Nach Genre filtern
- 121 - Nhạc ngoại lời Việt : Graciela Susana, Vĩnh biệt tình ta
Được mệnh danh là Cánh chim họa mi của Nam Mỹ, Graciela Susana là một trong nghệ sĩ nước ngoài hiếm hoi thành công tại Nhật Bản. Nhờ những bản phóng tác sang tiếng Nhật, cô đã giúp phổ biến thể điệu tango và các khúc nhạc dân gian tai xứ Phù Tang. Trong số những giai điệu của cô từng được đặt thêm lời Việt, nổi tiếng nhất vẫn là hai nhạc phẩm "Đi trong mùa thu" và "Vĩnh biệt tình ta".
Sinh trưởng tại Buenos Aires trong một gia đình nhạc sĩ, Graciela Susana Ambrosio (1953-2024) từ thời còn nhỏ đã thừa hưởng năng khiếu nghệ thuật của thân phụ (Ricardo Ambrosio), nguyên là ca sĩ và nghệ sĩ dương cầm trong dàn nhạc của Tito Cosentino, nổi tiếng ở thủ đô Argentina. Thời niên thiếu, Graciela thường đi biểu diễn cùng với chị ruột (Cristina Ambrosio) trong ban song ca Las Hermanitas Ambrosio. Ban đầu hát dân ca Nam Mỹ, Graciela sau đó chuyển sang dòng nhạc tango, khi khởi nghiệp solo. Nhờ được đào tạo bài bản với các bậc thầy tango (Ángel Kelo Palacios, Roberto Lara và Alba Vellón), Graciela đoạt giải Tài năng mới nhân kỳ Liên hoan âm nhạc Tango La Falda năm 1970.
Vào năm 18 tuổi, Graciela Susana thực hiện bước đột phá ngoạn mục khi lọt vào mắt của nam danh ca người Nhật Yōichi Sugawara. Ông xiêu lòng trước màn trình diễn của Graciela tại một quán nhạc tango (El Viejo Almacén) nổi tiếng ở Buenos Aires. Ông Yōichi sau đó đã mời Graciela đến Tokyo, giúp cô chinh phuc thị trường Nhật Bản, đánh dấu bước khởi đầu cho một sự nghiệp quốc tế, kéo dài trong nhiều thập niên liền.
Đặt chân lên xứ hoa anh đào, Graciela ký hợp đồng ghi âm với công ty Toshiba-EMI, thành công ngay từ những album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên, trong đó có tập nhạc "Adoro, La Reine de Saba" phát hành vào năm 1973. Kết hợp tango, dân ca và nhạc folk, abum ăn khách này trụ vững trên bảng xếp hạng Oricon của Nhật Bản trong vòng hơn 3 năm, lập kỷ lục số bán với hơn một triệu bản. Nhạc phẩm chủ đề "Adoro" từng được tác giả Phạm Duy chuyển lời thành giai điệu "Vĩnh biệt tình ta".
Sau một thời gian lập nghiệp tại Tokyo, Graciela Susana tập trung vào việc học thêm tiếng Nhật. Vào năm 1982, cô nhận giải thưởng của đài truyền hình NHK dành cho nghệ sĩ nước ngoài xuất sắc nhất nhờ màn trình diễn "Hitori/goto". Đầu thập niên 1990, nhờ nói thông thạo tiếng Nhật, Graciela Susana đã dẫn chương trình phát thanh trên đài NHK trong vòng 3 năm liền, quảng bá tango và dòng nhạc La Tinh thông qua các cuộc phỏng vấn các nghệ sĩ trứ danh Nam Mỹ như Quilapayún hay Paco de Lucía.
Nhờ thu hút đông đảo người hâm mộ trung thành, Graciela Susana thường đi biểu diễn thường xuyên tại nhiều liên hoan khắp Nhật Bản. Cũng từ đó, Graciela chuyên phóng tác các điệu tango kinh điển như "La Cumparsita" hay "Caminito" sang tiếng Nhật. Các album chuyên đề dành cho thị trường Nhật Bản càng củng cố uy tín của Graciela như một nghệ sĩ nước ngoài hát tiếng Nhật điêu luyện, nhờ vậy mà các album phòng thu của Graciela những năm 1990 đều thành công rực rỡ như Amor (1991), Ai no Uta wo Ima Anata ni (1992), Seijo to Yobarete (1996), hoà quyện phong cách tango, chất trữ tình của dòng nhạc La Tinh với nhạc pop Nhật Bản. Tuy không còn thuần chất tango Argentina, nhưng lối diễn giải này vẫn tràn đầy cảm xúc, giúp các bản tango kinh điển chinh phục được thêm nhiều khán giả châu Á.
Sau nhiều năm lập nghiệp ở Nhật Bản, Graciela trở về quê nhà vào năm 2011. Tuy không hẳn giải nghệ, nhưng Graciela dần xa lánh ánh đèn sân khấu vì lý do sức khỏe. Vào cuối năm 2024, nghệ sĩ này đột ngột qua đời do lâm bạo bệnh tại Buenos Aires, ở tuổi 71.
Trong suốt sự nghiệp của mình, Graciela Susana đã thu âm hơn 60 album, nhận được nhiều đĩa vàng cũng như nhiều giải thưởng quan trọng. Chất giọng trầm ấm của Graciela chỉ cần có tiếng đệm của đàn ghi ta, tạo ra được những cảm xúc khó tả, như tiếng hót mượt mà của loài họa mi Argentina.
Sat, 26 Sep 2026 - 120 - Những bản nhạc kinh điển của Céline Dion
Cuối tuần này, Céline Dion khai mạc chuyến lưu diễn trên sân khấu Plenitude Arena ở La Défense, vùng ngoại ô Paris, đánh dấu ngày diva nhạc pop người Canada tái ngộ khán giả thủ đô Pháp, sau nhiều năm vắng bóng. Đây là dịp nghe lại trong chương trình Góc vườn âm nhạc RFI những tình khúc gắn liền với tên tuổi của Céline Dion, trong đó có nhiều bài hát từng được đặt thêm lời Việt.
Tính tổng cộng, ban tổ chức đã lên lịch 26 buổi biểu diễn tại Paris, 16 buổi vào mùa thu năm 2026, kể từ hôm nay 12/09 cho đến ngày giữa tháng 10. Đợt trình diễn này sau đó tiếp tục vào mùa xuân năm tới với 10 đêm bổ sung từ ngày 08/05 đến ngày 29/05/2027. Có thể nói là giới hâm mộ đã chờ đợi sự kiện này từ khá lâu, cho nên rất nhiều fan từ khắp nơi cùng đổ về Paris nhân dịp này.
Céline Dion là một trong ba diva có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới, cùng với Whitney Houston và Mariah Carey .... tiếp nối con đường của Aretha Franklin và Barbra Streisand
Trong vòng hơn 40 năm sự nghiệp, Céline đã giành được 5 giải Grammy, trong đó có giải dành cho bản Thu âm xuất sắc nhất trong năm (Record of the Year) và Giọng ca nữ nhạc pop xuất sắc nhất (Best Female Pop Vocal) dành cho nhạc phẩm "My heart will go on", ca khúc chủ đề bộ phim Titanic, nhân lễ trao giải Grammy lần thứ 41 vào năm 1999.
Thời kỳ huy hoàng nhất của Céline Dion là vào giữa thập niên 1990, trong giai đoạn này diva nhạc pop liên tục lập kỷ lục số bán với các album tiếng Anh, chinh phục thị trường quốc tế. Trong số các tập nhạc bán chạy nhất của Celine Dion, có 32 triệu bản của album "Falling into You" (1996) phát hành cách đây đúng ba thập niên cũng như 31 triệu bản của "Let's talk about Love" (1997) được bán trên toàn thế giới.
Hầu hết các đĩa đơn trích từ hai album này đều được xem là những bản kiệt tác trong thể loại power ballad. Đằng sau Céline Dion là một nhóm sáng tác hùng hậu, chuyên nghiệp hàng đầu như Diane Warren (Because you loved me) Jim Steinman (It's all coming back to me now" và nhà sản xuất David Foster (All by myself) đưa tên tuổi của Céline lên đỉnh cao danh vọng toàn cầu.
Album "Falling in to you" đã đem về cho Céline 2 giải Grammy solo đầu tiên dành cho Album hay nhất và Album nhạc pop xuất sắc nhất, nhân lễ trao giải Grammy vào năm 1997. Trong số những bài hát làm nên tên tuổi của Céline Dion, trước hết phải kể đến "The Power of Love"(Mãnh lực tình yêu) đánh dấu bước ngoặt lớn đầu tiên với đĩa đơn quán quân bảng xếp hạng Billboard. Giai điệu này mở ra một loạt bản hit đình đám khác như "To love you more, The Reason", "Immortality"hát với nhóm Bee Gees và nhất là "All by myself". Đoạn ngân dài ở phần giữa bài hát này thường khiến người nghe phải rùng mình, nổi da gà.
Ngoài chất giọng nữ cao trữ tình đầy kịch tính, Céline còn chuyên luyện giọng để nắm vững kỹ thuật cao về thanh nhạc. Vì vậy, đa số các ca khúc của Céline thường nổi tiếng là khó hát và được xem là "thước đo" trong nhiều cuộc thi hát truyền hình đối với nhiều nghệ sĩ tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới.
Mỗi khi cất tiếng hát, chất giọng của Céline thường vang xa, vút bay nhờ nội lực tràn đầy. Nhưng quan trọng hơn nữa là giọng ca này giàu cảm xúc, biết dựa vào lời ca, tận dụng lối hoà âm đa tầng, nét tinh tế trong cấu trúc để tạo điểm nhấn riêng cho từng tiết tấu cũng như khúc thức. Mỗi lần Céline thả hồn vào phiên khúc, người hâm mộ lại chợt nghe tâm hồn xao xuyến rạo rực, âm thanh tiềm tàng mãnh lực, kỷ niệm ngập tràn ký ức.
Sat, 12 Sep 2026 - 119 - Nhạc Pháp lời Việt : Tuyển tập song ca của Hélène Ségara
"Hélène Ségara & Friends" là tựa đề album phòng thu thứ 11 của ca sĩ người Pháp Hélène Ségara. Tập nhạc này bao gồm 12 bài song ca, ghi âm lại những bài hát ăn khách với dàn nghệ sĩ tên tuổi của Pháp cũng như quốc tế, trong đó có diva người Ý Laura Pausini, ca sĩ người Mỹ Lana Parrilla hay nghệ sĩ Hàn Quốc Sung Si-kyung.
Được phát hành vào mùa hè năm 2026, album này được trình làng nhân dịp kỷ niệm 30 năm sự nghiệp ca hát của Hélène Ségara. Ngoài tuyển tập song ca, ca sĩ người Pháp còn chuẩn bị vòng lưu diễn trên các sân khấu lớn, tìm lại người hâm mộ trong không gian âm nhạc ngập tràn hoài niệm.
Tên thật là Hélène Rizzo, cô sinh trưởng trong một gia đình người Pháp gốc Ý. Nhờ có năng khiếu âm nhạc, Hélène Ségara bắt đầu đi hát từ năm 15 tuổi trong các quán nhạc địa phương. Vào năm 25 tuổi, cô đến Paris lập nghiệp, ban ngày đi làm kiếm sống, ban đêm đi hát quán bar. Tài nghệ của Hélène lọt vào mắt nhà sản xuất Orlando, em trai của thần tượng quá cố Dalida. Nhờ vào sự dìu dắt của ông, Hélène Ségara thành công với album phòng thu đầu tay vào năm 1996 với tựa đề "Coeur de Verre" (Trái tim thủy tinh), doanh thu đạt mức đĩa bạch kim. Hai người hợp tác với nhau cho đến năm 2013, Hélène sau đó thu âm phiên bản tiếng Pháp của bài hát kinh điển "Chuyện tình yêu" (Histoire d'un amour) phiên bản tiếng Pháp đầu tiên do Dalida ghi âm.
Sau bước đầu thành công này, tên tuổi của cô thực sự đạt đỉnh cao nhờ hai sự kiện nổi bật : Hélène được chọn vào vai cô gái du mục Esmeralda xinh đẹp trong vở nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris (Notre-Dame de Paris) của hai tác giả Luc Plamondon và Richard Cocciante. Giọng ca của Hélène Ségara còn nổi bật nhờ ghi âm phiên bản phóng tác tiếng Pháp của nhạc phẩm "Vivo Per Lei " (Je vis pour elle) vào năm 1997. Màn song ca xuất sắc cùng giọng ca tenor người Ý Andrea Bocelli là bệ phóng đưa tên tuổi của cô vào quỹ đạo thành công. Khi thực hiện bản phối mới cho tuyển tập song ca 2026, Hélène Ségara đã mời Florent Pagny, người làm nên tên tuổi của nhóm Il Cello, ghi âm lại giai điệu này. Trong tiếng Việt, "Vivo per lei" từng được tác giả Nhật Ngân chuyển thành nhạc phẩm "Tình yêu cho em" qua hai giọng ca Khánh Hà và Bằng Kiều.
Thành công của bản song ca mở ra vào những năm 2000 thời kỳ vàng son của Hélène Ségara với nhiều bài hát cực kỳ ăn khách. Ca sĩ người Pháp khẳng định vị thế nghệ sĩ hàng đầu qua nhiều album thành công vang dội. Quan trọng nhất vẫn là tập nhạc "Au nom d'une femme" lập kỷ lục số bán với hơn một triệu bản, tương đương với đĩa kim cương, album này cũng mang lại cho Hélène danh hiệu giọng ca nữ xuất sắc nhất nhân kỳ trao tặng Giải thưởng Âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp.
Trong giai đoạn này có nhiều bài hát ăn khách như "Il y a trop de gens qui t'aiment", "Elle, tu l'aimes" lời tiếng Việt là "Không còn yêu" qua phần ghi âm của Mỹ Tâm, bài song ca ảo với Joe Dassin "À toi" từng được ca sĩ Duy Quang chuyển thành nhạc phẩm "Này em" và nhất là bản song ca với Laura Pausini "On n'oublie jamais rien", từng được nhạc sĩ Nhật Ngân đặt lời thành nhạc phẩm "Sẽ không bao giờ quên anh".
Trong những năm gần đây, Hélène Ségara được mời làm thành viên ban giám khảo chương trình tìm kiếm tài năng mới tại Pháp (La France a un Incroyable talent). Nhờ vậy, cô vẫn giữ liên lạc với giới hâm mộ và thường xuyên tham gia các show ca nhạc truyền hình.
Trong ba thập niên sự nghiệp, Hélène Ségara đã thực hiện 11 album phòng thu, bán được hơn 15 triệu đĩa hát. Với chất giọng trong trẻo ngọt ngào, cách nhả chữ trau chuốt, vibrato giàu cảm xúc, Hélène Ségara còn nối bước thế hệ trước là Nana Mouskouri và Danielle Licari trong cách dùng vocalise. Tuyển tập song ca vừa được phát hành đánh dấu một hành trình khá dài từ những quán nhạc phòng trà nho nhỏ tại miền nam nước Pháp, cho đến đỉnh cao danh vọng nhờ sở trường hát tình ca kinh điển, đưa giai điệu vào miền ký ức miên viễn, cho dư âm xao xuyến, đánh cắp bao trái tim, thả hồn trong kỷ niệm.
Sat, 29 Aug 2026 - 118 - Album Wallflower (2015) - Bữa tiệc âm nhạc của Diana Krall
Wallflower, album phòng thu thứ 12 của Diana Krall, ngôi sao jazz Canada đưa khán giả ngược dòng thời gian dạo chơi với những tác phẩm pop/rock kinh điển. Hợp tác với nhà sản xuất tài ba David Foster, Diana chiêu đãi khán giả bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn nhất sự nghiệp.
Gương mặt sáng giá jazz Canada
Diana Krall bắt đầu sự nghiệp từ năm 1992 với album đầu tay Stepping Out. Cô bứt phá ngoạn mục sau 4 năm nhờ album All for You: A Dedication to the Nat King Cole Trio(1996), cover ca khúc bất hủ của tượng đài jazz Nat King Cole. Album gây tiếng vang lớn, giúp cô nhận đề cử Grammy đầu tiên. Nữ nghệ sỹ jazz sinh năm 1964 nổi tiếng với chất giọng contralto, quãng trầm dầy, ấm áp, có màu sắc riêng biệt. Cô từng đoạt 2 giải Grammy ở hạng mục Album Jazz của năm. Đáng chú ý, trường Đại học Victoria, bang British Columbia trao bằng tiến sỹ Nghệ thuật danh dự cho Diana nhờ đóng góp nghệ thuật của siêu sao nhạc jazz. Cô kết hôn với nhạc sỹ người Anh, Elvis Costello năm 2003 và có hai con trai với Elvis.
