út áp đặt.
UAE đã đầu tư rất nhiều cho tương lai để bớt phụ thuộc vào vàng đen. Riyad, tiếng nói có trọng lượng nhất trong khối OPEC thì lại chủ trương « hạn chế mức cung » để giữ giá dầu trong lúc Abu Dhabi muốn xuất khẩu « nhiều chừng nào tốt chừng nấy ».
Theo thể thức vận hành chung được quy định từ 56 năm nay, OPEC ấn định những quota cho mỗi thành viên. Vì luật chơi chung này, UAE chỉ được sản xuất 3,4 triệu thùng dầu mỗi ngày, trong lúc năng suất thực sự của Abu Dhabi là hơn 4,8 triệu thùng/ngày. Từ hơn 5 năm nay UAE đã đầu tư 150 tỷ đô la để nâng cao khả năng sản xuất và cung cấp đến 5 triệu thùng một ngày cho thế giới ngay từ 2027.
« Chính sách chung của OPEC không còn phù hợp với lợi ích của Abu Dhabi » (Bộ trưởng Năng Lượng UAE)
Điểm thứ nhì theo Mohammed Baharoom, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị tại Dubai được báo Le Monde trích dẫn, « ít nhất là từ 4 năm nay Abu Dhabi đã muốn ra khỏi OPEC » nhằm « phục vụ tốt hơn các đối tác chiến lược như với Ấn Độ, Hàn Quốc và cả Hoa Kỳ ». Những đối tác này là « cột trụ bảo đảm an toàn về mặt kinh tế cho UAE ».
Yếu tố Hoa Kỳ
Mỹ là một yếu tố trong bài toán của UAE. Trên đài truyền hình Nhà nước Franc5, giáo sư Patrice Geoffron chuyên về năng lượng giảng dậy tại Đại học Paris Dauphine nhìn nhận Abu Dhabi chia tay tổ chức OPEC sau gần 60 năm chung sống trước hết là vì lợi ích quốc gia nhưng Hoa Kỳ là bên hưởng lợi nhiều hơn cả :
« Tổ chức OPEC được hình thành từ thập niên 1960, với mục đích là điểu chỉnh lượng dầu sản xuất vì lợi ích chung. Ý tưởng ban đầu là một nghĩa vụ liên đới với nhau, phân định xem mỗi thành viên được sản xuất, xuất khẩu bao nhiêu thùng dầu mỗi ngày để giữ giá trên thị trường. Ra khỏi OPEC có nghĩa là Abu Dhabi không còn phải thể hiện liên đới với các thành viên khác, không bị trói buộc vì các khoản quota, không còn phải tuân thủ chính sách chung. Sự ra đi này có lợi cho hai quốc gia là Nga và Mỹ. Nga là thành viên OPEC+ và do đang phải đài thọ chiến tranh Ukraina hiện nay, nên Matxcơva muốn xuất khẩu nhiều, không bị ràng buộc vì những cam kết về hạn ngạch với Riyad. Còn Mỹ thì không là thành viên OPEC nên sẽ hài lòng thấy khối này bị suy yếu. Đây là cơ hội cho các nhà sản xuất dầu ở Hoa Kỳ sản xuất nhiều hơn ».
Hiện tại giá dầu đã vượt ngưỡng 110 thậm chí có lúc là 120 đô la một thùng, hoàn toàn do tình hình ở eo biển Hormuz. Theo chuyên gia về năng lượng Carole Nakhle, « trong ngắn hạn, giá dầu trên thị trường quốc tế do các yếu tố địa chính trị quyết định. Giá cả chuyển động tùy theo tình hình ở eo biển Hormuz, những biến cố có thể xảy ra tại Venezuela ».
Nhưng về lâu dài thì khác.
Theo bà Carole Nakhle, ra khỏi OPEC có nghĩa là UAE đã chuyển sang thế tấn công, sẵn sàng bơm thêm dầu vào thị trường, làm hạ nhiệt giá dầu, « đáp ứng yêu cầu của Washington ». Donald Trump từ lâu nay vẫn đòi OPEC « mở thêm van dầu » để xăng dầu bán ra trên thị trường Mỹ giảm giá. Tổng thống Mỹ đang cần được cử tri ủng hộ trước bầu cử giữa kỳ tháng 11/2026. Một tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa mà càng suy yếu, càng có lợi cho Hoa Kỳ.
Năm 2025, OPEC chiếm khoảng 30% nguồn cung dầu toàn cầu, (hoặc 41% nếu tính cả liên minh mở rộng OPEC+). Mất đi một thành viên, trọng lượng của OPEC sẽ bị thu hẹp lại. Để so sánh, tổ chức này bảo đảm 58 % nhu cầu tiêu thụ cho thế giới vào năm 1973 khi cuộc khủng hoảng dầu hỏa lần thứ nhất bùng phát.
Do vậy cựu bộ trưởng Kinh tế Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Nasser Saidi dự báo sau khi OPEC mất đi một thành viên là Abu Dhabi, sẽ đến lượt Caracas chia tay với khối này, nhất là khi mà Washington « đang kiểm soát » dầu hỏa của Venezuela.
Tổ Chức Các Quốc Gia Xuất Khẩu Dầu Hỏa OPEC đang để lộ rõ những rạn nứt từ bên trong và sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu dầu hỏa ngày càng gay gắt. « Hợp tác » giữa các nhà sản xuất không còn là ưu tiên số 1 trước những tính toán ích kỷ hơn. Đối với Ả Rập Xê Út, thành viên quan trọng nhất trong khối OPEC, sự rút lui của Abu Dhabi là một « lời cảnh cáo ». Nhìn từ Washington, đây là « cơ hội ».
Đối với bản thân Tổ Chức Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Hỏa thì vị thế trên bàn cờ năng lượng của nhóm 11 nước ngày đang bị thu hẹp lại. Nhìn từ phía các nền kinh tế phải nhập khẩu dầu thì chưa chắc viễn cảnh các nhà cung cấp và xuất khẩu cạnh tranh khốc liệt hơn sẽ là một tin vui. Điều chắc chắn duy nhất là thị trường dầu hỏa đang có nhiều biến động.
Tue, 05 May 2026 - 267 - Thất bại của Mỹ sau một năm chiến tranh thuế quan
Chính quyền Trump hôm 20/04/2026 bắt đầu tiếp nhận đơn của các công ty nhập khẩu Hoa Kỳ đòi hoàn trả 166 tỷ đô la đã phải nộp cho chính phủ từ một năm qua. Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặt các các hàng rào thuế quan với toàn thế giới nhưng chiến tranh thương mại do Nhà Trắng khai mào chưa tới hồi kết. Washington thất bại trên ba mục tiêu : kiềm tỏa xuất khẩu Trung Quốc, thu hẹp thâm hụt mậu dịch của Hoa Kỳ và đưa nước Mỹ trở lại trung tâm bàn cờ công nghiệp thế giới.
Thay đổi duy nhất là trật tự thương mại quốc tế đã rẽ sang một khúc quanh mới.
Chuyển biến trong một năm, từ Ngày Giải Phóng nước Mỹ 02/04/2025.
Đúng hai tháng sau phán quyết ngày 20/02/2026 của Tối Cao Pháp Viện, các công ty nhập khẩu của Mỹ bắt đầu có thể đòi Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) hoàn trả 166 tỷ đô la mà họ đã phải nộp từ khi ông Donald Trump ban hành biện pháp thuế đối ứng 02/04/2025.
Hiện tại, hơn 330.000 công ty nhập khẩu của Mỹ, đã có 56.500 đòi CBP bồi hoàn. Thủ tục đòi lại tiền thuế cho các doanh nghiệp Mỹ sẽ không đơn giản. Nhìn từ góc độ của người tiêu dùng, câu hỏi quan trọng nhất là liệu các công ty nhập khẩu của Mỹ có hoàn trả lại cho các khách hàng khoản thuế hải quan « không hợp pháp » mà họ đã thu vào từ một năm nay hay không.
Trong Vườn Hồng của Nhà Trắng cách nay hơn một năm tổng thống Donald Trump tuyên bố :« Mồng 2 tháng Tư năm 2025 sẽ mãi mãi được khắc khi trong ký ức như một ngày công nghiệp của Hoa Kỳ hồi sinh, ngày để chinh phục lại vận mệnh của nước Mỹ và là ngày đòi lại tài sản cho Hoa Kỳ ».
Lập tức thuế hải quan đánh vào hàng nhập khẩu vào Mỹ tăng 10 rồi 50 %. Trong đợt đầu tiên này, Việt Nam bị lãnh mức thuế 46 %. Cam Bốt và Lào là 49 và 47 %. Cả thế giới, từ Liên Hiệp Châu Âu, Anh Quốc, Thụy Sĩ … đến Nhật Bản, Hàn Quốc hối hả đến Washington đàm phán với hy vọng thuyết phục được chính quyền Trump về thiện chí thu hẹp thặng dư mậu dịch với Mỹ.