Album Wallflower sản xuất năm 2015 là dự án nhạc pop đặc biệt của Diana, xa rời sở trường jazz quen thuộc. Nữ nghệ sỹ làm mới những tác phẩm kinh điển nhóm The Eagles, Bob Dylan, Elton John, The Carpenters theo màu sắc ngẫu hứng jazz. Đặc biệt, Diana thể hiện bản ballad đẹp,If I can take home you tonight (Nếu anh đưa em về nhà tối nay) do Sir Paul McCartney sáng tác nhưng chưa bao giờ ghi âm. Bản nhạc chứng minh tài năng phi thường của Paul McCartney chỉ trong vài nốt nhạc mở bài. Ca khúc trở thành món ăn đáng chú ý của album nhờ giai điệu sắc nét, âm hưởng buồn man mác, giọng truyền cảm của nữ ca sỹ.
Gu tuyển chọn bài hát tinh tế
Với album đậm chất hoài cổ theo tư duy mới mẻ, Diana hợp tác với David Foster, nhà xuất danh tiếng có tư duy thị trường nhạy bén với gia tài thành tích hàng loạt giải Grammy như The BodyGuard(Vệ sỹ, 1992), Unforgettable (1991). Ca khúc mở đầu albumlà California dreaming(Mơ về California), bản nhạc kinh điển gắn với tên tuổi nhóm nhạc The Mamas and The Papas. Ca khúc được sáng tác năm 1963 khi bộ đôi nhạc sỹ John và Michelle Phillips sống giữa mùa đông New York lạnh giá, nhớ về nắng ấm bang California. Nữ nghệ sỹ giới thiệu món ăn khai vị đẹp mắt, nhẹ nhàng mà giữ nguyên được linh hồn ca khúc.
David “đo ni đóng giày” cho Diana hai bản hit của nhóm rock huyền thoại The Eagles, Desperado và I can’t tell you why(Anh không thể giải thích tại sao).Nữ ca sỹkhám phá cách thể hiện mới mẻ, khác với bản gốc thô ráp, đậm chất folk-rock. Diana tạo được dấu ấn cá nhân nhờ biến tấu sang bossa nova, tiết tấu chậm rãi và cảm xúc dồi dào.
Thú vị hơn, Diana đã nâng ca khúc Superstar (Siêu sao), của nữ ca sỹ quá cố Carpenters lên một tầm cao mới. Bản cover đẹp và da diết trong phần phối khí bay bổng và tình tứ của David Foster. Giọng hát có chiều sâu của Diana khóa chặt khán giả trong không gian một chuyện tình buồn.
Sự dũng cảm có“tính toán” bài bản
Bộ đôi David Foster và Diana Krall tính toán hợp lý và dũng cảm khi cover lại nhiều bản hit lừng lẫy của các huyền thoại pop/rock. Ca khúc tựa đề album Wallflower là sáng tác của nhà thơ, nhạc sỹ Bob Dylan, người không xa lạ với phong cách folk rock đường phố. Bản cover của Diana đi theo lối nhẹ nhàng, tao nhã. Giọng hát có vị xông khói và màu sắc đặc trưng, hòa quyện tiếng guitar, miêu tả được sự cô đơn, e ngại, sự hoài mong tại bữa tiệc khiêu vũ.
Kiệt tác đi cùng năm tháng, Sorry seems to be hardest word(Xin lỗi là ngôn từ khó khăn nhất) của Sir Elton John, được nữ danh ca chế biến hoàn hảo. Không có giọng hát sắc bén, cường độ mạnh như Elton John, Diana làm mới bằng sự lịch lãm và tiết chế chắc tay. Cô tái hiện được màu trầm buồn và cao độ bi tráng của bản gốc. Vẫn tiếng piano dìu dắt, chất giọng contralto đẩy được cao trào một cách mỹ mãn. Khán giả nhận thấy Diana Krall tôn trọng và nâng niu tác phẩm gốc mặc dù làm mới theo bản năng jazz.
Bản cover lại của nhóm 10CC thập niên 70, I’m not in love(Anh không yêu em) được coi là một trong những món ăn tinh túy của album. Tác giả ca khúc không chọn lối mòn để nói Anh yêu em mà hoàn toàn ngược lại. Nữ ca sỹ rất nhập vai trong câu chuyện tình yêu mà ca khúc truyền tải. David Foster phối khí ca khúc theo lối hiện đại thiên hướng acoustic khác với bản gốc. Giọng hát Diana mê hoặc, dạo chơi trong âm thanh piano êm dịu và ca từ thông minh của ca khúc.
Những khách mời song ca đặc biệt
Album Wallflowerđược phát hành dưới hai phiên bản. Bản tiêu chuẩn gồm 12 ca khúc, bản đầy đủ có thêm 8 ca khúc. Nhà sản xuất tối đa hóa tính thương mại của album nhờ vào cộng hưởng tệp khán giả nhạc jazz với country, soft pop/rock. Chính vì thế, các khách mời đặc biệt như Michael Buble, Bryan Adams, Sarah McLachlan, Vince Gill giúp cho bữa tiệc âm nhạc của Diana Krall thịnh soạn hơn, nhiều hương vị lạ lẫm. Michael Buble, giúp cho bản ballad song caAlone Again (Naturally) thập niên 70 trở nên ngọt ngào hơn bản gốc trầm buồn. Màn hát bè và hát đôi ăn ý giữa Diana và Sarah McLachlan trong If you could read my mind (Nếu em đọc được suy nghĩ của anh) tạo dấu ấn khó phai về sự đổ vỡ trong hôn nhân. Ca khúc Everybody’s Taking (nhạc phim Oscar Midnight Cowboy, 1969) là kết hợp duyên dáng giữa ngôi sao nhạc country, Vince Gill cùng với Diana Krall.
AlbumWallflowerlà bước đi khôn ngoan của Diana Krall kết hợp với David Foster. Nhà sản xuất đã nâng tầm album giải trí, dễ nghe trở thành khối nam châm khổng lồ : giọng hát truyền cảm Diana, phối khí dàn nhạc dây, dàn khách mời ăn ý. Nam ca sỹ giọng khàn Bryan Adams bổ sung hoàn hảo cho Diana trong bản nhạc tình sâu lắng của Randy Newman, Feels like home (Cảm giác như mái ấm). Nhìn tổng thể, nữ nghệ sỹ piano, jazz Diana Krall đã cách tân những món ăn quen thuộc trở thành ẩm thực cao cấp cả thanh lẫn sắc.
(Theo Jazz News, Wikipedia)
Sat, 01 Aug 2026 - 117 - Nhạc ngoại lời Việt : Tomio Umezawa và liên khúc "Một thuở yêu người"
Nhắc đến giai điệu "Một thuở yêu người", giới yêu nhạc nghĩ tới ngay phiên bản tiếng Hoa rất nổi tiếng của danh ca Hồng Kông Trương Học Hữu, nhưng bản gốc lại là một bài hát tiếng Nhật do Kei Ogura & Koji Kanda đồng sáng tác vào năm 1992. Tại xứ hoa anh đào, giọng ca được cho là có lối diễn đạt sâu sắc nhất chính là ca sĩ kiêm diễn viên Tomio Umezawa.
Sinh trưởng tại tỉnh Fukushima, Tomio Umezawa xuất thân từ một gia đình có dòng máu nghệ sĩ, nổi tiếng trong làng giải trí. Bố mẹ ông đều là diễn viên sân khấu (ông Kiyoshi Umezawa và bà Ryuchiyo Takezawa) tạo dấu gạch nối giữa truyền thống kịch nghệ kabuki với các chương trình tạp kỹ.
Tomio Umezawa xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu khi ông chưa đầy ba tuổi. Ông thực sự bắt đầu tham gia biểu diễn chuyên nghiệp từ năm 15 tuổi, trong đoàn kịch gia đình, do người anh ruột (Takeo Umezawa) điều hành. Mãi đến sau này, Tomio mới lên thay thế anh trai, trở thành đạo diễn và giám đốc đoàn kịch.
Vào năm 20 tuổi, Tomio tham gia các vở múa, trong đó các diễn viên nam thường đóng vai nữ "Onnagata". Tài nghệ của Tomio Umezawa có cơ hội vụt sáng thành ngôi sao nhờ những màn trình diễn được giới phê bình cho là hoàn hảo, nhờ y phục trang điểm và nhất là nhờ vào điệu bộ cử chỉ và tài nghệ múa tư nhiên. Ngoài sân khấu kịch nghệ, ông còn đóng phim truyền hình và điện ảnh. Nhờ tài ăn nói có duyên, pha trò dí dỏm cho nên ông thường được mời xuất hiện trong nhiều show truyền hình Nhật Bản.
So với các nghệ sĩ cùng thế hệ, Tomio Umezawa bước vào nghề ca hát khá muộn, ông thu âm bản nhạc nổi tiếng đầu tay với tựa đề "Yumeshibai" vào năm 1983. Giai điệu này do Kei Ogura sáng tác nhạc và lời. Với hơn nửa triệu bản bán chạy trong vài tháng, nhạc phẩm “Yumeshibai” mở đường cho nhiều bản nhạc ăn khách khác, đánh dấu sự hợp tác dài lâu giữa Tomio Umezawa với tác giả Kei Ogura.
Nhạc sĩ này sau đó sáng tác cho Tomio nhạc phẩm "Kokoro yuku made" (Tùy theo ý em). Trái ngược hoàn toàn với sân khấu kịch nghệ, nơi ông Tomio nổi bật nhờ dáng vẻ cuốn hút của những vai nữ, khi chuyển sang ca hát, Tomio Umezawa lại có một chất giọng quyến rũ trầm ấm, mạnh mẽ đầy nam tính.
Ca khúc nổi tiếng nhất của Tomio Umezawa "Kokoro yuku made" có nhiều lời Việt khác nhau. Ngoài phiên bản "Một thuở yêu người" của tác giả Khúc Lan, còn có nhạc phẩm "Yêu em ngàn đời (khó quên)" của nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn, "Tình và đời" của Jimmii Nguyễn, "Tình xưa không phai" của tác giả Chu Minh Ký (Minh Thuận).
Gần đây hơn nữa, có bài "Tình cũ chưa phai" do Đặng Thanh Tuyền sáng tác và trình bày. Các bản ghi âm lời Việt sau này gần với bản tiếng Hoa của Trương Học Hữu với tựa đề "Tình xưa còn vương vấn" hơn là bản gốc tiếng Nhật "Tùy theo ý em". Trong chương trình tuần này, có hai liên khúc "Một thuở yêu người & Dạ khúc nửa vầng trăng" (giọng ca nữ) và "Một thuở yêu người & Tình nhạt phai (giọng ca nam).
Cánh chim bay ngược gió
Giữa bầu trời âm u
Cho ước nguyện mịt mù
Tình xưa đừng dang dở
Từ hố sâu vực thẳm
Lên trời cao lồng lộng
Tim chịu đựng vang vọng
Bao tiếng sấm âm thầm
Mưa gội tình thuần khiết
Không dối gian tì vết
Dù chết vẫn mãn nguyện
Được yêu người trọn kiếp
Sat, 25 Jul 2026 - 116 - Tưởng niệm danh ca Bonnie Tyler : "Trái tim nhật thực"
Chỉ cần cất lên tiếng hát, dù với giai điệu nào đi chăng nữa, giọng ca của Bonnie Tyler đều được hầu như mọi người nhận ra ngay : một chất giọng khàn đục, gai góc đầy nội lực, trong vibrato co nhiều vết gẫy. Giọng ca độc đáo ấy giờ đây không còn nữa. Bonnie Tyler đã đột ngột qua đời ở tuổi 75 tại Faro, Bồ Đào Nha hôm 08/07/2026 do biến chứng sau ca phẫu thuật đường ruột.
Sinh trưởng tại làng Skewen xứ Wales, Bonnie Tyler (tên thật là Gaynor Hopkins 1951-2026) bắt đầu sự nghiệp biểu diễn như một ca sĩ chuyên hát cover trong các phòng trà, hộp đêm ở thành phố Swansea. Tài nghệ của cô lọt vào mắt nhà sản xuất Roger Bell, nhờ vậy Bonnie Tyler ký hợp đồng thu âm đầu tiên với hãng đĩa RCA, năm cô 24 tuổi.
Bonnie Tyler thành danh ngay từ album phòng thu đầu tay "The world starts tonight" (Thế giới bắt đầu đêm nay) nhờ vào ca khúc chủ đạo "Lost in France" lọt vào Top Ten đĩa đơn tại vương quốc Anh. Nhạc phẩm kế tiếp "It's a Heartache" phát hành vào cuối năm 1977 giúp Bonnie Tyler chinh phục thị trường quốc tế : hạng nhất tại châu Âu, Uc, Brazil, Canada hay Nam Phi, hang ba trên thị trường Hoa Kỳ.
Thời kỳ huy hoàng nhất của Bonnie Tyler là vào những năm 1980, thời cô hợp tác với nhà soạn nhạc Jim Steinman (tác giả này thành công với Meat Loaf và sau đó nữa là Céline Dion). Vào năm 1983, Bonnie Tyler cho ra đời nhạc phẩm "Total eclipse of the Heart", trích từ "Faster than the Speed of Night", album phòng thu thứ 5 của cô.
Bản nhạc này lập kỷ lục số bán tại châu Âu, đứng đầu bảng xếp hạng vương quốc Anh cũng như trên thị trường Mỹ trong nhiều tuần liên tục, nhờ vậy, Bonnie Tyler nhận hai đề cử Grammy năm 1984, bao gồm giải Giọng ca nữ xuất sắc nhất. Tác giả người Mỹ Jim Steinman từng nhận xét rằng ông đã viết nhạc phẩm "Total eclipse of the Heart" như một màn trình diễn cân xứng với giọng ca của Bonnie Tyler. Trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Quốc Bảo chuyển thành nhạc phẩm "Trái tim nhật thực", do ca sĩ Hồng Hạnh ghi âm.
Thành công này mở đường cho Bonnie Tyler ghi âm nhiều bản nhạc ăn khách, hợp tác với nhiều tác giả nôi tiếng khác như Diane Warren, Albert Hammond, Giorgio Moroder và nhất là Desmond Child (Kiss, Bon Jovi, Michael Bolton .....) cho dù giai đoạn sau khó thê sánh bằng thời kỳ của Jim Steinman với hàng loạt bản nhạc đình đám, thành công vang dội như "Holding out for a Hero", một trong những ca khúc chủ đạo của bộ phim ca nhạc "Footlose".
Trong vòng 50 năm sự nghiệp ca hát, Bonnie Tyler đã thực hiện 18 album phòng thu và bán được hơn 50 triệu bản trên toàn thế giới. Những năm cuối đời, Bonnie Tyler vẫn thường xuyên tham gia các show truyền hình và tiếp tục biểu diễn trên sân khấu, gần đây nhất là vào tháng 03/2026 tại Luân Đôn. Ra đi khá sớm, trong lúc còn nhiều dự án dang dở, album phòng thu cuối cùng của Bonnie Tyler mang tựa đề "The best is yet to come" (Những điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước).
Có một chi tiết khá thú vị, đáng lưu ý là nhạc phẩm (Simply) "The Best" mà hầu như mọi người đều biết đến qua giọng ca của Tina Turner, thật ra ban đầu là một bài hát gốc của Bonnie Tyler. Do Mike Chapman và Holly Knight sáng tác, bài hát này được Bonnie Tyler ghi âm lần đầu tiên vào năm 1988 trên album "Notes from America" (Hide your heart). Mãi đến hơn một năm sau, giai điệu này mới được Tina Turner ghi âm lại cho album "Foreign Affair" với phần độc tấu kèn saxo của Edgar Winter. Sau này, Bonnie Tyler thừa nhận trình đô diễn đạt tuyệt vời trong bản ghi âm của Tina Turner.
Chi tiết thú vị thứ nhì là chất giọng khàn khàn đặc trưng của Bonnie Tyler ban đầu không phải là tự nhiên mà thật ra xuất phát từ cuộc phẫu thuật cắt bỏ hạt xơ dây thanh quản vào năm 1977. Mặc dù bác sĩ khuyên cô nên nghỉ ngơi ít nhất trong 6 tuần để phục hồi giọng hát, nhưng do không chịu tiết kiệm lời nói, cho nên thời gian hồi phục lại kéo dài thành 6 tháng và chất giọng của Bonnie Tyler rốt cuộc đã biến đổi, nhưng ngạc nhiên thay, lại có phần hay hơn trước.
Điều mà lẽ ra có nguy cơ làm chệch hướng sự nghiệp lại biến thành một tài sản đặc biệt : khi dây thanh quản bị tổn thương, chưa lành vết, lại trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của làng nhạc chuyên nghiệp : một chất giọng độc đáo riêng biệt, một dấu ấn khó bắt chước nhưng lại dễ nhận biết.