Các nền kinh tế Đông Nam Á không là một ngoại lệ. Sau nhiều vòng đàm phán, tháng 7/2025 Việt Nam cuối cùng đạt được thỏa thuận để hàng xuất khẩu sang Mỹ chịu mức thuế 20 % (thuế 40 % nếu là hàng hóa trung chuyển). Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc bằng lòng với mức thuế hải quan 15 %. Ấn Độ, Brazil, là những nhà đàm phán không dễ vâng lời.
Riêng Trung Quốc là một ngoại lệ : Chẳng những Bắc Kinh không vội vàng thương lượng với Nhà Trắng mà còn tung đòn đáp trả, chuyển từ thế thủ sang thế tấn công đúng nghĩa « ăn miếng trả miếng » để rồi đôi bên tuyên bố « tạm ngừng ». Tháng 10/2025 tổng thống Donald Trump và chủ tịch Tập Cận Bình gặp nhau tại Hàn Quốc và trên nguyên tắc trong hai tuần nữa (tháng 5/2026) nguyên thủ Mỹ công du Bắc Kinh. Thương mại vẫn là trọng tâm thượng đỉnh Mỹ-Trung
Cuộc chiến còn dài
Tháng 2/2026, gần một năm « Giải Phóng nước Mỹ » với đòn thuế đối ứng, tổng thống Trump phẫn nộ trước phán quyết của Tối Cao Pháp Viện. Ông cho rằng phán quyết này cho phép các đối tác nước ngoài tiếp tục « bòn rút » tài nguyên của Hoa Kỳ.
Vào lúc mà các công ty nhập khẩu Mỹ bắt đầu đòi « hoàn trả » 166 tỷ đô la đã nộp « oan uổng » cho chính phủ, thì cũng ông Trump cảnh báo, ông sẽ « để bụng » những doanh nghiệp nào dám đòi được hoàn trả thuế hải quan. Những công ty đó, không « thông minh » và không « yêu nước ».
Nhà kinh tế Denis Ferrand giám đốc công ty tư vấn Rexecode-Paris, trên đài phát thanh France Info hôm 21/02/2026 ghi nhận :
« Đối với Donald Trump phán quyết của Tối Cao Pháp Viện là một vố đau, bởi vì ông luôn coi thuế quan là cột trụ trong chính sách của mình. Ngay nhiệm kỳ đầu tổng thống Mỹ đã sử dụng lá bài này, nhưng chỉ là để đối đầu với Trung Quốc. Rồi Washington và Bắc Kinh đã liên tục đàm phán … Trong nhiệm kỳ 2 Trump lại đem chiêu bài này ra nhưng là để áp đặt với toàn thế giới. Ông coi đây là một công cụ để đạt được những mục tiêu đã đề ra, thậm chí là công cụ để gây áp lực, để đòi các đối tác thương mại của Hoa Kỳ đầu tư trên đất Mỹ, làm sống lại nền công nghiệp của Hoa Kỳ, để rồi Mỹ lại đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt thế giới ».
Nhưng tổng thống Mỹ không chịu buông tay. Ngay sau phán quyết của Tối Cao Pháp Viện, Donald Trump lập tức ban thêm một đợt thuế mới 15 % (ban đầu là 10 %) có hiệu lực trong vòng 150 ngày. Cho đến tuần này, lãnh đạo Nhà Trắng vẫn dùng đòn thuế quan, công cụ ông yêu thích nhất, để đòi phạt các đối tác không ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống Iran, không giúp Hoa Kỳ mở cửa eo biển Hormuz đang bị Iran phong tỏa.
Cần lưu ý rằng phán quyết hôm 20/02/2026 của Tối Cao Pháp Viện Mỹ không liên quan đến một số trường hợp như thuế đánh vào nhôm, thép (vẫn là 50 %) và xe hơi (vẫn là 25 %) của nước ngoài bán sang thị trường Mỹ. Nói cách khác, cuộc chiến thuế quan Donald Trump khởi xướng chưa tới hồi kết.
Thuế đối ứng, gánh nặng đối với Hoa Kỳ
Trong 12 tháng qua, các nạn nhân đầu tiên từ chính sách này là người tiêu dùng ở Mỹ. Isabelle Méjean chuyên gia về thương mại quốc tế trường Khoa Học Chính Trị Paris giải thích trên kênh truyền hình Pháp Public Sénat :
« Người tiêu dùng Mỹ trả giá cho các đòn thuế quan đó. Hơn nữa chính sách này đã không cho phép khởi động lại đầu tư vào các nhà máy công nghiệp ở Hoa Kỳ như từng hứa hẹn, và cũng không đem lại việc làm cho người lao động. Trong năm qua kinh tế và chứng khoán phát triển nhờ những khoản đầu tư rất lớn vào công nghệ trí tạo thông minh (…)
Cả thế giới lập tức lao vào một cuộc chạy đua với thời gian để đàm phán với Washington, mong được giảm mức thuế khi xuất khẩu hàng sang Hoa Kỳ, để tránh phải trực diện lao vào một cuộc đối với chính quyền Trump. Do vậy có thể nói về phương diện ngoại giao, Donald Trump đã ghi được một bàn thắng khi củng cố vị trí của nước Mỹ ».
Bộ Tài Chính Mỹ thu tiền của dân Mỹ
Kinh tế trưởng của ngân hàng Pháp BNP, Nathalie Benatia phân tích thêm :
« Rất rõ ràng là người tiêu dùng Mỹ gánh chịu các khoản chi phí phụ trội. Thành công duy nhất là khi tăng thuế hải quan, bởi đây là một hình thức thu thuế, nên tiền mà chính quyền liên bang thu vào được nhiều hơn, ước tính là đã thu thêm được khoảng 264 tỷ đô la trong năm 2025. Để so sánh, hồi 2024 khoản thu vào từ thuế hải quan này chỉ là 80 tỷ đô la. Nhưng chỉ cần đặt câu hỏi, ai đã chuyển số tiền 264 tỷ đó vào công quỹ Nhà nước thì câu trả lời hiển nhiên là người dân Mỹ, là người tiêu dùng ở Mỹ. Có điều với quyết định của Tòa Án Tối Cao hôm 20/02/2026 thì 2 phần ba khoản bội thu 264 tỷ vừa nói, có thể sẽ phải hoàn trả lại cho các công ty nhập khẩu của Hoa Kỳ, nếu có yêu cầu, để rồi số này phải trả lại cho khách hàng … »
Theo nghiên cứu của viện nghiên cứu của Đức, Kiel Institute, 96 % thuế hải quan mà tổng thống Trump ban hành là do các công ty và người tiêu dùng ở Mỹ gánh chịu, 4 % còn lại đè nặng lên các nhà sản xuất và xuất khẩu muốn chen chân vào thị trường Hoa Kỳ.
Báo cáo của đại học Yale chỉ ra rằng trong năm 2025, trung bình mỗi hộ gia đình ở Mỹ phải chi thêm 1.751 đô la vì các biện pháp thuế quan nói trên. Điều đó cũng có nghĩa là vì loại thuế này mà lạm phát ở Mỹ tăng lên thêm trong năm qua. Giá tiền ga tăng 11 % (trước khi nổ ra chiến tranh Trung Đông), tiền điện tăng thêm 6,7 %.
Thất bại 3 KHÔNG
Về câu hỏi thuế đối ứng của Mỹ có cho phép Hoa Kỳ thu hẹp nhập siêu với các bạn hàng hay không thì câu trả lời là không. Báo cáo Brookings Papers on Economic Activity công bố tháng 3/2026 kết luận « chính sách thuế quan của ông Trump khiến 2025 trở thành một năm đặc biệt có nhiều biến động về kinh tế ». Trung Quốc cũng như châu Âu không phải là những bên gánh chịu nặng nhất thuế hải quan của ông Trump. Theo Cục Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ, thâm hụt mậu dịch của Mỹ trong năm 2025 tăng thêm 2 % so với hồi 2024 và đạt ngưỡng kỷ lục 1.240 tỷ đô la.
Trong khi đó ngành xuất khẩu của Trung Quốc vẫn an toàn : xuất khẩu sang Mỹ giảm 20 % năm ngoái nhưng lại tăng mạnh tại châu Âu (+28 %) và nhất là sang các nước Đông Nam Á (+29 %).
Thuế hải quan có thôi thúc các nhà sản xuất quốc tế ồ ạt đầu tư vào Mỹ để phát triển mạng lưới công nghiệp của Hoa Kỳ hay không, câu trả lời là không. Trong năm 2025 công nghiệp Mỹ sa thải 100.000 nhân viên.