Sat, 18 Jul 2026 - 115 - 50 năm giai thoại "Anh thì không" và phiên bản mới "Toi Jamais" của Oria
Nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không) là một giai điệu do nhạc sĩ Michel Mallory sáng tác. Bài này do Sylvie Vartan ghi âm cho album phòng thu thứ 15 của bà mang tựa đề "Qu'est ce qui fait pleurer les blondes" (Điều gì khiến các cô gái tóc vàng phải khóc) được phát hành vào năm 1976, tức cách đây đúng 50 năm.
Giai điệu "Toi Jamais" (Anh thì không) đã cho ra đời khá nhiều bản cover, trong số này có phiên bản của Jean Manson hay của Isabelle Castro. Nổi tiếng nhất là bản phóng tác theo điệu bolero của ngôi sao màn bạc Catherine Deneuve, ghi âm vào năm 2001 cho bộ phim "8 Femmes" (8 người đàn bà) của đạo diễn Pháp François Ozon. Gần đây hơn, có phiên bản phóng tác của ca sĩ trẻ tuổi Oria.
Sinh trưởng tại thành phố Nice, miền nam nước Pháp, Oria xuất thân từ một gia đình có hai dòng máu : mẹ là người Tunisia, bố là người đảo Corse. Hiện giờ, cô sinh sống và làm việc tại Cannes. Từ thời thơ ấu, Oria đã có năng khiếu ca hát nhờ được nghe rất nhiều ca khúc tiếng Pháp ở trong nhà, trong số những nghệ sĩ mà bố mẹ cô thường hay nghe có Édith Piaf và Dalida. Vào năm 25 tuổi, Oria thu hút sự chú ý của giới yêu nhạc trên mạng xã hội nhờ bản cover của nhạc phẩm "Toi Jamais" Anh thì không (lời Việt của tác giả Vũ Xuân Hùng).
Nhưng theo Oria, lần đầu tiên cô được nghe bài hát này không phải là bản gốc của Sylvie Vartan, mà lại là một bản phóng tác của một nhóm nhạc jazz. Do rất thích giai điệu này, nên Oria mới tìm hiểu thêm về bản nhạc gốc và cũng từ đó, cô bắt đầu ngưỡng mộ Sylvie Vartan, một sự kết nối gần như là tình cờ và có thể nói là ban đầu, chính giai điệu du duơng đã làm cho trái tim của Oria rung động xao xuyến.
Kết hợp dòng nhạc Pháp kinh điển với nhiều ảnh hưởng phương Đông, chủ yếu là Liban và Ai Cập, Oria đang được xem là một trong những giọng ca đầy triển vọng của năm 2026. Khi cover lại các nhạc phẩm "Une belle histoire" của Michel Fugain hay "Mon amie la rose" của Françoise Hardy, Oria đã cho thấy nét tinh tế trong lối diễn đạt nhờ chất giọng giàu cảm xúc, với khá nhiều ảnh hưởng của giọng ca người Ai Cập Natacha Atlas kết hợp với các nhịp điệu tân thời. Hiện giờ, Oria đang chuẩn bị cho album đầu tay của mình qua hai nhạc phẩm mới là "Soirée mondaine" và "Princesse de la Nuit". Hy vọng rằng cô sẽ gặt hái được nhiều thành công trong bước khởi đầu sự nghiệp.
Có một điều khá thú vị về nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không). Khi bắt tay thực hiện album phòng thu thứ 15 của Sylvie Vartan, nhạc sĩ Michel Mallory nằm trong nhóm sáng tác thứ nhì tham gia vào dự án này. Nhóm đầu tiên gồm các tác giả Delanoë, Lemesle chuyên phóng tác những bài hát Anh Mỹ ănkhách sang tiếng Pháp, một trào lưu thịnh hành vào những năm 1970 : "Qu'est ce qui fait pleurer les blondes" (Điều gì khiến các cô gái tóc vàng phải khóc) được đặt lời từ bản nhạc gốc (Ride the Lightning) của ca sĩ người Nam Phi John Kongos. Còn nhạc phẩm "La drôle de fin" trong nguyên tác là ca khúc "Last Tango" của ban nhạc Esperanto.
Trong nhóm sáng tác thứ nhì chuyên soạn nhạc tiếng Pháp, có Eddy Vartan (anh trai của Sylvie), Gilles Thibault và Michel Mallory. Cùng với Marc Benoist, Michel Mallory đã sáng tác nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không) dù biết rằng bài hát của họ sẽ không được phát hành trên đĩa đơn và ta có thể thấy điều này trong lối hoà âm, ít trau chuốt hơn so với các nhạc phẩm chủ đạo.
Nhưng rốt cuộc với thời gian, giai điệu thành công nhất trên album phòng thu thứ 15 của Sylvie Vartan chính là nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không). Những bản cover giúp cho bản nhạc này trụ vững với năm tháng, chinh phục được thêm nhiều người yêu nhạc, một giai điệu tha thiết lãng mạn không ngại bị quên lãng, năm tháng cuốn trôi, thời gian cuộn xiết làm cho phai tàn.
Sat, 11 Jul 2026 - 114 - Clive Davis : Nhà sản xuất âm nhạc tài ba nhất mọi thời đại
Đó là danh hiệu mà sinh thời, nữ hoàng nhạc soul Aretha Franklin đã tặng cho ông Clive Davis. Ông trùm của ngành công nghiệp thu âm, từng làm nên tên tuổi của nhiều ngôi sao hàng đầu, ngoài Aretha Franklin, còn có Alicia Keys, Billy Joel, Bruce Springsteen, các nhóm Santana, Chicago hay Westlife và nhất là thần tượng nhạc pop Whitney Houston. Ông Clive Davis vừa qua đời hôm 22/06/2026 tại nhà riêng ở New York, hưởng thọ 94 tuổi.
Sinh trưởng tại quận Brooklyn, New York, ông Clive Davis (1932-2026) xuất thân từ một gia đình khiêm tốn, cha ông làm nghề thợ điện, mẹ ông qua đời sớm khi Clive vẫn còn là một thiếu niên. Nhờ tính cần mẫn chăm chỉ, ông nhận được học bổng toàn phần và tốt nghiệp ngành luật đại học Harvard vào năm 1956. Ở tuổi 28, ông bước chân vào ngành công nghiệp thu âm với tư cách là luật sư tại Columbia Records một chi nhánh của hãng đĩa CBS, trước khi chuyển sang ban quản lý và trở thành giám đốc điều hành vào năm 1966.
Bị sa thải vào năm 1973, ông quyết định thành lập một công ty thu âm khác là hãng đĩa Arista. Thời gian sau đó, ông tiếp tục làm việc đến những năm cuối đời cho tập đoàn giải trí Sony Music Entertainment. Theo nhận xét của nam danh ca Barry Manilow (thành danh nhờ ký hợp đồng với Arista) : Clive Davis có đầu óc thực dụng của một chuyên viên ngân hàng và đôi tai nhạy bén của một thanh niên mê nhạc, nhờ vậy mà ông nắm bắt rất nhanh những trào lưu có triển vọng trở nên phổ biến, thịnh hành trong dòng văn hóa đại chúng.
Ngôi sao đầu tiên do ông Clive Davis phát hiện chính là Janis Joplin, ông ký hợp đồng lăng xê giọng ca này tại Liên hoan âm nhạc Monterey vào mùa hè năm 1967, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong phong trào hippie. Ông cũng từng thuyết phục ban song ca Simon và Garfunkel hoàn chỉnh phần thu âm nhạc phẩm "Bridge over troubled water" giúp giai điệu này thành công rực rỡ trên đài phát thanh.
Nhờ biết khám phá những tài năng mới, ông góp phân nâng tầm sự nghiệp của nhiều nhạc sĩ lớn trong làng nhạc pop rock cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Tuy không phải là nghệ sĩ biểu diễn, nhung Clive Davis lại giành được 4 giải Grammy trong vai trò nhà sản xuất. Năm 2000, ông được tôn vinh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll nhờ tầm ảnh hưởng mạnh mẽ và những đóng góp đáng kể cho ngành thu âm. Báo chí công nhận cái biệt tài của ông Clive Davis, nhờ "đôi tai vàng" mà tiên đoán được những ngôi sao tương lai trong làng nhạc chuyên nghiệp, thay đổi diện mạo làng nhạc quốc tế. Cũng từ đó, Clive Davis trở thành một ông trùm đầy uy tín và quyền lực trong ngành công nghiệp giải trí.
Trong mắt nhạc sĩ Carlos Santana, ông Clive Davis là một người có tầm nhìn xa, ông có thể cảm nhận được trước rất nhiều điều, mà mãi về sau này, người khác mới có thể nhìn thấy. Carlos Santana biết ơn ông Clive Davis vì ông đã hai lần tạo cơ hội thành công cho nhóm này. Lần đầu tiên là vào những năm 1970, Clive Davis đã ký hợp đồng với ban nhạc Santana trong nỗ lực biến hãng đĩa Columbia thành một công ty thu âm hùng mạnh. Nhóm Santana đã có một thời kỳ thành công ngoạn mục nhờ vào sự dìu dắt của Clive Davis, đặc biệt với hai album phòng thu đứng đầu bảng xếp hạng là Abraxas và Santana III, các đĩa đơn cực kỳ ăn khách như "Evil Ways, Oye Cómo Va" và nhất là "Black Magic Woman".
Khi ban nhạc Santana tái hợp vào cuối những năm 1990, nhóm này thành công một lần nữa khi ký hợp đồng với hãng đĩa Arista dưới sự điều hành của ông Clive Davis. Album "Supernatural" đánh dấu ngày tái xuất của Santana đã đoạt 9 giải Grammy năm 2000, bao gồm cả giải dành cho album và bài hát hay nhất trong năm, phá luôn kỷ lục do ông hoàng nhạc pop Michael Jackson nắm giữ với album "Thriller" vào năm 1983.
Ngoài nhóm Santana, nhiều nghệ sĩ từng hợp tác với ông Clive Davis đã ngõ lời tri ân, tưởng niệm nhà sản xuất kỳ cựu, kể cả Alicia Keys, Rod Stewart hay Bruce Springsteen. Trong số những nghệ sĩ hàng đầu, người mà ông cảm thấy gắn bó nhất vẫn là diva nhạc pop Whitney Houston, một trong những giọng ca ăn khách nhất mọi thời đại. Sự ra đi quá đột ngột của Whitney Houston vào đầu năm 2012 (dù chi mới 48 tuổi) là một tấn bi kịch đối với nhà sản xuất. Ông từng nói rằng, sự kiện đau buồn này luôn nhắc nhở ông một cách sâu sắc : những người quan trọng nhất trong đời mình có thể biến mất chỉ trong chớp mắt. Ngày Clive Davis vĩnh biệt cõi đời, thế giới của những "big hits" từ nay đã mất một "Big Boss", nhưng nhờ được ông dìu dắt mà nhiều tài năng không sớm bị mai một.
Sat, 27 Jun 2026 - 113 - Nhạc Nhật lời Việt : Đặng Lệ Quân, "Xin thời gian ngừng trôi"
Với sự nghiệp trải dài trên gần ba thập niên, Đặng Lệ Quân (Teresa Teng, 1953-1995) là nghệ sĩ đầu tiên kết nối Nhật Bản với phần lớn các nước châu Á. Sinh thời, diva người Đài Loan đã thành công ghi âm nhiều bản nhạc pop Nhật Bản, những bài hát này sau đó đã chinh phục châu Á nhờ được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau, kể cả tiếng Quan Thoại, bahasa Indonesia, tiếng Hàn hay tiếng Việt.
Danh ca Đặng Lệ Quân khởi đầu sự nghiệp của mình tại Nhật Bản vào đầu năm 1974. Lúc bấy giờ cô đã là một nghệ sĩ thành danh tại các nước Hoa ngữ. Cô phát hành đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay "No matter tonight or tomorrow" nhưng không mấy thu hút sự quan tâm của công chúng.
Công ty thu âm Watanabe đã cân nhắc việc duy trì quan hệ hợp tác với cô, nhưng trước thành công của giọng ca Đài Loan trên thị trường châu Á, công ty đã quyết định phát hành thêm vài đĩa đơn để thử xem tiềm năng của giọng ca này. Vào mùa hè năm 1974, hãng này cho phát hành đĩa đơn thứ nhì của cô, "Airport" (Sân bay) tựa tiếng Nhật Kūkō có nghĩa là "Không Cảng" theo phiên âm Hán Việt. Một cách bất ngờ, bài hát này lập kỷ lục số bán với gần 1 triệu bản. Sau đó, Đặng Lệ Quân cho ra mắt một số đĩa đơn ăn khách khác, bao gồm "Yukigesho"(Tuyết phủ trắng xóa), "The night ferry" (Chuyến phà đêm) hay "Goodbye, my love" (Giã biệt người tình) được đưa vào album tiếng Nhật đầu tiên của diva người Đài Loan.
Ngoài việc phát âm rất chuẩn hầu hết các ngôn ngữ khi thu âm, Đặng Lệ Quân còn có lối diễn đạt tinh tế nhẹ nhàng, gói trọn ý tứ trong từng câu chữ, rồi vẽ ra một khung trời mông lung lãng mạn, dạt dào tình cảm. Đến nay, những ca khúc của cô đã được nhiều nghệ sĩ trên khắp thế giới cover lại. Năm 2007, cô được vinh danh trong Đại sảnh Danh vọng tại Bảo tàng Âm nhạc Koga Masao ở Nhật Bản, trở thành người duy nhất không mang quốc tịch Nhật Bản nhận được vinh dự cao quý này. Năm 1986, Teresa Teng là nghệ sĩ châu Á đầu tiên lọt vào danh sách những giọng ca nổi tiếng hàng đầu thế giới, theo bình chọn của tạp chí Time của Hoa Kỳ.
Bài hát nổi tiếng nhất trích từ album tiếng Nhật đầu tiên của Đặng Lệ Quân là nhạc phẩm "Kuko"(Sân bay). Tác phẩm của hai nhạc sĩ Kosho Inomata (nhạc) và Michio Yamagami (lời) có giai điệu bán cổ điển buồn man mác, và nội dung nói về giây phút chia tay ở sân bay, thấm đẫm những dòng lệ nhạt nhòa, buồn đau biết mấy.
Bài hát nay mang về cho Đặng Lệ Quân giải Tài năng mới xuất sắc nhất nhân Lễ trao giải Thu âm Nhật Bản năm 1974. Trong tiếng Việt, bài này đã được phóng tác nhiều lần : "Xin thời gian ngừng trôi"qua cách đặt lời của tác giả Nhật Ngân ; "Sao đành xa nhau" được cho là của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thành ; "Cánh chim lạc loài" theo lối phóng tác của tác giả Minh Tâm ; "Em là áng mây" là của tác giả Khúc Lan.
Nhưng "Kuko"(Sân bay) không chỉ đơn thuần là giây phút giã từ của một đôi tình nhân, mà lại được viết như một cảnh quay phim, khi người phụ nữ trong câu chuyện tình tay ba, đến phi trường tiễn biệt người yêu lần cuối, khuyên anh ấy hồi hương, đoàn tụ với gia đình, tìm lại vợ con.
Mưa tuôn trên phi trường
Muôn lối giăng mờ sương
Hạnh phúc theo chuyến bay
Khuất dần cuối trời mây
Tình vượt khỏi tầm tay
Từ nay không còn thấy
Người đi nước mắt đầy
Kẻ ở, một mình say
Lặng lẽ hôn vĩnh biệt
Không cần nói vẫn biết
Giây phút đành xa nhau
Vạn nỗi đau ngọt ngào.
Sat, 20 Jun 2026 - 112 - Nhạc ngoại lời Việt : Các bản tình ca vòng quanh thế giới của nhóm Music Travel Love
"All out of love" là một bản nhạc nổi tiếng của nhóm Air Supply. Phiên bản ghi âm gần đây nhất là của ban song ca Music Travel Love. Đằng sau danh hiệu khá ngộ nghĩnh này là hai anh em sinh đôi người Canada chuyên thu thanh và biểu diễn những bản cover tuyệt vời tại những danh lam thắng cảnh hàng đầu thế giới.
Trung thành với chủ trương của nhóm, chia sẻ niềm đam mê ca hát và du lịch với giới yêu nhạc, ban song ca Music Travel Love còn thường được gọi tắt là MTL lần này đã thực hiện video clip ca nhạc trong khung cảnh mê hoặc của Hồ Nhật Nguyệt nhân chuyến lưu diễn ở Đài Loan. Vài tháng trước đó, nhóm MTL đã từng thu hình tại Thác nước biếc ở vùng Chiapas, Mexico, quần đảo Palawan ở miền nam Philippines, bang Meghalaya miền đông bắc Ân Độ. Vào năm 2023, ban song ca MTL từng đến Việt Nam để thu hình bản phóng tác "I still haven't found what i'm looking for" của nhóm U2 tại quần thể du lịch Bà Nà ở Đà Nẳng.