15 hiệp định tự do mậu dịch, Mỹ đứng ngoài
Tuần báo kinh tế Anh The Economist ghi nhận, chính sách thương mại của Hoa Kỳ mang nặng màu sắc bảo hộ nói trên là động lực thúc đẩy cộng đồng quốc tế ký kết 15 thỏa thuận thương mại quan trọng trong năm vừa qua. Từ tháng 5 đến tháng 12/2025 tổng trao đổi mậu dịch giữa Anh, Canada Liên Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sĩ tăng thêm 5 %.
Theo thống kê của hải quan Trung Quốc công bố tháng 1/2026, trong năm 2025, thặng dư mậu dịch nước này lên tới 1.189 tỷ đô la - tương đương với GDP của quốc vương dầu hỏa Ả Rập Xê Út, tăng thêm 20 % so với tài khóa 2024.
Ông Trump thất bại trong việc kiềm tỏa các nhà xuất khẩu của đối thủ thương mại lớn nhất và nguy hiểm nhất trong mắt Hoa Kỳ.
Có điều trong một năm qua tổng thống Hoa Kỳ đã làm đảo lộn trật tự thế giới trên bàn cờ thương mại, như Erwan Benazet của báo Le Parisien ghi nhận :
« Chúng ta đang đứng trước một chuyển biến, thay đổi cục diện thương mại toàn cầu, một bước ngoặt trong giao thương quốc tế từ hơn 50 năm qua. Trong thời gian gần đây, cụm từ thường được nhắc đến nhiều nhất là ‘chủ quyền’, là ‘tự chủ’. Các nền kinh tế càng lúc càng tìm cách đa dạng hóa các nguồn cung ứng và tìm kiếm thêm những thị trường thay thế ».
Công cụ thuế quan của chính quyền Donald Trump không phân biệt « các nước bạn và thù » mà điển hình là Canada hay Mêhicô sát cạnh đều lãnh búa rìu của Nhà Trắng.
Trong tinh thần đó hơn bao giờ hết, Canada đã thắt chặt thêm quan hệ với Liên Âu. Du khách Canada thăm Mỹ vắng dần. Theo hiệp hội du lịch USA Travel Association, ngành lịch Mỹ thất thu 4 tỷ đô la năm ngoái do lượng du khách Canada giảm 20 %.
Tue, 28 Apr 2026 - 266 - Khan hiếm dầu hỏa Trung Đông, cơ hội cho năng lượng sạch Trung Quốc
Washington đang giúp Bắc Kinh trở thành một mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu. Chiến tranh Trung Đông là bàn đạp cho năng lượng tái tạo Trung Quốc vào lúc quốc gia châu Á này đã đi trước phương Tây về công nghệ chế tạo bình điện cho ô tô, năng lượng gió và pin mặt trời.
Cuộc chạy đua tìm nguồn năng lượng thay thế
Do tác động xung đột ở Vùng Vịnh từ hôm 28/02/2026, eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa, thế giới mất đi 1/5 năng lượng hóa thạch (dầu hỏa và khí đốt) phải đi qua « vùng chiến sự này ».
Châu Á lao vào một cuộc chạy đua tìm các nguồn cung cấp thay thế cho năng lượng nhập khẩu từ Trung Đông. Bản thân Trung Quốc vỗn phụ thuộc đến 13 % của Iran và gần 50 % vào năng lượng hóa thạch từ các nước trong Vùng Vịnh, đang phải đối mặt với nguy cơ tăng trưởng sụt giảm nếu chiến tranh Trung Đông kéo dài.
Bốn năm sau « khủng hoảng năng lượng » vì chiến tranh Ukraina gây nên, Liên Hiệp Châu Âu một lần nữa lại lo « khủng hoảng dầu từ Trung Đông » làm tê liệt các nhà máy, thiếu hụt nhiên liệu máy bay trước thềm mùa du lịch cao điểm của hai tháng hè.
Liên minh châu Âu, Anh, Pháp hay Nhật Bản, Philippines... các chính phủ đã phản ứng trước việc giá dầu và khí đốt tăng bằng cách kêu gọi « tăng tốc tiến trình điện hóa » và phát triển hạ tầng năng lượng sạch.
Kêu gọi mở rộng mạng lưới cung cấp điện gió, điện mặt trời, sử dụng ô tô điện được coi là những giải pháp đầu tiên để bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch.