Sinh trưởng tại Vancouver, trong một gia dình mà hầu hết các thành viên đều biết chơi nhạc, nhóm MTL có thể nói là hậu thân của ban nhạc đồng quê The Moffatts, nổi tiếng tại Canada vào những năm 1990. Nhóm The Moffats ban đầu gồm 4 thành viên (Scott, Clint, Bob và Dave Moffatt). Họ từng ký hợp đồng với các hãng đĩa lớn : Polydor Records và chi nhánh của EMI Electrola ở Đức. Trong giai đoạn đầu, nhóm The Moffatts đã bán hơn 6 triệu đĩa nhạc, nhận được đĩa vàng tại 32 quốc gia.
Vào đầu những năm 2000, ban nhạc The Moffatts chia tay nhau, hai anh em song sinh Clint và Bob Moffatt tiếp tục hành trình âm nhạc của họ qua việc thành lập cuối năm 2016 ban nhạc Endless Summer (Mùa hè vô tận). Đến năm 2019, hai anh em sinh đôi chính thức đổi tên ban nhạc thành Music Travel Love.
Ngay từ khi hoạt động với đội hình thu gọn, nhóm MTL phát huy sở trường hát cover của mình và bắt đầu thu hình, minh họa cho các bản nhạc kinh điển trên khắp thế giới. Các video clip của nhóm thu hút hàng trăm triệu lượt người xem, và tính đến nay, trang âm nhạc của nhóm MTL có hơn 750.000 thành viên đăng ký trên mạng.
Music Travel Love trở nên nổi tiếng nhờ những bản cover với lối hoà âm rất mộc (acoustic) tại nhiều địa điểm thuộc vào hàng danh lam thắng cảnh, nếu không nói là kỳ quan thế giới, nổi bật hàng đầu là những bãi biển thơ mộng tại Đông Nam Á, các dãy núi hùng vĩ ở Bắc Mỹ hay sa mạc mênh mông ở vùng Trung Đông.
Vào năm 2024, ban song ca MTL đã thực hiện vòng lưu diễn Đông Nam Á, biểu diễn thành công tại nhiều thành phố lơn Bangkok, Manila, Jakarta, Đài Loan, Singapore hay Kuala Lumpur. Chuyến lưu diễn này có sự tham gia của các nghệ sĩ châu Á, dung hoà nhiều phong cách âm nhạc khác nhau. Sự hợp tác ấy đã giúp quảng bá nhiều điểm đến du lịch với giới hâm mộ ở nước ngoài.
Trong những năm gần đây, nhóm MTL đã mở rộng hợp tác với nhiều nghệ sĩ quốc tế thông qua dự án Music Travel Love & Friends, trong số này phải kể đến Anthony Uy (How deep is your love), Bugoy Drilon (Nothing's gonna change my love for You).
Vào năm 2023, nhóm MTL hợp tác với ban nhạc Đan Mạch Michael Learns to Rock, rất ăn khách ở Việt Nam cách đây vài thập niên và gần đây hơn nữa là Sheridan Brass qua nhạc phẩm "When a man loves a woman" tạo dấu gạch nối giữa bản gốc của Percy Sledge và bản phóng tác của Michael Bolton.
Thành công của nhóm MTL nằm ở chỗ nhóm này khéo kết hợp âm nhac và du lịch, hai yếu tố phổ quát nhất hiện thời. Làm thế nào mà không rung động bồi hồi trước những bản cover mộc mạc tuyệt vời tại những nơi đẹp như tranh vẽ, muôn sắc sáng ngời. Tình yêu cho âm nhạc tựa như hành trình bất động, đưa trái tim người nghe đi vòng quanh thế giới.
Sat, 13 Jun 2026 - 111 - Nhạc Nhật lời Việt : Masatoshi Nakamura, mưa bão trong lòng
Trong vòng một thời gian dài, nhiều bản nhạc gốc tiếng Nhật của Masatoshi Nakamura thường bị ghi chép sai là sáng tác tiếng Hoa, có lẽ cũng vì những bài hát này từng ăn khách trong tiếng Quan thoại hay Quảng Đông qua các giọng ca như Quan Thục Di (Shirley Kwan) hay Hoàng Khải Cần (Christopher Wong). Bài hát đầu tiên làm nên tên tuổi của Masatoshi Nakamura chính là giai điệu "Fureai", từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Mưa bão trong lòng".
Thành danh vào giữa thập niên 1970, Masatoshi Nakamura là một nghệ sĩ đa tài, nổi tiếng nhờ những đóng góp của ông cho ngành giải trí kể cả truyền hình, điện ảnh và âm nhạc phổ thông từ những năm 1970. Sinh trưởng (1951) tại thành phố Onagawa, tỉnh Miyagi, Masatoshi Nakamura sau khi đậu tú tài, theo học ngành kinh tế tại Đại học Keio. Khi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, ông ghi tên theo học lớp đào tạo diễn xuất của đoàn kịch Bungakuza, đánh dấu bước khởi đầu của ông vào lãnh vực sân khấu.
Ông Masatoshi Nakamura bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình vào năm 1974, ngay sau khi rời trường đại học và tốt nghiệp khoá đào tạo kịch nghệ. Ông đóng vai chính Shun Okita trong bộ phim truyền hình nhiều tập "Warera Seishun" trên kênh truyền hình Nippon TV và nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Trên đà thành công này, ông ghi âm ca khúc "Fureai", để quảng bá cho bộ phim truyền hình. Khi được phát hành trên đĩa đơn vào mùa hè năm 1974, bản nhạc phim đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng thị trường Nhật trong nhiều tuần liên tục và bán được hơn một triệu bản.
Sự nghiệp của Masatoshi Nakamura nhanh chóng cất cánh, ông thành danh cùng lúc trong cả hai lãnh vực đóng phim và ca hát, đánh dấu sự khởi đầu ngoạn mục trong làng giải trí. Trong nghề diễn xuất, sự nghiệp của Matasoshi Nakamura trải dài trong nhiều thập niên, do ông có khả năng đóng nhiều vai, chính kịch cũng như hài, hợp với nhiều thể loại cổ trang sử thi, phim hồi hộp trinh thám, phim tâm lý tình cảm. Ông cũng khéo chọn kịch bản, phim truyền hình hay phim quay cho màn ảnh rộng được coi trọng như nhau, không phân biệt vai chính hay vai phụ, miễn là phim có kịch bản hay và nhân vật có chiều sâu.
Còn trong lãnh vực âm nhạc, sau khi thành công vào mùa hè năm 1974 với đĩa đơn đầu tay, Masatoshi Nakamura hợp tác với các nhà soạn nhạc có uy tín thời bấy giờ, để ghi âm những bản nhạc ăn khách, trụ vững trên bảng xếp hạng trong nhiều tuần liên tục.
Nhìn lại, ông Matasoshi Nakamura đã hiện diện trong làng giải trí ở Nhật Ban trong nửa thế kỷ, ông đã đóng khoảng 50 bộ phim đủ loại. Trong làng nhạc, ông thường xuyên tham gia các show truyền hình cũng như tổ chức các chuyến lưu diễn hàng năm, để gặp gỡ giới hâm mộ. Tính tới nay, ông đã ghi âm hơn 30 album phòng thu. Trong số các album phát hành gần đây của ông, có tuyển tập kỷ niệm 50 năm sự nghiệp ca hát và bộ sưu tập đĩa đơn bao gồm nhiều bản nhạc phim.
Trong số những ca khúc nổi tiếng của Matasoshi Nakamura, dĩ nhiên phải nhắc đến "Fureai". Bài này từng được tác giả Khúc Lan chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Mưa bão trong lòng" và do nhiều nghệ sĩ ghi âm, trong đó có phiên bản gần đây của nam ca sĩ Quốc Thiên.
Ngoài ra, còn có giai điệu "Koibito MoNureru Machikado". Bài này có nhiều lời Việt khác nhau. Lời đầu tiên "Cuộc tình trong cơn mưa" là của tác giả Huỳnh Nhật Tân. Lời Việt thứ nhì với tựa đề "Hoài Mộng" là của tác giả Khúc Lan.
Tại Nhật Bản, nhiều thế hệ từng lớn lên với những bô phim cũng như những bài hát của Matasoshi Nakamura. Gương mặt này đã trở nên gần gũi với công chúng từ lúc nào không hay và có lẽ cũng vì thế, trong các cuộc thăm dò dư luận, ông thường xuyên được bình chọn là một trong những nhân vật nổi tiếng luôn được khán giả Nhật qúy trọng yêu mến, những bài hát của ông càng được nhiều người biết dến, trong giới sinh viên cũng như bậc cao niên.
Sat, 06 Jun 2026 - 110 - Nhạc Nhật lời Việt : "Dạ khúc nửa vầng trăng" - Halfmoon Serenade
Được mệnh danh là "cánh chim hoàng yến" Nhật Bản, Naoko Kawai trở nên nổi tiếng vào những năm 1980, giai đoạn còn được gọi là kỷ nguyên của các thần tượng nhạc pop. Hầu hết các gương mặt thành danh trong thập niên này như Seiko Matsuda, Yoshimi Iwasaki, Junko Mihara hay Yoshie Kashiwabara đều là những diva của dòng nhạc phổ thông Nhật Bản (J-Pop).
Sinh trưởng ở quận Sumiyoshi tại Osaka, Naoko Kawai từ thời còn nhỏ đã có nhiều năng khiếu nghệ thuật. Thời còn ở trường trung học, cô bắt đầu chơi nhiều nhạc cụ và tham gia các lớp đàn hát dân ca, như một phần hoạt động ngoại khóa.
Vào năm 16 tuổi (1979), Naoko Kawai đoạt giải nhất trong một cuộc thi hát cấp vùng do công ty quản lý tài năng Geiei tổ chức và nhờ vậy, cô ký hợp đồng ghi âm chuyên nghiệp với chi nhánh Nhật Bản của hãng đĩa Columbia. Vào mùa hè năm 1980, Naoko thành công với đĩa đơn thứ hai là "Young Boy", trích từ album phòng thu đầu tay.
Bài hát này đem về cho Naoko nhiều giải thưởng, trong đó có giải Tài năng mới tại Lễ trao giải Thu âm Nhật Bản lần thứ 22 cũng như giải Nghệ sĩ đầy triển vọng tại Liên hoan âm nhạc Yokohama. Một năm sau, Naoko Kawai cho ra mắt album phòng thu thứ hai "Twilight Dream" hoàn toàn được nhạc sĩ Motoki Funayama sáng tác. Bài hát chủ đạo "Smile For Me", được phát hành vào mùa hè năm 1981 trở thành một trong những giai điệu ăn khách nhất trong sự nghiệp của cô.
Album này giành hạng đầu bảng xếp hạng. Naoko Kawai nhận được giải nhất nhân kỳ Liên hoan Âm nhạc Truyền hình Nhật Bản lần thứ 7 và quan trọng hơn nữa, cô nhận danh hiệu Thần tượng Vàng tại Lễ trao giải Thu âm Nhật Bản lần thứ 23 (vào năm 1981)- tương đương với giải Grammy của Hoa Kỳ.
Một trong những nhạc phẩm tiêu biểu gắn liền với tên tuổi của Naoko Kawai là giai điệu "Halfmoon Serenade" trích từ album phòng thu thứ 13 phát hành vào mùa thu năm 1986. "Halfmoon Serenad" là một bản tình ca theo kiểu "power balad" với phần nhạc dạo đầu sâu lắng nhẹ nhàng, rồi ở phần cuối chuyển qua lối phối khí dũng mãnh hoành tráng.
Bài hát là một cột mốc quan trọng, đánh dấu sự thay đổi về hình ảnh của Naoko, hát nhạc pop giao hưởng với nhiều nội lực, đồng thời đây cũng là bài hát đầu tiên do chính Naoko sáng tác. "Halfmoon Serenade" thành công rực rỡ trên thi trường Nhật Bản vào cuối năm 1986. Toàn bộ các bản ghi âm cho album phòng thu thứ 13 mang tựa đề "Scarlet", đều do Naoko Kawai đồng sáng tác với nhạc sĩ Yumi Yoshimoto.
Thành công này có lẽ sẽ trọn vẹn hơn nữa, nếu như hai tác giả này không bị chỉ trích. Một số nhà phê bình Nhật Bản đã cho rằng bài hát "Halfmoon Serenade" có nhiều đoạn giống như một bản tình ca khác nổi tiếng khoảng một thập niên trước đó : nhạc phẩm "Shishuuki" (Hoài niệm ngày thu) của Hiromi Iwasaki.
Cho dù hai giai điệu này có nhiều nét giống nhau nhưng cũng may là mọi chuyện sau đó đều yên ổn và công chúng chưa từng nghe thấy bất kỳ lời phàn nàn nào về vấn đề đạo nhạc từ phía tác giả Hiromi Iwasaki.
Giai điệu "Halfmoon Serenade"từng được tác giả Thái Thịnh chuyển thành nhạc phẩm "Dạ khúc nửa vầng trăng". Trong tiếng Việt, bài này còn có khá nhiều lời khác nhau : chẳng hạn như "Tình Nồng" của tác giả Khúc Lan qua phần ghi âm của Tô Chấn Phong, "Tình trong đêm mưa" qua lối phóng tác và ghi âm của Julie, "Nhạc tình nửa đêm" qua phần đặt lời và trình bày của Ý Nhi.
Nhặt lá vàng rơi rụng
Trên mặt hồ mênh mông
Biến thành nốt nhạc trầm
Ngân nga trong gió lộng
Mây tuổi trẻ phiêu bồng
Phai dần nửa vầng trăng
Mãi quý trọng trong lòng
Bao mùa đông tóc trắng
Sat, 23 May 2026 - 109 - Nhạc ngoại lời Việt : 70 năm Eurovision, những bản nhạc thành công nhất
Trong nhiều thập niên qua, cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision thường là bệ phóng đưa nhiều tên tuổi vào quỹ đạo thành công. Trong số những gương mặt đoạt giải nhất, nhờ cuộc thi mà tiếng tăm thêm vang dội lẫy lừng, có ban nhạc Thụy Điển Abba, nữ danh ca Hy Lạp Vicky Leandros, diva người Canada Céline Dion hay thần tượng nhạc Pháp France Gall.
Tối hôm 16/05/2026, vòng chung kết cuộc thi Eurovision nhân sinh nhật lần thứ 70, được tổ chức tại Vienna, thủ đô nước Áo. Danh sách của những nước tham gia cuộc thi ngắn hơn so với những năm trước, chỉ còn 35 quốc gia thay vì 40 : Tây Ban Nha, Ai Len, Hà Lan, Slovenia và Iceland đã tuyên bố rút lui để phản đối việc ban tổ chức đã cho phép Israel tham gia cuộc thi, trong khi nước Nga lại bị gạt ra bên lề từ năm 2022.
Dù gì đi nữa, ca sĩ gốc Mỹ Monroe 17 tuổi, đại diện cho nước Pháp với nhạc phẩm "Regarde" (Hãy nhìn ta) nhân cuộc thi Eurovision năm 2026. Nếu lập thành tích về đầu, tài năng của cô ca sĩ Monroe sẽ có cơ hội toả sáng, nối bước thế hệ đàn anh, khoác lên vai muôn ánh hào quang.
Cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision đầu tiên đã diễn ra vào tháng 5 năm 1956, tại nhà hát Teatro Kuursal ở Lugano, Thụy Sĩ. Vào thời bấy giờ, 7 quốc gia đã cử thi sinh đi tranh giải. Ngoài nước chủ nhà, còn có sự tham gia của Đức, Bỉ, Pháp, Ý, Hà Lan và Luxembourg.
Ngay từ đầu, cuộc thi đã thu hút sự quan tâm của khán giả và tính đến nay, mỗi năm có khoảng 250 triệu người xem tại châu Âu theo dõi truc tiếp vòng chung kết. Trong số những giong ca thành danh nhờ cuộc thi hát này, có nữ ca sĩ người gốc Hy Lap Vicky Leandros. Vào năm 1972, Vicky đã đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision với nhạc phẩm "Après toi" từng được tác giả Phạm Duy chuyển sang lời Việt thành giai điệu "Vắng bóng người yêu".
Một trong những đặc điểm của cuộc thi Eurovision là thí sinh đại diện cho một quốc gia không nhất thiết phải mang quốc tịch của nước đó. Điều lệ này từng cho phép Francoise Hardy đại diện cho Monaco đi tranh giải vào năm 1963. France Gall với "Búp bê không tình yêu" (Poupée de cire, poupée de son 1965), Vicky Leandros với "Vắng bóng người yêu" (Après toi 1972) hay Anne Marie David với "Xin tự hiểu mình" (Tu te reconnaîtras 1973) đều từng giúp cho Luxembourg về đầu cuộc thi cho dù ho không phải là công dân nước này. Một cách tương tự Céline Dion giúp Thụy Sĩ đoạt giải nhất vào năm 1988 voi nhac phẩm "Ne partez sans moi" hiểu theo nghĩa Hãy cho ta đi cùng.
Theo thông lệ, nước nào đoạt giải nhất, thường được quyền tổ chức cuộc thi năm kế tiếp. Nhân sinh nhật tròn 70 tuổi, vòng chung kết cuộc thi Eurovision diễn ra tối nay tại thủ đô Vienna, sau khi ca sĩ người Áo J.J đx giành lấy hạng đầu năm 2025 với nhạc phẩm "Wasted Love". Từ khi thành lập Eurovision cho tới nay, Áo đã ba lần đoạt giải này. Ca sĩ đầu tiên đem vinh dự này về cho nước Áo vào năm 1966, chính là Udo Jürgens với nhạc phẩm "Merci Chérie" (bản tiếng Việt "Cảm ơn người yêu dấu là của tác giả Nguyễn Duy Biên).
Cũng như nhóm Abba vào năm 1974 với nhạc phẩm "Waterloo", Udo Jürgens là trường hơp khá tiêu biểu của những nghệ sĩ biết gầy dựng một sự nghiệp dài lâu. Sau khi đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình châu Âu, ông trở thành một trong những nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong khối các nước nói tiếng Đức, bán được hơn 100 triệu đĩa hát trong nửa thế kỷ sự nghiệp. Hơn ai hết, nhóm Abba và Udo Jurgens đi vào quỹ đạo thành công nhờ biết tận dụng ít ra trong giai đoạn đầu, tầm ảnh hưởng lớn rộng của bệ phóng Eurovision.
Sat, 16 May 2026 - 108 - Marilyn Monroe : 100 năm ngày sinh của huyền thoại điện ảnh
Hơn ai hết, Marilyn Monroe là biểu tượng của vẻ đẹp khiêu gợi nóng bỏng vào thời kỳ hoàng kim của Hollywood những năm 1950. Sinh trưởng tại Los Angeles (1926-1962), Marilyn đã đi vào huyền thoại của làng nghệ thuật thứ bảy, đồng thời trở thành một biểu tượng toàn cầu trong dòng văn hóa phổ thông.
Trong lãnh vực điện ảnh, có một sự cạnh tranh gay gắt giữa các hãng phim lớn vào đầu những năm 1950. Hàng ngàn nữ diễn viên trẻ trung và quyến rũ không kém gì Norma Jean Baker. Nhưng chỉ có một người duy nhất mới trở thành Marilyn Monroe. Trên vòm trời với muôn vàn sao sáng của Hollywood, vầng hào quang của Marilyn lại nổi bật hơn hẳn. Vào cùng một thời điểm, có những tên tuổi hàng đầu như Lana Turner, Gene Tierney, Rita Hayworth hay Joan Crawford. Nhưng chỉ có hai khuôn mặt của Marilyn Monroe và Elizabeth Taylor mới trở nên "bất tử " qua những bức tranh in thạch bản của danh họa Andy Warhol.
Nhưng không phải chỉ có tác phẩm của Andy Warhol, nhiều bức chân dung khác của Marilyn từng được thu vào ống kính của các nhà nhiếp ảnh nổi tiếng như Eve Arnold, Richard Avedon, Milton H. Greene hay Cecil Beaton … Các tác phẩm này được trưng bày tại Cinémathèque Française (Viện lưu trữ phim ảnh Pháp) nhân 100 năm ngày sinh của thần tượng điện ảnh Mỹ. Được tổ chức từ ngày 08/04 đến 02/07/2026, cuộc triển lãm về Marilyn Monroe kết hợp các đoạn phim, các video ca nhạc, hình ảnh quảng cáo, trang sức xa hoa và y phục đắt tiền … Tất cả được dàn dựng như cảnh quay ở phim trường, để tôn vinh vẻ đẹp của Marilyn trong suốt những năm 1950, kể lại hành trình của một thần tượng trong kỷ nguyên phim màu hào nhoáng lộng lẫy Technicolor, trên màn ảnh chiếu phim rộng lớn Cinemascope.
Khi qua đời vào năm 1962 ở tuổi 36, Marilyn đã để lại một số tác phẩm quan trọng, mà cho tới này vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm của công chúng. Trả lời phỏng vấn ban tiếng Pháp RFI trong chương trình Cinémas du Monde, giám tuyển Florence Tissot, trưởng ban tổ chức triển lãm "100 năm Marilyn Monroe"tại Viện Phim ảnh Pháp cho biết mặc dù đã có nhiều quyển sách viết về Marilyn, nhưng cho tới nay vẫn khó thực hiện được một cuộc nghiên cứu chuyên sâu và nghiêm túc, dựa trên văn bản và tài liệu xác thực :
"Điều khó khăn nhất là việc tham khảo các tài liệu lưu trữ. Marilyn Monroe qua đời rất sớm ở tuổi 36, sự nghiệp của cô ấy (với tư cách diễn viên chính) khá ngắn ngủi, chỉ khoảng một thập niên. Sau ngày ra đi quá đột ngột, nhiều vật dụng cá nhân của Marilyn đã bị phân tán khắp nơi. Sinh thời, Marilyn đã là một huyền thoại, điều đó đã tạo ra một sự hâm mộ cuồng nhiệt đôi khi thái quá cũng như thói quen soi mói đời tư của cô. Hiện giờ, có khá nhiều "tài sản" của Marilyn đều nằm trong tay giới sưu tầm tư nhân. Các nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh khó thể nào tham khảo các bộ sưu tập tư nhân, họ chỉ có thể truy cập các văn bản lưu trữ trong thư viện hoặc tài liệu bảo tàng. Vì thế, việc nghiên cứu nghiêm túc về Marilyn Monroe không phải là chuyện dễ làm, điều đó phần nào giải thích vì sao những huyền thoại xung quanh Marilyn tiếp tục được phổ biến và vẫn giữ tầm ảnh hưởng quan trọng cho đến ngày nay".
Lần đầu tiên, Marilyn xuất hiện trên màn ảnh lớn là vào năm 1947, trong vai một nhân viên quán bar trong bộ phim "Dangerous Years" (Đời đầy hiểm nguy) của đạo diễn Arthur Pierson. Marilyn thật sự trở nên nổi tiếng, đủ để vào vai chính kể từ đầu những năm 1950, sau thành công của hai bộ phim "Asphalt Jungle" (Quand la ville dort / Khi thành phố ngủ yên) và "All About Eve" (Mọi câu chuyện về Eva). Cuộc triển lãm cho thấy Marilyn có tài diễn xuất thực thụ, vượt ra ngoài những hạn chế của từng vai diễn cũng như vượt qua một số định kiến đối với các nữ diễn viên. Cô Ginette Vincendeau, nhà sử học chuyên về điện ảnh nhận xét :
"Những năm 1950 là một thập niên đầy mâu thuẫn, một mặt có một số dấu hiệu cho thấy nước Mỹ đã bắt đầu cởi mở hơn nhiều, nhưng về mặt quan hệ đôi lứa hay vai trò của phụ nữ, xã hội Mỹ lại rất bảo thủ. Thập niên 1950 là thời kỳ cao điểm của bộ luật Hays (1934-1968) bao gồm những quy tắc sản xuất phim ảnh, kiểm duyệt những nội dung bị cho là trơ trẽn, tục tĩu. Nhưng cũng vào thập niên này, tạp chí khiêu dâm Playboy được Hugh Hefner sáng lập (năm 1953) tại Chicago. Hình ảnh của Marilyn bị mắc kẹt trong guồng máy sản xuất phim ảnh, còn bị khống chế bởi một bộ quy tắc bảo thủ".
Tuy nhiên, theo nhà phê bình người Mỹ James O. Naremore, sử gia chuyên nghiên cứu về phim của các đạo diễn nổi tiếng như Orson Welles, Alfred Hitchcock hay Stanley Kubrick, Marilyn đã trau dồi tài nghệ diễn xuất của cô ngay từ những tác phẩm đầu tiên. Giám tuyển Florence Tissot cho biết :
"Trong những bộ phim đầu, mặc dù thời lượng xuất hiện trên màn ảnh còn bị hạn chế, Marilyn lại diễn xuất rất đạt, từ cảm xúc hồi hộp sợ hãi cho đến nỗi tức giận, như thể Marilyn muốn tạo thêm trọng lượng trong những vai nhỏ được giao cho cô. Trái với điều mà nhiều người thường nghĩ, Marilyn luôn cố gắng học thêm, từ ca hát, nhảy múa, cho đến các lớp diễn xuất kịch câm từ khi mới vào nghề cuối những năm 1940. Trong khi báo chí chủ yếu nói về thời kỳ cô học với thầy Lee Strasberg tại Actors Studio ở New York.
Marilyn đã học nhiều lớp múa, để chuẩn bị quay màn phim với xâu chuỗi kim cương và váy hồng lộng lẫy "Diamonds are a girl's best friend" trích từ bộ phim "Genthemen prefer Blondes" (Qúy ông thích phụ nữ tóc vàng). Vào thời ấy (1953), mặc dù Marilyn đã tập dợt rất nhiều rất để sánh ngang với bạn diễn của mình, những rốt cuộc Marilyn vẫn được trả thù lao ít hơn so với Jane Russell. Sau bộ phim này, Marilyn bắt đầu đàm phán lại các hợp đồng bảy năm của mình, mà cô cho là có nhiều điều khoản lạm dụng. Marilyn đã phấn đấu để đạt được mục tiêu : nhận thù lao xứng đáng hơn và được quyền lựa chọn vai diễn cũng như đạo diễn phim".
Hỉnh ảnh của Marilyn đã đi vào lòng người mến mộ chính là cảnh phim"The Seven Year Itch" (Bảy năm suy ngẫm) phát hành vào năm 1955. Trong phim, Marilyn mặc một chiếc váy trắng, đứng trên tấm chắn ống thông hơi xe điện ngầm. Khi chạy nhanh qua, chiếc tàu điện ngầm tạo ra luồng gió thổi tung bay tà áo đầm màu trắng. Cô Florence Tissot nhận xét về hình ảnh này :
"Hình ảnh đó gần như làm lu mờ cả một bộ phim. Vào những năm 1950, hình ảnh của Marilyn mặc chiếc vay trắng được vẽ thành khổ lớn, treo trên mặt tiền các rạp chiếu phim. Cảnh phim này đã tạo ra một cột mốc quan trọng trong dòng văn hóa phổ thông. Khi nhắc tới Marilyn, công chúng thường hay nghĩ tới hình ảnh này. Vào thời bấy giờ, Marilyn muốn thoát khỏi vòng kiểm soát của các hãng phim lớn, cô chuyển nhà đến New York để sống gần hơn với nhà văn Arthur Miller, đồng thời cô cũng muốn theo học với thầy Lee Strasberg tại lớp đào tạo diễn xuất Actors Studio. Nhưng cũng chính từ bộ phim này, hình ảnh của Marilyn trong mắt báo chí truyền thông bắt đầu thay đổi : từ một cô gái tóc vàng rất xinh nhưng kém thông minh, Marilyn dần dần trở thành một người phụ nữ có tánh tình thất thường, như thể cô có một vấn đề gì đó khiến tinh thần trở nên bất ổn".
Nhiều nhà phê bình từng cho rằng, các hãng phim lớn muốn bắt Marilyn phải trả giá cho thái độ bất phục tùng của cô. Thậm chí, ngay sau khi hết hợp đồng với Marilyn, hãng phim Twentieth Century Fox còn mỉa mai cô qua bộ phim "Blonde Explosion" (Cô gái tóc vàng nảy lửa) của đạo diễn Frank Tashlin, với nữ diễn viên Jayne Mansfield, một phiên bản gần như giống hệt để thay thế Marilyn.
Theo chuyên gia Ginette Vincendeau, cho dù vào năm 1960, Marilyn chứng tỏ bản lĩnh của mình sau khi nhận được giải Quả cầu vàng diễn xuất nhờ bộ phim hài với anh vua hề giả gái Tony Curtis trong phim "Some Like It Hot" (Nhịp điệu nóng bỏng), nhưng Marilyn sau đó lại không có thêm nhiều cơ hội để phát huy tài năng :
"Đúng vậy, cho dù sự nghiệp, của Marilyn đạt đỉnh cao với bộ phim này nhưng cũng vào thời điểm ấy, báo chí lại soi mói đời tư của cô, chỉ nói về những khuyết điểm của Marilyn, những vấn đề trong đời tư khiến cô trở nên « khó chịu » với bạn diễn, "khó bảo" trong mắt các nhà làm phim. Hình ảnh của Marilyn thường bị bóp méo, báo chí nói về cô như một phụ nữ bất an, tinh thần dễ suy sụp. Theo nhà phê bình Sarah Churchwell, tác giả quyển sách "Những cuộc đời khác nhau của Marilyn", các quyển tiểu sử viết về Marilyn thường miêu tả Marilyn như một nạn nhân, tài diễn xuất của cô cũng bị đánh giá thấp. Những cảm nhận này chủ yếu dựa vào diễn giải suy đoán, và giờ đây, nhân 100 ngày sinh của Marilyn, có lẽ đã đến lúc thay đổi góc nhìn về một trong những huyền thoại sinh động, sáng ngời của thế kỷ XX".
Fri, 15 May 2026 - 107 - Nhạc ngoại lời Việt : Westlife, 25 năm tuyệt đỉnh tình ca
"25-The Ultimate Collection" là tựa đề tuyển tập chọn lọc vừa được phát hành hồi đầu tháng 05/2026. Album này kỷ niệm 25 năm sự nghiệp sân khấu của ban nhạc Westlife, bao gồm 21 ca khúc ăn khách, cùng với những sáng tác mới, được bốn thành viên nhóm nhạc pop người Ai Len thu âm, trong đó có nhạc phẩm "Your love amazes me" (tạm dịch Tình em tuyệt vời).
Vào mùa thu năm 2026, ban nhạc pop Ai Len bắt đầu chuyến lưu diễn quốc tế (25th anniversary World Tour) kỷ niệm 25 năm sự nghiệp biểu diễn trên sân khấu của nhóm, mở màn bằng đợt trình diễn 13 đêm tại Dublin trước khi đến Vương quốc Anh rồi khắp châu Âu. Chặng nhì vào năm tới hy vọng sẽ đưa nhóm này sang biểu diễn tại châu Á.
Được chính thức thành lập vào năm 1998, nhóm này ban đầu gồm sáu thành viên cho nên được đặt tên là "Six As One" (Sáu như một). Ban nhạc suýt nữa đổi tên thành WestHill hay WestSide, nhưng vì những nghệ danh này đã có bản quyền, cho nên nhóm mới chọn tên chính thức là Westlife. So với những năm đầu, đội hình của nhóm đã được rút gọn lai, nay chỉ còn có 4 thành viên (Kian Egan, Shane Filan, Mark Feehily và Nicky Byrne). Riêng thành viên thứ 5 Brian McFadden đã tách ra khỏi nhóm, vào năm 2004 để khởi nghiệp hát solo.
Trong hơn hai thập niên sự nghiệp, nhóm Westlife đã phát hành tổng cộng 12 album phòng thu : 4 album khi còn là nhóm 5 người và 8 album khi chỉ còn 4 thành viên. Thành danh ngay từ album đầu tay cùng tên vào năm 1999, Westlife trở thành mot trong những nhóm "boyband" thành công nhất trên thị trường quốc tế, đặc biệt là tại châu Âu và châu Á. Nhóm này từng tan rã vào năm 2012, rồi trở lại trên đỉnh cao khi tái hợp vào năm 2018.
Trong suốt thời gian đi biểu diễn, nhóm Westlife đã nhiều lần gặp khó khăn do bất đồng nội bộ, nhung rốt cuộc ho vẫn trụ vững, không vĩnh viễn chia tay như nhiều ban nhạc khác cùng thời. Weestlife ít theo các trào lưu thịnh hành trong thế giới nhạc trẻ như Backstreet Boys hay N'Sync của Mỹ, mà cũng chẳng ồn ào đình đám như các nhóm châu Âu là Worlds Apart, Boyzone hay 2Be3, nhóm Westlife thường chinh phục người nghe bằng những giai điệu sâu lắng ngọt ngào, các bản tình ca đầy cảm xúc dạt dào như : Flying without wings, My Love, Seasons in the sun, You raise me up, I lay my love on you .....
Westlife tạo dựng được một phong cách riêng nhờ sức cuốn hút trong việc hòa quyện các chất giọng cũng như sở trường hát cover của nhóm, chuyên dùng bản phối để tạo sinh khí mới cho những tình khúc vang bóng một thời. Nhóm này từng hợp tác với nhiều diva hàng đầu thế giới như Diana Ross và nhất là Mariah Carey qua nhạc phẩm "Against all odds" (bản gốc của Phil Collins). Bài này trong tiếng Việt có tựa đề "Tất cả cho tình yêu".