Châu Âu vội vàng giảm nhẹ các chuẩn mực về môi trường để quan tâm hơn đến điện hạt nhân và kể cả than đá. Tại Seoul, tổng thống Lee Jae Myung cảnh báo tương lai Hàn Quốc bị đe dọa nếu như quốc gia này « tiếp tục bị phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch ».
Thậm chí tại Irak, một quốc gia dầu hỏa thì nhu cầu trang bị pin mặt trời mà Trung Quốc là bên cung cấp độc quyền, đã tăng mạnh trong tháng 3/2026.
Sau hai tháng eo biển Hormuz bị phong tỏa, nhiều quốc gia xem năng lượng tái tạo, ô tô điện là « những giải pháp thay thế », để bảo toàn tăng trưởng.
Công nghệ và năng lượng xanh trong tay Bắc Kinh
Trong tất cả những lĩnh vực này, Trung Quốc đang dẫn đầu : đã chinh phục 70 % thị trường ô tô điện trên thế giới và 80 % pin mặt trời các hộ gia đình đang trang bị hiện nay là sản phẩm made in China, theo số liệu của Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế AIE.
Chỉ riêng trong tháng 2/2026 khi căng thẳng giữa Iran với Hoa Kỳ bắt đầu leo thang, Trung Quốc xuất khẩu hơn 20 tỷ đô la « công nghệ xanh » cho thế giới. Thống kê của hải quan nước này cho thấy khối lượng ô tô điện Trung Quốc xuất khẩu trong tháng 3/2026 tăng « hơn gấp đôi » so với cùng thời kỳ năm ngoái.
« Trung Quốc là bên thắng lớn »
Nhà nghiên cứu về khí hậu và năng lượng tại cơ quan tư vấn của Mỹ Council on Foreign Relations David M. Hart nhận định « Trung Quốc là bên thắng lớn ».
Trả lời thông tín viên RFI tại Bắc Kinh, Cléa Broadhurst, giáo sự Đinh Nhất Phàm ( Ding Yifan) thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển Thế giới thuộc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển – Institute of World Development Studies giải thích thêm về thành quả Trung Quốc có được hôm nay :
« Đây là kết quả của cả một quá trình hơn 10 năm Trung Quốc tìm cách đa dạng hóa các nguồn năng lượng. Bắc Kinh vừa đa dạng hóa các nguồn nhiệt điện, vừa phát triển năng lượng xanh trọng mọi lĩnh vực. Do vậy Trung Quốc đã chuẩn bị để đối phó với mọi tình huống, kể cả trong trường hợp đột ngột mất đi một nguồn cung cấp. Bắc Kinh đã đầu tư rất nhiều để phát triển năng lượng tái tạo. Hiện nay Trung Quốc là nguồn sản xuất điện gió và điện mặt trời số 1 trên thế giới, chiếm gần một nửa năng lượng xanh sản xuất trên thế giới. Nhờ thế mà quốc gia này giảm thiểu được đáng kể những nguy cơ thiếu hụt năng lượng hóa thạch ».
Nghiên cứu của đại học Oxford năm 2025 cho thấy năng lượng tái tạo giúp Bắc Kinh bớt phụ thuộc từ 50 đến 60 % vào năng lượng hóa thạch của Trung Đông. Theo cơ quan tư vấn Ember Energy, trong giai đoạn 2022 -2030 sản xuất năng lượng xanh của Trung Quốc tăng « gấp đôi ». Bản thân Trung Quốc cũng đang là một tấm gương trong lĩnh vực này : 12 % xe hơi lưu hành tại Trung Quốc là xe chạy điện, 30 % xe vận tải mới bán ra trên thị trường ở Hoa Lục không còn chạy bằng xăng hay dầu.
Cú hích cho xuất khẩu
Một nhà xuât khẩu pin mặt trời tại Thanh Đảo được báo kinh tế Pháp Les Echos trích dẫn cho biết, trong tháng 3/2026 doanh thu tăng lên gấp ba lần so với một tháng trước đó. Ngay những giờ đầu khi eo biển Hormuz bị đóng cửa, Philippines vốn phải nhập khẩu đến 98 % dầu hỏa tiêu thụ nội địa, đã lập tức « ban hành tình trạng khẩn cấp năng lượng » đồng thời « tăng tốc tiến trình phát triển năng lượng xanh ».
Báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal ghi nhận, để thực hiện mục tiêu này, Manila sẽ « phụ thuộc nhiều hơn vào thiết bị của Trung Quốc ». Điều đó cũng có nghĩa là Philiipines nên nhanh chóng quên đi những tranh chấp chủ quyền biển đảo với Bắc Kinh.
Eo biển Hormuz bị đóng cửa dài ngày, từ Canada đến Phần Lan, Anh Quốc đều vội vã « sưởi ấm quan hệ với Bắc Kinh ». Thủ tướng Tây Ban Nha vừa đến Trung Quốc và một trong những hồ sơ lớn được thảo luận liên quan đến « hợp tác phát triển năng lượng xanh », « bảo đảm an toàn cho các nguồn cung cấp khoáng sản chiến lược », nguyên liệu thiết yếu cho công nghệ xanh. Bộ trưởng Kinh Tế Đức chuẩn bị đến Bắc Kinh với những mục tiêu tương tự. Trong điều kiện đó, liệu Bruxelles còn dám đòi đánh thuế ô tô điện của Trung Quốc xuất khẩu sang châu Âu hay không ?
Chuyên gia người Trung Quốc Định Nhất Phàm nêu lên một khía cạnh khác cho thấy xung đột ở Trung Đông vừa thách thức Bắc Kinh nhưng cũng vừa mở ra nhiều cơ hội cho nước này.
« Tàu thuyền Trung Quốc đã được phép đi qua. Ngay cả trong trường hợp eo biển Hormuz có hoàn toàn bị phong tỏa đi chăng nữa thì với các nguồn cung cấp đa dạng như với Nga, Úc hay năng lượng đi qua ngả Alaska, dây chuyền cung cấp cho Trung Quốc không sợ bị đứt quãng. Nhưng đối với các doanh nghiệp thì khác. Tập đoàn vận tải đường biển Cosco, lớn nhất thế giới chẳng hạn, đang thực sự đau đầu vì tình hình ở eo biển Hormuz. Cùng lúc một số phương tiện giao thông khác lại có lợi, chẳng hạn như chuyên chở bằng đường sắt, hệ thống xe tải trên bộ … »
Một cột trụ tương lai trên bàn cờ năng lượng quốc tế ?
Nhìn xa hơn, Trung Quốc đang củng cố hình ảnh của một quốc gia đáng tin cậy trên nhiều phương diện kể cả trong vai trò một nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy, bao gồm cả các nước trong Vùng Vịnh. Chuyên gia Trung Quốc về khu vực này thuộc Đại học ngoại ngữ Chiết Giang, Mã Hiểu Lâm (Ma Xiaolin), phân tích với RFI :
« Không loại trừ khả năng chiến tranh Trung Đông là bệ phóng cho công nghệ của Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, siêu dữ liệu, điện toán hiệu năng cao... Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đang muốn phát huy các lĩnh vực này. Năm ngoái, Abou Dabi đã đầu tư rất nhiều vào Mỹ để xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu. Nhưng với những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, với những xáo trộn ở Trung Đông và nhất là sau vụ Iran phá hủy những trung tâm xử lý dữ liệu của Amazone và Oracle, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể sẽ đẩy mạnh hướng hợp tác với Trung Quốc về công nghệ cao ».
Công nghệ xanh và khoáng sản chiến lược
Không có khoáng sản hiếm thì không có công nghệ xanh. Hiện tại, Trung Quốc đang kiểm soát đến 90 % xuất khẩu đất hiếm. Cả Mỹ cũng phải phụ thuộc vào đối tác châu Á này. Vừa có nguyên liệu, vừa làm chủ công nghệ chế tạo từ bình điện ô tô đến xe hơi, từ những tấm pin mặt trời đến công nghiệp chế tạo cánh quạt để tạo ra năng lượng gió.
Thông tín viên Cléa Broadhurts từ Bắc Kinh nói đến thế áp đảo của Trung Quốc ở nhiều cấp độ khác nhau.
« Giá đất hiếm tăng mạnh, nhu cầu về năng lượng tái tạo bùng nổ. Trung Quốc củng cố vị thế chiến lược ở nhiều cấp độ. Trước hết, liên quan đến đất hiếm. Đây là những kim loại thiết yếu trong công nghệ điện gió, cũng không thể thiếu để chế tạo bình điện ô tô hay xe điện. Trên tất cả những lĩnh vực này Trung Quốc đều chiếm thế thượng phong và nhất là đang kiểm soát phần lớn dây chuyển sản xuất. Việc giá cả tăng 45 % là tín hiệu mạnh. Lý do là Trung Quốc vừa hạn chế xuất khẩu vừa đang đối phó với căng thẳng ngày càng lớn với Washington. Mỹ muốn bảo đảm các nguồn cung cấp về khoáng sản chiến lược.