Nhờ phong cách thanh lịch và ngoại hình sáng sân khấu, nhóm Westlife nhanh chóng gặt hái nhiều thành công, từng được mệnh danh là những vị "hoàng tử" của dòng nhạc pop ballad. Vào năm 2001, nhóm này quyết định thực hiện vòng lưu diễn thế giới đầu tiên. Tuyển tập "25-The Ultimate Collection" chính là dịp kỷ niệm sự kiện quan trọng này.
Sau khi ngừng hoạt động trong vòng 6 năm, nhóm Westlife đã tái hợp vào năm 2018. Nhìn lại, nhóm này đã bán được hơn 55 triệu đĩa trên thế giới và đoạt được nhiều giải thưởng quan trọng, bao gồm hai giải Brit Award, ba giải MTV và bốn giải thưởng truyền hình ITV dành cho bản thu âm hay nhất trong năm.
Trong thời gian gần đây, nhóm này đã dần chuyển hướng, mở ra một thời kỳ mới, thử sức với nhiều thể loại, chứ không phải vì thành công với pop ballad, mà cứ hát hoài hát mãi. Tuy vậy, mỗi khi nhắc tới Westlife, giới hâm mộ vẫn luôn nghĩ đến hình ảnh những giọng ca hào hoa phong nhã, có tài đánh cắp trái tim người nghe một cách lạ thường, nhờ những giai điệu quyến luyến du dương, chứa chan nhạc tình hoài niệm vấn vương.
Sat, 09 May 2026 - 106 - Céline Dion & Jean-Jacques Goldman : Cặp bài trùng tuyệt vời
Mười năm sau khi phát hành album tiếng Pháp và trước khi trở lại sân khấu Paris vào mùa thu năm 2026, Céline Dion hồi trung tuần tháng Tư vừa cho ra mắt một giai điệu hoàn toàn mới do Jean-Jacques Goldman soạn nhạc. Chính tác giả này đã giúp Céline Dion chinh phục thị trường khối Pháp ngữ cách đây ba thập niên, qua việc khuyến khích diva người Canada thay đổi phong cách diễn đạt, khi hát bằng tiếng Pháp.
Trả lời phỏng vấn báo chí, tác giả Jean-Jacques Goldman từng cho biết, trên phương diện âm nhạc ít có ai gây nhiều ấn tượng với anh bằng Céline Dion. Tình bạn giữa diva đến từ vùng Québec và tác giả người Pháp kéo dài trong hơn 30 năm qua. Quan hệ hợp tác này đã cho ra đời nhiều bản nhạc kinh điển : chẳng hạn như "Pour que tu m'aimes encore"(Mong người vẫn yêu ta), "Je sais pas" (Ta đâu biết), "S'il suffisait d'aimer" (Nếu chỉ cần thương yêu) hay "Encore un soir" (Chỉ một đêm nữa thôi) ...
Bài hát vừa được phát hành mang tựa đề "Dansons" (Dìu nhau trong điệu nhảy), được sáng tác vào thời kỳ đại dich Covid-19, khi tiếng đàn, khúc hát giúp cho bao gia đình xoa dịu những thiệt thòi, mất mát :
Khi đời nổi giông tố
Đừng chịu trận dưới mưa
Phong ba hồn vực thẳm
Càng quay cuồng điệu múa
Về mặt nghệ thuật, đôi bạn Dion & Goldman khá tâm đầu ý hợp. Điều đó giải thích, vì sao mặc dù đã tuyên bố giải nghệ khá lâu, nhưng tác giả Goldman luôn có mặt, khi Céline Dion cần đến sự tiếp sức của anh.
Vào giữa những năm 1990, Céline Dion đang thành công rực rỡ trên thị trường quốc tế, liên tục lập kỷ lục số bán với các album tiếng Anh : Cả hai tâp nhạc"Falling into you"và "Let's talk about love" đều bán được hơn 30 triệu bản.
Nhưng trên thị trường Pháp, Céline vẫn chưa thực sự có một bản nhac nào cân xứng với tầm vóc của mình, cho dù vào năm 1988 Céline từng đoạt giải Eurovision cho Thụy Sĩ nhờ bài hát tiếng Pháp "Ne partez pas sans moi" (tạm dịch "Hãy cho tôi đi cùng").
Danh ca Jean-Jacques Goldman là người đã giúp Céline Dion bù đắp sự thiếu sót này, cho dù tác giả người Pháp ít khi nào đề nghị ai đó hợp tác với mình. Goldman từng sáng tác nguyên một album dành riêng cho Johnny Hallyday, nhưng theo yêu cầu của danh ca nhạc rock. Bù lại, trong trường hợp của Céline Dion, Goldman lại chủ động đề nghị soạn nhạc cho diva người Canada.
Vào mùa xuân năm 1995, Jean-Jacques Goldman thực hiện album phòng thu tiếng Pháp "D'eux", đánh dấu lần hợp tác đầu tiên giữa hai tên tuổi lớn. Album này đã thay đổi sâu sắc sự nghiệp ghi âm tiếng Pháp của Céline Dion, khi trở thành album ăn khách nhất trong lịch sử nhạc pop tiếng Pháp, với hơn 12 triệu bản được bán trên thế giới.
Ngoài việc sáng tác theo kiểu đo ni đóng giày cho Céline Dion, Goldman còn "thổi hồn"một cách khéo léo tài tình vào các ca khúc của mình, khuyến khích Céline Dion thay đổi cách diễn đạt, ít khoe giọng và trở nên gần gũi hơn. Tác giả Goldman khuyên Céline nên hát nhè nhe, khe khẽ như thể cô đang ôm một đứa bé trong vòng tay, hát bằng cảm xúc chân thực, với tất cả tấm lòng của một người mẹ đang ru con ngủ.
Giới hâm mộ Céline Dion đều thừa biết bản lĩnh của diva người Canada, có kỹ thuật hát điêu luyện, linh hoạt, dựa vào làn hơi khoẻ khoắn để đạt được những nốt nhạc cao vút. Còn tác giả Goldman lại tạo cơ hội cho Céline phát huy lối diễn đạt sâu sắc trầm lắng, tinh tế nhe nhàng.
Từ năm 1995 đến năm 2016, cặp bài trùng Dion và Goldman đã vào phòng thu âm 4 lần. Sự hợp tác này cũng làm nổi bật mối liên hệ mật thiết của diva người Canada với tiếng mẹ đẻ, cũng như cội nguồn của mình, ngay cả khi các bản thu âm tiếng Anh của Céline có số bán cao hơn nhiều, thường cao hơn gấp ba lần so với các bản nhạc tiếng Pháp.
Sau một thời gian dài vắng bóng sân khấu, sự kiện Céline chọn trở lại Paris vào mùa thu tới chắc hẳn không phải là chuyện tình cờ ngẫu nhiên. Người hâm mộ vẫn còn nhớ màn song ca đầy cảm xúc của cặp bài trùng Dion & Goldman trên sân vận động quốc gia Pháp, Stade de France, năm 1999. Từ nhạc phẩm "J'irai où tu iras" cho đến giai điệu "S'il suffisait d'aimer", ngòi bút Goldman tựa như luồng gió, giúp Céline Dion chắp cánh bay xa hơn nữa, nơi xúc cảm in đậm không gian, khoảnh khắc tĩnh lặng ngập tràn, cõi chốn dịu dàng chứa chan.
Sat, 02 May 2026 - 105 - Nhạc Nhật lời Việt : Akio Kayama, cơn mưa buốt giá
Trong lãnh vực nhạc trữ tình enka Nhật Bản, "Hisame" (Cơn mưa buốt giá) của tác giả Ren Tomari có lẽ là một trong những bài hát được biết đến nhiều nhất. Hầu hết các ca sĩ trứ danh, và ngay cả những người không chuyên hát thể loại enka (diễn ca), đều đã từng thể hiện bài này trên sân khấu hoặc trước ống kính truyền hình. Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đặt thêm lời thành nhạc phẩm "Tình buồn trên lối xưa".
Cách đây một thập niên, nghệ sĩ kỳ cựu Kiyoshi Maekawa (giọng ca chính của nhóm The Cool Five) đã cho ra mắt phiên bản của mình, Akina Nakamori cũng đã từng ghi âm lại bài này vài năm trước đó như một lời tri ân với người hâm mộ. Nhắc đến Hisame, vẫn khó thể nào quên được những giọng ca gắn liền với giai điệu lãng mạn này, trong đó có bản gốc của nam ca sĩ Akio Kayama, ca sĩ enka đầu tiên thể hiện bài này chính là Mika Hino và dĩ nhiên có phiên bản tiếng Nhật cũng như tiếng Hoa của diva người Đài Loan Đặng Lệ Quân (Teresa Teng).
Bản gốc của nhạc phẩm Hisame được cho ra mắt vào cuối năm1977. Đây là đĩa đơn đầu tay của nam ca sĩ người Nhật Akio Kayama. Tên thật là Shigehiro Hase, ông sinh trưởng tại thành phố Hakodate ở phía nam đảo Hokkaido.
Vào đầu thập niên 1970, ông trở thành học trò cuối cùng của nhà soạn nhạc trứ danh Masao Koga. Sau một thời gian đi hát bán chuyên nghiệp, ông ký được hợp đồng ghi âm với hãng đĩa Columbia Records, lấy nghệ danh Akio Kayama rồi phát hành album đầu tay.
Khi giai điệu "Hisame" được phát hành lần đầu tiên, sự nghiệp của Akio Kayama vẫn chưa thực sự cất cánh. Hầu hết các bài hát được trích từ album đầu tay của ông đều không thành công. Akio Kayama buộc phải trở lại phòng thu để thực hiện nhiều bản phối mới.
Mãi đến khi phát hành phiên bản thứ ba của bài hát này vào mùa hè năm 1982, tức 5 năm sau bản gốc, Akio Kayama mới may mắn hơn, bản phối này được bán gần một triệu bản trong vòng sáu tháng. Bài hát "Hisame" giành được nhiều giải thưởng phát thanh và truyền hình. Và quan trọng hơn nữa, giai điệu này giành được giải thưởng dành cho đĩa hát hay nhất vào năm 1983.
Bản phối thứ ba của Akio Kayama khác với hai lần phát hành trước, nhờ phần nhạc dạo đầu u sầu, tha thiết làm say đắm giới ca sĩ chuyên nghiệp, cũng như những người mê nghe nhạc enka. Thời điểm phát hành cũng khá quan trọng, giúp cho giai điệu bén duyên với thính giả, thà muộn còn hơn không.
Riêng bản cover nhạc phẩm "Hisame" của Đặng Lệ Quân (Teresa Teng) tuy chưa từng được phát hành chính thức dưới dạng đĩa đơn, nhưng nữ danh ca người Dài Loan nhờ cách nhã chữ có duyên tự nhiên, luôn biết cách tạo cho phiên bản của mình một dấu ấn riêng.
Do nhạc sĩ Ren Tomari sáng tác, "Hisame" hàm chứa những mô típ và chủ đề quen thuộc của dòng nhạc trữ tình enka : uống rượu giải sầu, khi nhân vật trong bài hát ngồi một mình trong quán khuya, khóc cho bản thân vì không còn nhà để về, không còn ai để chờ.
Làn hơi luyến láy ấm nồng, diu dàng mà vẫn đầy đặn, giọng ca Đặng Lệ Quân gắn liền với những làn điệu kinh điển, tài nghệ diễn dạt của diva này có thể khiến bất kỳ bài hát tiếng Nhật nào cũng trở nên tuyệt vời, nâng ý tứ giai điệu lên một tầm cao mới.
Mưa bên ngoài chưa ngớt, cho phố đêm đẫm ướt, chẳng còn ai đợi chờ, hồn đã quên kiếp trước.
Men rượu nào say khướt, cho đường quên lối bước, bỏ mặc tim ngoài hiên, giữa mùa đông giá buốt ...
Sat, 25 Apr 2026 - 104 - Nhạc ngoại lời Việt : Paul Anka, phóng tác và song ca
"Inspirations of Life and Love" hiểu theo nghĩa Nguồn cảm hứng cho cuộc sống và tình yêu là tựa đề album phòng thu mới của Paul Anka, được phát hành hồi trung tuần tháng 02/2026. Song song với album này, còn có việc tái bản các tuyển tập song ca của ca sĩ người Canada với nhiều nghệ sĩ lừng danh quốc tế.
Bao gồm tổng cộng 11 bài hát, album phòng thu vừa được phát hành xen kẻ vài sáng tác mới như "Freedom for You and Me" (Tự do cho chung ta) với các bản thu âm lại của những giai điệu nổi tiếng, từng được phát hành cách đây vài thập niên.
Cả hai đĩa đơn trích từ album này, trước kia đều do Giọng ca Vàng Frank Sinatra trình bày, nay được Paul Anka ghi âm lại. Đó là trường hợp của hai nhạc phẩm "Anytime" (Bất cứ lúc nào) và "Let me try again" (Cho ta thêm một lần) từng được ghi âm vào năm 1989 trên album "Somebody loves You".
Trong sự nghiệp âm nhạc kéo dài trong 7 thập niên, Paul Anka (84 tuổi) đã tạo dựng một sự nghiệp vững chắc, xuyên qua các trào lưu âm nhạc, dù thi hiếu người nghe có thay đổi. Sinh trưởng tại Ottawa (Canada) sau đó nhập tịch Mỹ, Paul Anka xuất thân từ môt gia đình có hai dòng máu : thân phụ người Syria, thân mẫu gốc Liban.
Nhờ có năng khiếu, Paul Anka ghi âm đĩa hát đầu tay vào năm 14 tuổi, rồi thành danh ba năm sau đó trên thi trường quốc tế với nhạc phẩm "Diana", khi ông chỉ mới 17 tuổi. Kể từ năm 1957 trở đi, hầu như thập niên nào Paul Anka cũng có vài bài hát lọt vào bảng xếp hạng thi trường quốc tế. Tính đến nay, ông đã thu âm hơn 120 album trong nhiều ngôn ngữ khác nhau, bán được gần 80 triệu bản trên toàn thế giới.
Nhiều thế hệ nghệ sĩ đã nhớ ơn ông, vì ngoài chất giọng mượt trầm, Paul Anka còn có tài soạn nhiều giai điệu hay, sáng tác những bản nhạc ăn khách. Thời còn trẻ, Paul Anka là một ngòi bút tài ba trong nhóm chuyên sáng tác cho Frank Sinatra trong nhóm Rat Pack (Dean Martin & Sammy Davis Jr).
Thập niên 1980, Paul Anka đồng sáng tác hai nhạc phẩm với Michael Jackson. Sau khi lập kỷ lục số bán nhờ bản song ca giữa ông hoàng nhạc pop với Justin Timberlake, nay bài hát "Never felt so good" được đồng tác giả Paul Anka ghi âm lại với một bản phối khí mộc mạc, hoà âm nhe nhàng.
Thập niên 1990, Paul Anka thành công rực rỡ nhờ các tuyển tập song ca với nhiều nghệ sĩ trứ danh như album "Amigos" bằng tiếng Tây Ban Nha hay là tuyển tập "Duets" với sự góp mặt của Céline Dion, Patti LaBelle, Tom Jones, Peter Cetera, ca sĩ chính của nhóm Chicago hay Barry Gibb thuộc ban tam ca Bee Gees. Ông cũng từng giữ vai trò nhà sản xuất, đảm nhiệm album đầu tay của ca sĩ đồng hương Michael Bublé, từng thể hiện lai ca khúc kinh điển "Put your head on my shoulder" của Paul Anka (lời tiếng Việt là "Tựa vai anh" qua phần ghi âm của Jo Marcel).
Album phát hành gần đây của Paul Anka cũng là một cách để cho ông bày tỏ lòng qúy mến với những nghệ sĩ ông từng có dip gần gũi. Ngoài ông hoàng nhạc pop Michael Jackson, tên tuổi được nhắc đến nhiều trên album này vẫn là Frank Sinatra, được mệnh danh The Voice (Giọng ca Vàng). Khi phóng tác giai điệu tiếng Pháp "Comme d'habitude" của Claude François thành nhạc phẩm tiếng Anh "My Way", Paul Anka đã tặng bài hát nổi tiếng nhất cho bậc đàn anh.
Bản thân Paul Anka cũng từng ghi âm nhiều lần sáng tác của mình, với giọng ca crooner của Sinatra chuyên hát nhạc trữ tình, cũng như với Julio Iglesias, ông hoàng dòng nhạc La Tinh. Trong mắt tác giả Paul Anka, nguồn cảm hứng cho cuộc sống và tình yêu trước sau vẫn là âm nhạc : một ngôn ngữ vô hình trong góc hồn thầm kín.
Sat, 18 Apr 2026 - 103 - Nhạc Nhật lời Việt : Takao Horiuchi, tình như giấc mộng
Với sự nghiệp kéo dài hơn bốn thập niên, Takao Horiuchi là một ca sĩ kiêm tác giả nổi tiếng nhờ những đóng góp cho nhạc pop và dòng nhạc enka (diễn ca) của Nhật Bản. Ông bắt đầu sự nghiệp solo vào giữa những năm 1970 và tính đến nay đã phát hành hơn 40 album đủ loại. Trong số những bài hát ăn khách của ông, có giai diệu "Sake yo" (Rượusầu) từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tình như giấc mộng".
Sinh trưởng tại thành phố Osaka, Nhật Bản, Takao Horiuchi lớn lên trong một gia đình khiêm tốn. Bố mẹ ông làm chủ quán ăn Yamaya ở quận Abeno, Osaka. Trong quán ăn gia đình, ông thường được nghe trên đài phát thanh những bản nhạc enka kinh điển và những giai điệu tân nhạc phổ biến.
Vào những năm 1960, khi còn là học sinh trung học, niềm đam mê âm nhạc của Takuo Horiuchi ngày càng sâu sắc hơn, ông tự học đàn ghi ta, trau dồi tài nghệ chơi đàn trong các buổi biểu diễn nghiệp dư. Giai đoạn này trùng khớp với sự trỗi dậy của phong trào tân nhạc Nhật Bản, đánh dấu sự kết hợp giữa các truyền thống nhạc dân gian và nhạc pop rock Tây Âu. Khi vào nghề sáng tác, ông lấy cảm hứng từ các nghệ sĩ Mỹ như Bob Dylan hay nhóm tam ca Peter, Paul & Mary.
Đầu những năm 1970, Takao Horiuchi cùng với Shinji Tanimura đồng sáng lập ban nhạc rock Nhật Bản tên là Alice. Nhóm này thành công nhanh chóng nhờ kết hợp điệu folk với nhạc pop rock. Những bài hát nói về tuổi trẻ, hoà quyện giai điệu nhè nhẹ với lời ca dễ nghe. Thành công nhanh chóng cũng tạo ra bất đồng trong nhóm. Ban nhạc Alice tan rã sau 4 năm hoạt động, ông Takao Horiuchi khởi nghiệp hát solo qua việc phát hành album đầu tay (Kotoba ni Naranai Okurimono) vào mùa thu năm 1975, đánh dấu một sự chuyển hướng từ phong cách folk rock ban đầu của nhóm sang những bản nhạc trữ tình sâu lắng, hướng nhiều về nội tâm, làm nổi bật chât giọng giàu cảm xúc của ca sĩ trẻ tuổi.
Takuo Horiuchi thực hiện bước đột phá vào năm 1977 với album thứ nhì, nhờ vậy củng cố vị thế của ông như một nghệ sĩ hàng đầu. Có thể nói là trong lớp tác giả chuyên kết hợp truyền thống nhạc trữ tình của Nhật Bản còn thường được gọi là "diễn ca" (enka) với ảnh hưởng Tây phương, Takuo Horiuchi là ngòi bút tài tình nhất, và có lẽ cũng vì thế ông được xem như là một trong những cánh chim đầu đàn của phong trào enka-pop, song song với đà phát triển của kayōkyoku (tiền thân của J-Pop).
Vào năm 1990, ông đã giành được Giải thưởng bản ghi âm xuất sắc nhất Nhật Bản lần thứ 32 cho bài hát "Koiuta Tsuzuri" làm nổi bật tầm ảnh hưởng cũng như những đóng góp của tác giả này trong việc hiện đại hoá thể loại enka. Hai năm sau, ông hợp tác với nữ ca sĩ Kei Eun-sook (gốc Hàn Quốc) trên đĩa hát song ca "Angels of the City".
Nổi tiếng trong làng nhạc phổ thông Nhật Bản nhờ chất giọng biểu cảm và tài nghệ sáng tác trong khá nhiều thể loại. Trong vòng hơn 40 năm sự nghiệp solo, Takao Horiuchi đã ghi âm gần 40 album và khoảng 70 đĩa đơn, nay được tập hợp lại trên bộ toàn tập "45th anniversary : All Single Collection".
Trong số các sáng tác của Takuo Horiuchi, có nhiều bản nhạc từng được chuyển sang lời Việt. Nhạc phẩm "Sake yo" theo cách đặt lời của tác giả Phạm Duy là "Tình như giấc mộng" (Ngọc Hương), lời thứ nhì "Quán nửa khuya" là của nhạc sĩ Lê Hựu Hà (Nguyễn Đức & Tú Linh). Lời thứ ba "Anh xa em rồi" là của tác giả Khúc Lan (Lưu Bích).
Giai điệu "Tokai no tenshi/tachi" (Angels of the City / Thiên thần đô thị) trở thành "Chớ nói lời biệt ly" của tác giả Huỳnh Nhật Tân qua phần ghi âm của Anh Tú và Ngoc Thúy). Nhạc phẩm "Koiuta tsuzuri" (Tình ca) được tác giả Quang Nhật đặt lời thành khúc ca "Tan vỡ", trong khi nhạc sĩ Phạm Duy phóng tác bài này thành nhạc phẩm "Cho cuộc tình tàn phai" (Don Hồ).
Dòng nước mắt chứa vô vàn kỷ niệm
Bình rượu sầu nhỏ từng giọt vào tim
Như giấc mơ tan theo bọt sóng vỡ
Muôn dư âm tìm giấc ngủ im lìm
Sat, 11 Apr 2026 - 102 - Nhạc phim lời Việt : Céline Dion & Alan Menken, những giai điệu hay nhất
Trong lãnh vực nhạc phim, tên tuổi của Alan Menken được gắn liền với các bộ phim hoạt hình nổi tiếng như Nàng tiên cá, Pocahontas hay Aladin và cây đèn thần… Nhờ sáng tác cho hãng phim Disney, mà Alan Menken đã nhận được nhiều giải thưởng lớn, bao gồm 8 giải Oscar, 7 Quả cầu vàng và 11 giải Grammy. Một trong những sáng tác hay nhất của ông vẫn là nhạc phẩm "Beauty and the Beast" (Giai nhân và Quái thú), nổi tiếng toàn cầu nhờ bản ghi âm của Céline Dion.
Sinh trưởng tại Manhattan, New York (năm 1949) Alan Irwin Menken xuất thân từ một gia đình khá giả, thân phụ là nha sĩ, còn thân mẫu là một vũ công kiêm diễn viên nhạc kịch. Từ thời còn nhỏ, ông đã có nhiều năng khiếu nghệ thuật, bắt đầu sáng tác bằng đàn piano và sau đó là đàn ghi ta. Vào năm chín tuổi, ông đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác dành cho thiếu niên tại bang New York, nhưng khi vào đại học, Alan lại chọn ngành y vì ông nghĩ rằng sau này, ông sẽ trở thành nha sĩ như bố mình. Cho đến khi, ông theo học khoá đào tạo sân khấu nhạc kịch BMI, dưới sự hướng dẫn của thầy Lehman Engel, thì lúc ấy ông chợt hiểu ra rằng, đây mới thực sự là điều ông hằng mong muốn.
Sau khi tốt nghiệp, Alan Meken nuôi mộng trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng trong ngành thu âm. Trong giai đoạn khởi nghiệp, ông làm đủ mọi công việc để kiếm sống : đệm đàn piano cho các vở múa ba lê, viết nhạc quảng cáo, luyện thanh cho các diễn viên tham gia các buổi casting hoặc phụ trách phần hoà âm, phối khí trong phòng thu âm. Mãi đến năm 1979, Alan Meken mới thành danh như một nhà soạn nhạc khi ông hợp tác với kịch tác gia Howard Ashman. Hai vở nhạc kịch mà cặp bài trùng này đã viết trong giai đoạn 1979 đến 1982, đã nhận được sự hưởng ứng từ giới phê bình lẫn công chúng.
Trên đà thành công này, hai tác giả Alan Menken và Howard Ashman được hãng phim Walt Disney Studios mời biên soạn nhạc cho bộ phim hoạt hình "The Little Mermaid" (Nàng tiên cá) vào năm 1989. Hai bản nhạc chính của bộ phim này là "Under the sea" (Đáy sâu đại dương) và "Part of your world" (Trần gian mộng mơ) đều gặt hái nhiều thành công trong mắt giới phê bình, lập kỷ lục về mặt doanh thu. Bộ phim này đã mang về cho nhóm sáng tác hai giải Oscar đầu tiên năm 1989 : Bài hát xuất sắc và Nhạc phim hay nhất.
Cặp bài trùng Alan Menken và Howard Ashman lặp lại thành tích này vài năm sau đó. Các bản nhạc viết cho bộ phim hoạt hình "Giai nhân và Quái thú" (Beauty and the Beast) lại đoạt hai giải Oscar dành cho ca khúc và nhạc phim hay nhất. Bài hát này sau đó được ghi âm với nhiều phiên bản khác nhau : Quan trọng nhất là bản song ca của Céline Dion và Peabo Bryson, rồi sau đó nữa là phiên bản của Ariana Grande với John Legend. Thành công này báo hiệu một kỷ nguyên mới được gọi là thời kỳ "phục hưng" Disney. Theo các nhà phê bình, giai đoạn này đã cho ra đời nhiều bản nhạc phim hay nhất, kể từ thời hoàng kim của hãng phim Disney (1937-1959).
Đang trên đỉnh cao danh vọng, Howard Ashman lại đột ngột qua đời vì bạo bệnh vào năm 1991 trong khi nhóm sáng tác đang làm việc trên bộ phim tiếp theo là "Aladdin và cây đèn thần" (1992). Vào thời ấy, Ashman chỉ mới viết xong ba bài hát cho bộ phim, cho nên Alan Menken mới nhờ đến sự hợp tác của tác giả Tim Rice. Tuy đang có kế hoạch làm việc với Elton John cho bộ phim Vua sư tử (The Lion King), nhưng Tim Rice vẫn nhận lời để viết phần còn lại của các bài hát cho bộ phim "Aladin". Bộ phim này cũng đã giành được giải Oscar năm 1993 cho bài hát hay nhất : giai điệu "A whole new world", từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm "Nhìn ra thế gian".
Sau ngày ra đi của Howard Ashman, Alan Menken soạn nhạc cho các bộ phim hoạt hình tiếp theo, bằng cách hợp tác với nhiều tác giả khác như trường hợp của Stephen Schwartz cho bộ phim Pocahontas (1995) hay David Zippel cho bộ phim Thần Hercules (1997). Thế hệ trẻ sau này khám phá lại các bản nhạc của Alan Menken qua các phiên bản điện ảnh quay với diễn viên thật. Céline Dion thu âm bài hát "How does a moment last forever" (tạm dịch là Khoảnh khắc thiên thu) cho phiên bản năm 2017, với sự tham gia của Emma Watson.
Theo báo The Hollywood Reporter, tuy năm nay đã hơn 75 tuổi, nhưng Alan Menken vẫn chưa giải nghệ. Là một trong những nhạc sĩ sáng giá nhất trong ngành, ông chẳng những có sức sáng tạo sung mãn dồi dào mà còn tiếp tục viết những bài hát hay, có chiều sâu và chất lượng. Có lẽ cũng vì thế, ông trở thành một trong 22 thành viên của "câu lạc bộ" khép kín EGOT, tức là người từng đoạt 4 giải thưởng quan trọng nhất của làng giải trí Hoa Kỳ là Emmy (truyền hình), Grammy (âm nhạc), Oscar (điện ảnh) và Tony (kịch nghệ).
Nổi tiếng nhờ soạn những giai điệu tràn đầy cảm xúc, tha thiết sâu lắng, lời hay ý đẹp nhờ khung nhạc với muôn vàn âm sắc, Alan Menken muốn gieo vào hồn người nghe những rung động sâu thẳm, thoáng nghe dịu dàng mà thấm vang réo rắt. Người xem đồng cảm với nhân vật trong phim, có thể nở nụ cười tươi, dù trái tim đang buồn héo hắt, để rồi cảm nhận khoảnh khắc vui sướng tột cùng đến nỗi phải rơi lệ !
Sat, 04 Apr 2026 - 101 - Nhạc ngoại lời Việt : Diana Ross & Westlife, khi anh nói lời yêu em
Có những bản nhạc ban đầu được viết cho một giọng hát duy nhất, nhưng sau đó lại càng ăn khách khi được ghi âm dưới dạng song ca. Đó là trường hợp của nhạc phẩm "When you tell me that You love Me"(Khi anh nói lời yêu em). Ban nhạc này trong tiếng Việt từng được ca sĩ Thu Phương trình bày với Huy MC.
Được phát hành vào mùa hè năm 1991, nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em), do hai nhạc sĩ Albert Hammond và John Bettis sáng tác cho thần tượng nhạc pop người Mỹ Diana Ross. Trong thời kỳ huy hoàng sự nghiệp, Diana Ross từng nổi tiếng nhờ những bản song ca kinh điển : trong số này có các nhạc phẩm như "My mistake was to love you" song ca với Marvin Gaye, "All of you" ghi âm với Julio Iglesias và nhất là "Endless Love" hát cùng với Lionel Richie.
Riêng nhạc phẩm"When you tell me that You love Me"(Khi anh nói lời yêu em) ban đầu được ghi âm như một bài đơn ca, trở thành một bài hát ăn khách trên thị trường quốc tế, trích từ album phòng thu thứ 19 của diva người Mỹ. Giai điệu này sau đó đã được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại thành một bài song ca, chẳng hạn như bản ghi âm của Julio Iglesias với Dolly Parton vào năm 1994, khi Albert Hammond sản xuất các album phòng thu tiếng Anh cho ông hoàng dòng nhạc tình La Tinh (1100 Bel Air Place và Crazy).
Để chinh phục thị trường châu Á, Julio sau đó ghi âm thêm một phiên bản thứ nhì vào năm 1998, với ca sĩ người Mỹ gốc Hồng Kông Coco Lee (Ly Van). Bản ghi âm này được phát hành trên đĩa đơn kèm theo video ca nhạc để quảng bá cho tuyển tập"My Life : The Greatest Hits"của Julio Iglesias, chủ yếu nhắm vào thị trường châu Á, trong khi bài song ca với Dolly Parton được dành riêng cho Canada và Hoa Kỳ.
Trên thị trường quốc tế, cho dù đây không phải là giai điệu thành công nhất về mặt doanh thu, nhưng trong mắt Diana Ross,"Khi anh nói lời yêu em"vẫn được xem là một trong những bài hát gắn liền với tên tuổi của mình. Vào năm 2005, tức hơn một thập niên sau ngày phát hành bản ghi âm đầu tiên, Diana Ross nhận lời mời song ca với ban nhạc người Ai Len Westlife.
Song ca hoặc đơn ca, "Khi anh nói lời yêu em" là một tình khúc nhạc pop trau chuốt bóng bẩy, giai điệu dễ nghe nên rất hợp với các chương trình phát thanh trên băng tầng FM. Bài hát bắt đầu như một bản ballad tinh tế dịu dàng, với tiếng đàn piano sâu lắng cho giọng hát thêm nhẹ nhàng. Khi đến đoạn giữa, bản phối trở nên hoành tráng hơn, hòa quyện bộ đàn dây giao hưởng với đàn ghi ta điện, đánh dấu sự chuyển đổi tông điệu dẫn vào phần điệp khúc đầy kịch tính cao trào, nhiều cảm xúc dạt dào.
"Thầm gọi muôn ánh sao trời, cho ngày thêm dài vô tận, dù mai đổi dời thế giới, yêu anh vẫn chi một lời. Ôm nhau thật chặt bóng đêm, bờ vai ướt đẫm thấm mềm, mưa rơi ngàn sao dập tắt, tình che lửa nến êm đềm, chỉ cần nói lời yêu em, hoang tàn phút chốc dịu êm".
Sat, 28 Mar 2026 - 100 - Nhạc Pháp lời Việt : Françoise Hardy, giai thoại nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày"
Cùng với Christophe và Adamo, Françoise Hardy có lẽ là giọng ca Pháp thành danh vào thập niên 1960, có khá nhiều bài hát được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ. Theo nhà phê bình Éric James, một trong những giai điệu hay nhất của cô chính là nhạc phẩm "Le premier bonheur du jour", từng được ghi âm trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Việt, bài này theo cái tài đặt lời của tác giả Phạm Duy trở thành nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày".
Nhưng điều công chúng ít được biết đến là tác giả của bài hát này chính là nhạc sĩ Jean Renard. Trước khi lập kỷ lục số bán nhờ sáng tác "La Maritza" (Dòng sông tuổi nhỏ) cho Sylvie Vartan, "Avant de nous dire adieu" (Trước khi từ giã nhau) cho Jeane Manson, hay "Laisse moi t'aimer" (Yêu trọn đêm này) cho Mike Brant, nhạc sĩ Jean Renard vào nghề sáng tác đầu những năm 1960, nhờ vào sự dìu dắt của nhà sản xuất Rolf Marbot, lúc bấy giờ điều hành nhà xuất bản Méridian.