Ngoài ra Bắc Kinh còn được hưởng lợi từ khan hiếm năng lượng toàn cầu. Chiến tranh Trung Đông gây xáo trộn trên thị trường dầu hỏa và khí đốt, như thể đang tạo đà cho năng lượng tái tạo. Nhiều quốc gia trên thế giới và người tiêu dùng tư nhân đang hướng về năng lượng mặt trời, năng lượng gió và bình điện để thay thế. Trung Quốc đang dẫn đầu trên tất cả những phương diện đó. Phần lớn pin mặt trời trên thế giới là do Trung Quốc sản xuất, bình điện hay ô tô điện cũng vậy. Hệ quả là kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc trong các lĩnh vực này tăng nhanh. Đối với nhiều quốc gia, giảm phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch có nghĩa là phải chấp nhận để lệ thuộc vào thiết bị của Trung Quốc. Đây là một sự thay đổi thầm lặng. Chuyển đổi năng lượng cũng đang làm thay đổi tương quan lực lượng giữa Trung Quốc với phần còn lại trên thế giới. Chưa chắc đây sẽ là một mối quan hệ sẽ cân đối hơn ».
Sau hai tháng chiến sự tại Trung Đông, Trung Quốc cũng như phần còn lại trên thế giới đương nhiên mong thị trường dầu, khí hạ nhiệt. Cái may của Bắc Kinh là có thể trông cậy vào năng lượng hóa thạch của Nga.
Cùng lúc, cơn sốt năng lượng hiện tại là một cú hích bất ngờ cho các nhà sản xuất ô tô điện Trung Quốc, là một tin vui cho ngành xuất khẩu thiết bị năng lượng xanh. Chỉ có các quốc gia phải nhập khẩu năng lượng thì đang chuyển từ tình trạng « phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch » mà các nước Vùng Vịnh đến nay là một đối tác quan trọng bậc nhất, sang thế phụ thuộc vào Trung Quốc.
Giới trong ngành nói đến một « cuộc cách mạng đang hình thành trên bàn cờ năng lượng quốc tế », có lợi cho Bắc Kinh. Chiến tranh Iran mà Mỹ và Israel khởi động là bệ phóng cho ngành công nghệ xanh của đối thủ quan trọng nhất trong mắt Washington.
Tue, 21 Apr 2026
Podcast simili a <nome>
Closing Bell CNBC
CNBC's "Fast Money" CNBC
Power Lunch CNBC
El Partidazo de COPE COPE
Herrera en COPE COPE
A traves de la Biblia Emisora Nuevo Continente
Es la Mañana de Federico esRadio
La noche de Cuesta esRadio
Hondelatte Raconte Europe 1
Affaires sensibles France Inter
LEGEND Guillaume Pley
[KBS WORLD Radio] Bản tin hàng ngày KBS WORLD Radio
El colegio invisible OndaCero
Les grands dossiers de l'Histoire par Franck Ferrand Radio Classique
No Title RFI
Chương trình 60' RFI Tiếng Việt
Entrez dans l'Histoire RTL
Les Grosses Têtes RTL
L'Heure Du Crime RTL
A Través de la Biblia RTM Estados Unidos
Cổ nhạc Việt Nam SBS
SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ SBS
El Larguero SER Podcast
SER Historia SER Podcast
Altri podcast di Affari e Finanza
BFM Bourse BFM Business
C'est votre argent BFM Business
Les experts BFM Business
Choses à Savoir ÉCONOMIE Choses à Savoir
UNBX, le podcast de la réussite UNBX
Entendez-vous l'éco ? France Culture
Freedom to be Happy Sukriti Vadhera Kohli
Sound Laws of Success Podcast James Karl Butler
Le marché de François-Régis Gaudry France Inter
Dubai Owen
Culture IA BFM Business
La librairie de l'éco BFM Business
Grands Leaders, les leçons de l'Histoire Radio Classique
BFM Crypto BFM Business
Tanguy Pastureau maltraite l'info France Inter
UNBX, le podcast de la réussite UNBX
مُلخص كتاب Podcast Record
Contas-Poupança Pedro Andersson
Tout pour investir BFM Business
CUISINE ET CONFIDENCES Anne-Bénédicte REBBOAH