Theo lời kể của chính tác giả, Jean Renard gặp Françoise Hardy qua lời giới thiệu của nhà xuất bản tại văn phòng của ông ở quận 8, Paris. Vào thời ấy, Françoise Hardy sắp đi lưu diễn cùng với nam danh ca Richard Anthony và cô cần thêm vài bài hát bổ sung cho chương trình biểu diễn của mình trên sân khấu.
Khi làm việc với nhau, Jean Renard mới đàn cho Françoise Hardy nghe nhiều bản sáng tác mới của ông. Nhưng dường như, không có bài hát nào làm cho cô vừa ý. Đột nhiên, ông sực nhớ lại một giai điệu rất ngắn : bài hát "Le premier bonheur du jour" (Niềm hạnh phúc đầu tiên trong ngày) mà ông từng viết với tác giả Franck Gérald, nguyên là anh rể của Pierre Delanoë, người chuyên viết nhạc cho nam danh ca Joe Dassin. Khi nghe xong bài hát, Françoise Hardy hoàn toàn im lặng, nhìn tác giả mà chẳng nói gi. Jean Renard tưởng rằng cô không thích bài hát, nhưng thực ra cô rất xúc động, không nói nên lời.
Nhe nhàng vương vấn, trầm mặc sâu lắng, giai điệu này sau đó được phát hành vào năm 1963, trên album thứ nhì của Françoise Hardy và được gắn liền với tên tuổi của thần tượng nhạc trẻ Pháp những năm 1960. Đối với Jean Renard, thành công của bài hát này cũng thực sự là một dip may, mở đường cho ông sáng tác sau này nhiều bài hát hay, nhất là khi trong giai đoạn khởi nghiệp, vẫn chưa có nhiều ca sĩ trẻ muốn hát những sáng tác của ông vào thời ấy.
Được phát hành vào cuối năm 1963, trong cùng một năm với nhạc phẩm "Le temps de l'amour" (Mùa tinh yêu), giai điệu "Le premier bonheur du jour" (Hạnh phúc đầu ngày) trở thành một trong những bài hát quen thuộc với giới hâm mộ cũng như bài "Những nụ tinh xanh" (Tous les garçons et les filles), "Nụ hồng mong manh" (Mon amie la rose) hay là "Ánh sáng mặt trời" (Soleil).
Không phải ngẫu nhiên, con trai của Françoise Hardy là Thomas Dutronc gần đây đã ghi âm lại bài này với Clara Luciani. Theo Thomas, nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày" vẫn là một trong những giai điệu yêu chuộng của mẹ anh, lúc sinh tiền. Một trong bản nhạc được cho là hay nhất của Françoise Hardy rốt cuộc lại là sáng tác cô đọng nhất trong bộ sưu tập của tác giả này, chỉ vỏn vẹn có một phút năm mươi giây. Nhưng hạnh phúc nào mà chẳng mong manh, tựa giọt sương mai đầu ngày, ngắn ngủi như cụm mây trời thoáng bay.
Sat, 21 Mar 2026 - 99 - Nhạc Nhật lời Việt : Akira Fuse và giai điệu Biển ru niềm nhớ
Trong số những bản tình ca Nhật Bản từng được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ, nhạc phẩm Fantasy của Akira Fuse thuộc vào hàng nổi tiếng nhất. Trong tiếng Việt, giai điệu này có đến bốn lời khác nhau. Trong đó, quen thuộc nhất với giới yêu nhạc vẫn là Mộng tình Đêm mưa và Biển ru Niềm nhớ.
Sinh trưởng ở Tokyo (1947), ca sĩ kiêm diễn viên Akira Fuse trở nên nổi tiếng nhờ những đóng góp quan trọng cho làng giải trí Nhật Bản kể từ giữa những năm 1960. Xuất thân từ một gia đình khiêm tốn nhưng có học thức, Akira Fuse sau đó không chọn ngành luật khoa hay sư phạm như những người anh trai, ông lại chọn con đường nghệ thuật biểu diễn sân khấu.
Từ thời còn nhỏ, Akira Fuse đã có nhiều năng khiếu ca hát. Ông nhanh chóng trở thành một trong những giọng ca tiêu biểu của thời kỳ Showa, âm nhạc Nhật Bản phát triển mạnh trong giai đoạn hậu chiến, hòa quyện các yếu tố của thể loại diễn ca (enka), các khúc nhạc dân gian truyền thống với những ảnh hưởng nhạc pop Tây phương. Sự kết hợp này khai sinh dòng nhạc phổ thông kayōkyoku, tiền thân của nhạc pop Nhật Bản sau này (J-Pop 1988).
Alira thành danh ngay từ khi mới vào nghề năm 1965 với bản ghi âm đầu tiên "Kimi ni Namida to Hohoemi o". Bài hát này đánh dấu bước khởi đầu của một sự nghiệp dài lâu. Với thời gian, ông được công nhận là một trong những giọng ca Nhật Bản hàng đầu.
Thời kỳ huy hoàng của Akira Fuse là vào giữa thập niên 1970 với bản nhạc "Cyclamen no Kaori" (Mùi hoa anh thảo) đứng đầu bảng xếp hạng thị trường Nhật (Oricon) và giúp ông giành được hạng nhất nhân kỳ trao Giải thưởng Thu âm Nhật Bản vào năm1975, củng cố vị trí của Akira Fuse như một nghệ sĩ trứ danh của thời kỳ Showa. Thành công này mở đường cho nhiều bản ghi âm ăn khách khác, trong đó có bài "Meguriai Tsumui de" (1978) từng được tác giả Phạm Duy phóng tác sang lời Việt thành nhạc phẩm "Rượu buồn ta uống cho ta" qua phần ghi âm của nam ca sĩ Nguyên Khang.
Trong hơn nửa thế kỷ sự nghiệp, Akira Fuse đã phát hành khoảng 40 album phòng thu và hơn 90 đĩa đơn. Ông có sở trường hát nhiều thể loại, dân ca Nhật Bản, soul, disco, jazz, pop, ballad và nhất là các bản nhạc phim. Song song với nghề ca hát, ông còn có tài diễn xuất, tham gia khoảng 40 bộ phim điện ảnh và truyền hình. Tên tuổi của Akira Fuse còn gắn liền với các bản phóng tác nhạc Pháp sang tiếng Nhật, bao gồm các bản nhạc nổi tiếng của Édith Piaf, Joe Dassin, Claude François hay Véronique Sanson…
Về mặt âm nhạc, các album phòng thu của Akira Fuse ngay từ giữa những năm 1970, thường pha trộn ảnh hưởng của các nhịp điệu Tây phương với chất nhạc trữ tình da diết của Nhật Bản, trước khi chuyển sang phong cách nhẹ nhàng sâu lắng, hướng nhiều hơn về nội tâm.
Về mặt diễn đạt, các chuyên gia trong ngành ghi âm từng xếp Akira Fuse vào danh sách 10 giọng ca hay nhất Nhật Bản. Nhờ chất giọng nam cao với vibrato trong sáng, mỗi lần rung giọng câu chữ mượt mà âm vang, luyến láy nhẹ nhàng, giàu cảm xúc lãng mạn.
Ngoài kỹ thuật hát điêu luyện, Akira Fuse còn được đánh giá cao nhờ tài diễn đạt, ông từng thử sức hát các giai điệu thính phòng, cổ điển. Khi lên sân khấu, Akira thực sự là một showman, với tất cả những yếu tố mà người hâm mộ yêu thích, từ vóc dáng điệu bộ đến cách ăn mặc, nụ cười rạng ngời cùng với chất giọng tuyệt vời.
Một trong những bài hát ăn khách của Akira Fuse là nhạc phẩm "Fantasy" (Ảo Tưởng), từng được chọn làm bài hát chủ đề của bộ phim truyền hình "Otosan Welcome Home" của đài TBS vào năm 1984.
Trong tiếng Việt, bài này có bốn lời phóng tác khác nhau. Lời đầu tiên là "Biển ru niềm nhớ" của tác giả Nhật Hạ (bản ghi âm của Ngọc Hương, Ái Vân). Lời thứ nhì là "Mộng tình" của tác giả Khúc Lan (do Ngọc Lan trình bày). Lời thứ ba là "Thương nhớ người yêu" của Trịnh Nam Sơn (phiên bản của Lynda Trang Đài). Bài này còn có một phiên bản thứ tư với tựa đề "Người là ai, ở đâu" qua phần ghi âm của Dương Triệu Vũ, gợi hứng từ phiên bản tiếng Quan Thoại là "Đêm mưa lãng mạn", nhiều hơn là bản gốc tiếng Nhật.
"Không muốn ngõ lời tạm biệt, dù trong tim ta vẫn biết, mai này chẳng còn gặp nhau, chuyện tình chưa đành hồi kết. Thôi chỉ cần nhắm mắt lại, rồi nhớ biết bao tháng ngày, dịu êm nhịp đập phút giây, tưởng chừng trọn cuộc đời này. Giờ chỉ còn lại cõi mộng, chân mây giấc ngủ bềnh bồng, ảo tưởng vòng tay hơi ấm, dù hồn chết giữa mùa đông…"
Sat, 14 Mar 2026 - 98 - Hélène Rollès : Khi ca sĩ Pháp trở thành ngôi sao tại Trung Quốc
Nhắc đến Hélène Rollès, giới yêu nhạc Pháp nghĩ tới ngay gương mặt nổi tiếng vào những năm 1990 nhờ hai loạt phim truyền hình nhiều tập « Premiers baisers » (Những nụ hôn đầu) và «Hélène et les Garçons » (Hélène và những anh bạn học). Thời gian gần đây, cô it còn xuất hiện trên truyền hình Pháp mà chủ yếu đi biểu diễn tại Trung Quốc, nơi giọng ca này vẫn được nhiều người mến mộ.
Công chúng không khỏi ngạc nhiên khi khám phá rằng hơn ba thập niên sau khi thành danh tại Pháp, Hélène Rollès tiếp tục gặt hái nhiều thành công ở Hoa Lục, nhờ một lượng fan đông đảo, trung thành với cô ca sĩ người Pháp từ những năm 1990, thời Hélène đóng phim truyền hình và chuyên ghi âm những ca khúc nói về lứa tuổi học trò.
Tên tuổi của Hélène Rollès gần đây lại có cơ hội toả sáng nhân dịp Tết Nguyên đán, khi cô được mời biểu diễn cùng với nhiều ngôi sao quốc tế hồi trung tuần tháng Hai tại Bắc Kinh. Trong chương trình nhạc hội Gala mừng Xuân hôm 16/02/2026 của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CMG), ban nhạc Westlife của Ai Len đã trình diễn nhạc phẩm nổi tiếng của nhóm là "My Love". Về phần mình, Hélène Rollès cùng với nam danh ca người Mỹ John Legend trình diễn ca khúc kinh điển "Beauty and the Beast" (Giai nhân và Quái thú), bài hát chủ đề của bộ phim hoạt hình cùng tên. Bản song ca gốc là của Céline Dion với Peabo Bryson. Phiên bản ghi âm thứ nhì là của Ariana Grande với John Legend. Còn phiên bản gần đây nhất được Hélène Rollès song ca trực tiếp với John Legend trên sân khấu trước hàng trăm triệu khán giả truyền hình và sau đó theo trang thông tin PureMedias đoan video này đã thu hút hơn 24 tỷ lượt xem trên các mạng xã hội.
Sinh trưởng tại thành phố Le Mans, Hélène Rollès (1966) vào nghề đóng phim truyền hình khá sớm và cô thành công trong thời gian đầu nhờ ghi âm những ca khúc chủ đề cho các bộ phim nhiều tập. Lần đầu tiên, Hélène Rollès đến Trung Quốc biểu diễn là vào mùa xuân năm 1990, cùng với Dorothée rất nổi tiếng ở Pháp với chương trình giải trí dành cho thiếu nhi Câu lạc bộ Dorothée (Club Dorothée). Trong giai đoạn này, Hélène chủ yếu thu âm những bài hát cho các bộ phim hoạt hình, ban đầu được chiếu thứ tư hàng tuần trên kênh hai, rồi sau do hầu như vào môi buổi chiều trên kênh một.
Vào cuối năm 1991, khi được chọn vào vai diễn Hélène Girard, trong loạt phim (Premiers Baisers) Những nu hôn dâu/ rồi sau đó là "Hélène và những anh bạn học (Hélène et les Garçons) cô đã nhanh chóng gặt hái được nhiều thành công. Trong giai đoạn cưc thinh từ năm 1992 đến năm 1996, loạt phim này thu hút 6,5 triệu người xem mỗi buổi tối. Trên đà thành công của bộ phim truyền hình, Hélène ghi âm nhiều bài hát ăn khách, trong đó có các bản nhạc phim nhiều tập.
Sự nghiệp của cô càng lên đỉnh cao vào mùa thu năm 1993 khi Hélène Rollès cho ra mắt album phòng thu thứ ba của mình với tựa đề "Je m'appelle Hélène", bán được gần một triệu bản trên thị trường Pháp, riêng ca khúc chủ đạo cùng tên lọt vào Top Ten trong vòng nhiều tháng liên tục và cho đến nay vẫn là ca khúc thành công nhất của Hélène.
Sau một thập niên thành công vang dội, sự nghiệp của Hélène Rollès bắt đầu có dấu hiệu lu mờ vào đầu những năm 2000. Cô dần dần xa lánh làng giải trí tai Pháp, lập gia đình và nhận hai đứa con nuôi. Cô giữ cho mình một đời sống riêng tư kín đáo, nhưng vẫn duy trì quan hệ với công đồng người hâm mộ qua việc tham gia các show truyền hình hay các đợt lưu diễn ở nước ngoài. Chính cũng vì cô có một lượng người hâm mô đông đảo ở Trung Quốc, cho nên Hélène từng ghi âm lại một số ca khúc tiếng Quan thoại , chủ yếu cho thị trường Hoa Lục, trong đó có nhạc phẩm "The Moon represents My Heart", tựa tiếng Việt là "Ánh trăng lẻ loi".
Cũng như nam ca sĩ Christophe Rippert thành danh nhờ phim truyền hình, Hélène Garçons tính đến nay đa cho ra mắt 10 album phòng thu, trong đó, những ca khúc ăn khách nhất là những bản ghi âm vào thập niên 1990 từng được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ. Chẳng hạn như giai diệu "Je m'appelle Hélène" được ca sĩ Kỳ Duyên chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Người tôi yêu", còn bài hát "Amour Secret" hiểu theo nghĩa Tình yêu thầm kín lại được tác giả Khúc Lan đặt thêm lời thành nhạc phẩm "Thoáng dấu yêu".
Gió về cho buốt giá, nhạt nhoà mùa thu xa, cho nắng quên chan hoà, tình đến rồi vội qua.
Về đâu dấu yêu xưa, cho hồn buồn một thoáng, đời mãi sầu nhẹ đưa, kiếp người hoài gió mưa .....
Sat, 07 Mar 2026
Podcasts ähnlich wie Tạp chí âm nhạc
Closing Bell CNBC
CNBC's "Fast Money" CNBC
Power Lunch CNBC
El Partidazo de COPE COPE
Herrera en COPE COPE
A traves de la Biblia Emisora Nuevo Continente
Es la Mañana de Federico esRadio
La noche de Cuesta esRadio
Hondelatte Raconte Europe 1
Affaires sensibles France Inter
LEGEND Guillaume Pley
Truyện ngắn Nghe Kể
El colegio invisible OndaCero
La Rosa de los Vientos OndaCero
Les grands dossiers de l'Histoire par Franck Ferrand Radio Classique
Espacio en blanco Radio Nacional
Entrez dans l'Histoire RTL
Les Grosses Têtes RTL
L'Heure Du Crime RTL
A Través de la Biblia RTM Estados Unidos
El Larguero SER Podcast
SER Historia SER Podcast
Un Libro Una Hora SER Podcast
Sách Nói Chất Lượng Cao Voiz FM
Andere Musik Podcasts
Manu sur NRJ : Le best-of NRJ France
Dj Shinski New Mixes Dj Shinski
Tomorrowland Friendship Mix Tomorrowland - One World Radio
Stop ou encore RTL
RTL2 : Pop-Rock Station by Zégut RTL2
Hardcore Mixtapes DJ Sacrifice
La tribune des critiques de disques France Musique
La collection Georges Lang RTL
Johnny Hallyday de A à Z - Les Podcasts Eric Gallot
Very Good Trip France Inter
RFM Party Mix avec Yann Muller RFM
Fun Radio Anthology Fun Radio
Kafa Radyo Podcast Kafa Radyo
Le Wake-up mix Mouv
Le SuperShow NRJ NRJ France
RTL archives secrètes, Céline Dion RTL
Irish & Celtic Music Podcast Marc Gunn
RAGGA by JOY Erick Acuña
Desert Island Discs BBC Radio 4
DJ RICKS KENYA DJ RICKS KENYA

